Viettel Bàn Giao Nhiều Công Trình Theo Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Tại Khu Vực Tây Nguyên
  • Hội Nghị Trực Tuyến Sơ Kết 6 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Hội Nghị Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05 Ngày 30/6/2016 Của Hđnd Tỉnh Về Bảo Tồn, Phát Huy Văn Hóa Cồng Chiêng Tỉnh Đắk Lắk
  • Hđnd Tỉnh Phú Yên Họp Bất Thường Bàn Về Nghị Quyết Thông Qua Các Dự Án Đầu Tư Công
  • Sáng 21-12, tại xã Tam Chung (huyện Mường Lát, Thanh Hóa), Tập đoàn Công nghiệp- Viễn thông Quân đội tổ chức Lễ trao tặng thiết bị giáo dục cho 3 trường học trên địa bàn huyện Mường Lát. Công trình này là một trong những hạng mục do Viettel hỗ trợ trong khuôn khổ chương trình xóa nghèo bền vững theo Nghị quyết 30A của Chính phủ.

    Tại buổi lễ, 3 phòng máy tính và 6 máy chiếu (có tổng mức đầu tư gần 700 triệu đồng), đã được bàn giao cho các Trường THCS Bán trú Tam Chung; Trường THCS xã Pù Nhi và Trường THCS xã Nhi Sơn (cũng là 3 điểm trường bị thiệt hại nặng nề nhất trong đợt mưa lũ cuối tháng 8, đầu tháng 9 vừa qua).

    Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội bàn giao 3 phòng máy tính và trang thiết bị cho các điểm trường ở huyện Bá Thước, Thanh Hóa

    Trước đó, từ ngày 28-8-2018 đến ngày 4-9-2018 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra mưa lớn trên diện rộng gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đặc biệt, huyện Mường Lát là nơi bị thiệt hại nặng nề nhất với 5 người chết và 2 người mất tích, 123 ngôi nhà bị sập,

    541 ngôi nhà phải di dời, 13 điểm trường bị ảnh hưởng, giao thông cô lập trong một thời gian dài. Với việc bàn giao đưa vào sử dụng các phòng máy tính và máy chiếu sẽ giúp các điểm trường nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai, khôi phục công tác dạy và học.

    Các vị đại biểu tham quan phòng máy tính mới do Viettel trao tặng trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ các huyện nghèo theo NQ 30A của Chính phủ

    Được biết, vào ngày 24-12 tới, một công trình an sinh quan trọng khác sẽ được Viettel trao tặng cho bà con xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước (Thanh Hóa).

    Khởi công từ tháng 9-2017, trạm xá xã Kỳ Tân có tổng mức đầu tư gần 3,9 tỷ đồng, được xây dựng kiên cố với 2 tầng, 13 phòng (trong đó có 5 phòng lưu trú bệnh nhân) và đầy đủ các phòng chức năng quan trọng, được trang bị thiết bị hiện đại phục vụ khám chữa bệnh tuyến đầu. Tổng diện tích xây dựng công trình là gần 500 mét vuông.

    Xã Kỳ Tân – nơi xây dựng trạm xá -là một trong những xã nghèo của huyện Bá Thước. Khi được đưa vào sử dụng, công trình sẽ làm thay đổi đáng kể điều kiện dân sinh trong vùng, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho 5000 người dân xã Kỳ Tân và các xã lân cận.

    Trước đó, cũng trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ huyện nghèo theo Nghị quyết 30a giai đoạn năm 2022-2018, ngày 2-12-2018, Tập đoàn Viettel đã tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng công trình trạm y tế xã Mò Ó (huyện Đăkrông, Quảng Trị).

    Thầy và trò trường THCS Bán trú Tam Chung (Mường Lát, Thanh Hóa)

    hào hứng trải nghiệm phòng máy mới

    Với tổng kinh phí 3,5 tỷ đồng, trạm y tế Mò Ó được xây kiên cố với 2 tầng và 13 phòng chức năng, có thể đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cơ bản của 5 thôn thuộc xã Mò Ó và 2 thôn lân cận.

    Đồng chí Lê Ngọc Vinh, Phó Chủ nhiệm Chính trị Tập đoàn Công nghiệp- Viễn thông Quân đội (Viettel) khẳng định, giáo dục và y tế là 2 lĩnh vực trọng điểm mà Viettel đầu tư trong chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ.

    Với quan điểm “hỗ trợ người dân cần câu, không hỗ trợ con cá”, Viettel sẽ cùng với chính quyền địa phương tìm hiểu nhu cầu thực sự của người dân để hỗ trợ một cách thiết thực, đảm bảo thoát nghèo nhanh và bền vững.

    Việc trao tặng trang thiết bị giáo dục cho huyện Mường Lát và trạm y tế cho huyện Bá Thước (Thanh Hóa), Đăkrông (Quảng Trị) dịp này là dựa trên đề xuất của chính quyền địa phương và khảo sát thực tế nhu cầu của người dân nơi đây. Do đó, các công trình khi đưa vào sử dụng sẽ nhanh chóng phát huy hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực cho bà con các huyện nghèo”.

    Tập đoàn Công nghiệp- Viễn thông Quân đội Viettel là một trong những đơn vị đầu tiên tham gia Chương trình hỗ trợ 30A của Chính phủ từ năm 2009, trực tiếp hỗ trợ 3 huyện: Mường Lát, Bá Thước (Thanh Hóa) và Đắkrông (Quảng Trị). Tính đến nay, tổng mức kinh phí Viettel hỗ trợ cho 3 huyện đã lên tới hơn 200 tỷ đồng. Trong đó, huyện Bá Thước (65 tỷ đồng), Mường Lát (gần 60 tỷ đồng), Đắkrông (hơn 76 tỷ đồng).

    Để đạt hiệu quả giảm nghèo cao nhất, Viettel cũng đưa những chương trình an sinh xã hội lớn khác của Tập đoàn vào các huyện này như Internet trường học, Trái tim cho em, Vì em hiếu học, bò giống giúp người nghèo biên giới,….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gõ Cửa Ngày Mới: Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trên Địa Bàn Tỉnh Brvt
  • Nghị Quyết 30/2017 Của Hdnd Tỉnh Bình Thuận Về Quy Định Mức Chi Chế Độ Công Tác Phí
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 30
  • Gia Lai Tập Trung Hoàn Thành Các Chỉ Tiêu Kt
  • Nghị Quyết 30/2018 Của Bộ Chính Trị
  • Nghị Quyết 55 Của Bộ Chính Trị Và Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Trang Điện Tử Thị Ủy Hương Trà
  • Ban Hành Kế Hoạch Hành Động Của Bộ Xây Dựng Thực Hiện Nghị Quyết Số 54
  • Nâng Cao Chất Lượng Dòng Vốn Fdi Vào Việt Nam
  • Những Chuyển Biến Tích Cực Trong Việc Thực Hiện Nghị Quyết Số 25
  • Nghị Quyết 22 Của Bộ Chính Trị: Nền Móng Cho Nền Ngoại Giao Toàn Diện, Sâu Sắc
  • Đề nghị Ban KTTW, Bộ Công Thương nghiên cứu phản biện Tạp chí Năng lượng Việt Nam

    Nghị quyết số 55 – NQ/TW ngày 11/2/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Ngành năng lượng phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước kết hợp với sản xuất, nhập khẩu năng lượng hợp lý; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại”.

    Theo đó, Chương trình hành động của Chính phủ xác định mục đích, yêu cầu: Tổ chức nghiên cứu, quán triệt sâu rộng và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 55 - NQ/TW, tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động của lãnh đạo các ngành, các cấp, người sử dụng lao động, người lao động. Đặc biệt là nâng cao tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu trong ngành năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng. Xác định toàn diện các nhiệm vụ chủ yếu, cụ thể, khả thi, phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành để Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 55 - NQ/TW.

    Căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, người đứng đầu các cơ quan hành chính nhà nước có trách nhiệm chủ động tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp một cách đồng bộ, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm với lộ trình phù hợp và quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả.

    Nghị quyết nêu rõ phấn đấu đạt các mục tiêu cụ thể gồm:

    Đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng trong nước, phục vụ cho các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2022-2030, trong đó năng lượng sơ cấp đến năm 2030 đạt khoảng 175-195 triệu tấn dầu quy đổi (TOE), đến năm 2045 đạt khoảng 320-350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện đến năm 2030 đạt khoảng 125-130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550-600 tỷ kWh.

    Tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20 % vào năng 2030; 25-30% vào năm 2045.

    Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đến năm 2030 đạt mức 105-115 triệu TOE, năm 2045 đạt mức 160-190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp năm 2030 đạt từ 420-460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375-410 kgOE/1.000 USD GDP.

    Xây dựng hệ thống điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối an toàn với lưới điện khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiệu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng. Đến năm 2030, độ tin cậy cung cấp điện năng thuộc top 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc top 3 nước dẫn đầu ASEAN.

    Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; đảm bảo mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) khoảng 8 tỷ m3 vào năm 2030 và khoảng 15 tỷ m3 vào năm 2045. 

    Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 7% vào năm 2030 và khoảng 14% vào năm 2045.

    Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15% vào năm 2030, lên mức 20% vào năm 2045.

    Tầm nhìn đến năm 2045:

    1/ Đảm bảo vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

    2/ Hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

    3/ Các phân ngành năng lượng phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

    4/ Hệ thống hạ tầng năng lượng phát triển đồng bộ, hiện đại, khả năng kết nối khu vực và quốc tế được nâng cao.

    5/ Chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học – công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ tiên tiến của một nước công nghiệp phát triển hiện đại.

    Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 2/10/2020./.

    BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tổng Kết 8 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 49
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 21
  • Điều Động 25000 Công An Chính Quy Xuống Làm Công An Xã
  • Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Số 22 Của Bộ Chính Trị Về Tiếp Tục Đổi Mới, Sắp Xếp Tổ Chức Bộ Máy Bộ Công An
  • Nghệ An Cần Nỗ Lực Phấn Đấu Trở Thành Một Trong Những Tỉnh Đi Đầu Cả Nước
  • Huyện Đam Rông: Nhìn Lại 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Về Chương Trình Hỗ Trợ Giảm Nghèo Nhanh Và Bền Vững

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 30A Đồng Lực Để Mường Ảng Thoát Nghèo
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 14
  • Bình Thuận: Chuyển Biến Tích Cực Trong Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát
  • Nghị Quyết Về Chương Trình Giám Sát Năm 2022
  • Làm Tại Xã Không Khó Khăn Thuộc Huyện Nghèo Có Được Ưu Đãi?
  • Trước khi huyện có Nghị quyết 30a, điều kiện kinh tế – xã hội của huyện hết sức khó khăn: cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 73,19%, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 2,6 triệu đồng/người/năm, trình độ dân trí và trình độ canh tác lạc hậu; trong khi đó đội ngũ cán bộ về đảm nhận công tác được tập hợp từ nhiều nguồn, vừa thiếu, vừa chưa am hiểu hết tình hình thực tế tại địa phương, điều kiện làm việc và ăn ở hết sức khó khăn.

    Từ khi thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, gắn với thực hiện nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo cả nước. Nhờ đó, tình hình kinh tế – xã hội và diện mạo vùng đồng bào dân tộc huyện Đam Rông có sự thay đổi và phát triển đáng kể. Hàng năm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần theo hướng tích cực, kết cấu hạ tầng (điện – đường – trường – trạm) được đầu tư tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả khả quan (tỷ lệ hộ nghèo chung toàn huyện đến nay giảm còn 27,47%,trong đó tỷ lệ hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số giảm còn 89,79%); đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện rõ ( tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90,06%, tỷ lệ hộ dùng điện đạt 98%, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế toàn dân đạt trên 96%…). Giáo dục và đào tạo ngày một phát triển, cơ sở trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang đáp ứng nhu cầu dạy và học tập cho con em các dân tộc trên địa bàn; bản sắc văn hóa của các dân tộc được giữ gìn và phát huy. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân luôn được quan tâm chăm lo; đoàn kết giữa các tôn giáo và dân tộc được củng cố; hệ thống chính trị được chăm lo xây dựng; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững…

    Với những hiệu quả thiết thực, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiệu quả đó đã được hiện hữu bằng sự thay đổi từng ngày diện mạo vùng nông thôn miền núi nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đam Rông nói riêng.

    Theo đánh giá của huyện Đam Rông, qua 10 năm ( 2008 – 2022) triển khai thực hiện Chương trình theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, công tác giảm nghèo của địa phương đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, mặc dù điều kiện xuất phát điểm thấp và gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng Đảng bộ, Chính quyền, các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện Đam Rông đã quyết tâm nỗ lực, phấn đấu không ngừng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, và gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng.

    Theo đó, sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân 24,67%/năm), đã từng bước có sự gắn kết giữa khâu thu hoạch và bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị nông sản, từng bước tạo chuỗi liên kết trong sản xuất. Công tác giảm nghèo đạt được kết quả khả quan, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đói, nhà ở tạm bợ; hầu hết các chỉ tiêu đều đạt trên 80% so với Đề án được phê duyệt, triển khai đồng bộ, kịp thời các chính sách hỗ trợ đến đối tượng hưởng thụ. Việc tổ chức phân bổ, lồng ghép các nguồn vốn được kịp thời, theo hướng linh hoạt ưu tiên các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ trực tiếp đến người dân, đặc biệt là các đối tượng hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS góp phần tăng thu nhập của các hộ nông dân ngày càng được cải thiện, nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh theo đúng mục tiêu đề ra. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi cơ bản chuyển dịch đúng hướng, từng bước đi vào khai thác lợi thế từng vùng, từng địa phương; việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được quan tâm thực hiện. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Kết quả giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thủy chiếm 48,76%; công nghiệp – xây dựng chiếm 13,56%; thương mại – dịch vụ chiếm 37,68%.

    Hệ thống giao thông các tuyến đường huyết mạch cơ bản đã được hoàn chỉnh và bê tông hóa, 8/8 xã có đường nhựa đến trung tâm xã, mở mới trên 50 km đường liên thôn, liên xã, nâng cấp trên 40 km đường giao thông nông thôn và xây 04 cây cầu dài hơn 03 km đảm bảo giao thông đi lại cả 02 mùa mưa và nắng; hệ thống thủy lợi được duy trì và mở rộng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, trong đó có một số công trình nổi bật như: hồ chứa nước Đạ Chao, hồ chứa nước Đạ Nòng, hồ thủy lợi Phi Liêng, đập dâng nước Đạ Ral. Đồng thời, kiên cố hóa 25km kênh mương nội đồng nâng tổng số công trình thủy lợi của huyện lên 80 công trình với diện tích tưới đạt khoảng 2.025ha; hệ thống điện lưới quốc gia được xây dựng lắp đặt với 33 km đường dây 500KV, 112 km đường dây 22 KV, 158 km đường dây hạ thế, 01 trạm biến áp trung gian và 118 trạm biến áp phân phối, đảm bảo cung cấp đủ điện để phục vụ sản xuất và đời sống cho 98% số hộ dân.

    Hệ thống mạng lưới trường lớp ở các cấp học, bậc học phát triển đồng bộ và từng bước kiên cố hoá đáp ứng nhu cầu dạy và học (năm học 2022-2018, toàn huyện có 37 trường với 501 phòng học) đặc biệt trên địa bàn huyện đã có trường Dân tộc nội trú, trường Dạy nghề và Trung tâm giáo dục thường xuyên được xây dựng đáp ứng nhu cầu dạy và học; cơ sở vật chất ngành Y tế được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp đến nay trên địa bàn huyện đã có 01 Trung tâm Y tế, 08 Trạm Y tế xã, 02 phòng khám khu vực (trong đó 6/8 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% trạm y tế có bác sỹ và nữ hộ sinh, có nhân viên y tế thôn bản) đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân); 8/8 xã có Nhà văn hóa, bưu điện xã được xây dựng khang trang…

    Điểm nổi bật là trong giai đoạn 2009-2018, là thời gian trọng tâm huyện Đam Rông thực hiện đột phá, tăng tốc nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ của Chính phủ với các nội dung được triển khai đồng bộ và quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm đã giúp cho hộ nghèo, cận nghèo nhất là người đồng bào DTTS có thêm tư liệu về sản xuất và thông qua nguồn vốn được bố trí để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo là 578.692 triệu đồng (Trong đó, nguồn vốn xây dựng cơ bản: 333.863 triệu đồng, giải ngân đạt 97%; nguồn vốn sự nghiệp: 90.073 triệu đồng, giải ngân đạt 96; các Tập đoàn, doanh nghiệp hỗ trợ là 154.756 triệu đồng, giải ngân đạt 98%).

    Mô hình trồng cà phê đem lại kinh tế cao góp phần giảm nghèo bền vững ở Đam Rông ( Lâm Đồng)

    Thông qua các nguồn vốn này, huyện đã triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ giảm nghèo như: Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm thông qua việc giao đất trồng rừng và giao khoán quản lý bảo vệ rừng (bình quân mỗi hộ nhận giao khoán quản lý bảo vệ từ 10 – 14 ha và nhận từ 0,8 – 1,2 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng). Trong đó, trồng rừng được 3.658,45 ha/2.635 hộ (đã khai thác được 446,92 ha/391 hộ); Giao khoán QLBVR được 38.555,28 ha/2.640 hộ; Khai hoang 60ha/65 hộ/500 triệu đồng, phục hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp 250 ha/539 hộ/700 triệu đồng, góp phân duy trì độ che phủ của rừng đạt 63,9%, đặc biệt đãnâng cao được tư duy, nhận thức của người dân trong sản xuất, trong làm ăn phát triển kinh tế hộ gia đình vươn lên thoát nghèo bền vững.

    Đồng thời, tổ chức nhân rộng 108 mô hình giảm nghèo, với kinh phí 1.313,9 triệu đồng (2 mô hình cánh đồng lúa mẫu tại xã Đạ M’Rông, 2 mô hình trồng nấm mèo, 30 mô hình trồng bưởi da xanh, 47 mô hình trồng dâu nuôi tằm, 27 mô hình nuôi dê bách thảo) cho 321 hộ, các mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao và hiện đang được nhân rộng để người dân học tập và ứng dụng rộng rãi. Hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với kinh phí là 67.670 triệu đồng cho 41.349 lượt hộ nghèo, cận nghèo, hộ thoát nghèo nhằm tạo điều kiện, nguồn lực tốt để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo bền vững. Phần lớn hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất như giống cây trồng, vật nuôi, chuồng trại, phân bón, thuốc trừ sâu,…

    Từ các chương trình đầu tư hỗ trợ sản xuất, công tác khuyến nông, khuyến lâm, đến nay nhiều hộ đã biết áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào chăm sóc cây trồng vật nuôi; một số mô hình đã được thực hiện có hiệu quả (năng suất lúa tăng từ 35 tạ /ha lên 45,5 tạ/ha; ngô từ 36 tạ/ha lên 50 tạ/ha; mô hình nuôi gà (chu kỳ 03 tháng) cho thu nhập 8 triệu đồng – 10 triệu đồng/mô hình) bước đầu tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định kinh tế hộ gia đình.

    Ngoài ra, từ nguồn vốn hỗ trợ 30a, huyện cũng đã bố trí xây dựng 38 công trình cơ sở, vật chất trường học, góp phần tạo môi trường học tập tốt cho học sinh. Tổ chức đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn được 78 lớp/2.382 học viên/2.244 triệu đồng, tập trung vào một số ngành nghề truyền thống của địa phương như: đan móc len, trồng rừng, trồng và chăm sóc cà phê,…Bên cạnh đó, tổ chức 62 lớp đào tạo bồi dưỡng chuyên môn về tin học, tiếng dân tộc, khen thưởng, tôn giáo,…cho 4.868 lượt cán bộ, công chức với kinh phí 1.902 triệu đồng. Đồg thời hỗ trợ xuất khẩu lao động cho 187 lao động chủ yếu đi làm việc ở thị trường Malayxia, ả rập… Có thể nói, nhờ có chương trình giảm nghèo 30a, phần lớn hộ nghèo đã được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất như hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, chuồng trại, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; người dân đã biết làm chuồng trại, biết trồng cỏ, dự trữ thức ăn cho gia súc, gia cầm. Việc giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng bước đầu tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập. Bên cạnh đó, hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS đã chuyển biến rõ rệt trong nhận thức như: biết cách làm ăn, chi tiêu tiết kiệm, biết áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; xóa dần tư tưởng trông chờ ỷ lại, phấn đấu vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.

    Với nỗ lực đó, nhìn lại 10 năm thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, Chương trình giảm nghèo ở Đam Rông đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh theo đúng mục tiêu đề ra, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2022 còn 27,47% (hộ nghèo ĐBDTTS còn 3.141 hộ, tỷ lệ 89,79%); hộ cận nghèo 2.860 hộ, tỷ lệ 22,46% (giảm 7,74% so với cùng kỳ). Tỷ lệ hộ nghèo từ năm 2022 đến đầu năm 2022, bình quân mỗi năm giảm 3,21%.

    Bên cạnh những kết quả đạt được công tác giảm nghèo của Đam Rông vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế như: Việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế – xã hội với Chương trình giảm nghèo ở huyện còn hạn chế về cơ chế chính sách chưa hiệu quả. Hiện người nghèo đang được hưởng thụ nhiều chính sách hỗ trợ, đặc biệt là các chính sách hỗ trực tiếp (chính sách BHTY, chính sách hỗ trợ giáo dục,…), dẫn đến vẫn còn mang nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, chưa thực sự cố gắng vươn lên để thoát nghèo nên công tác rà soát, bình xét hộ nghèo hằng năm ở cở sở xã gặp nhiều khó khăn.

    Kết quả giảm nghèo vẫn chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra, còn có tình trạng bỏ hoang đất, chưa chú trọng chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trong chăn nuôi khiến cho tỷ lệ rủi ro cao. Đa số hộ nghèo không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, hoặc nắm bắt khoa học kỹ thuật còn chậm; một số đồng bào dân tộc thiểu số còn lưu giữ và làm việc theo các phong tục tập quán lạc hậu, trình độ canh tác còn hạn chế, chưa biết vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất…Nguồn lực để thực hiện các mục tiêu thuộc Chương trình giảm nghèo còn hạn chế và việc huy động nguồn lực xã hội hoá đầu tư cho công tác giảm nghèo chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương.

    Hoàng Cảnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Của Hđnd Tỉnh Đắk Lắk
  • Hđnd Tỉnh Phú Yên Họp Bất Thường Bàn Về Nghị Quyết Thông Qua Các Dự Án Đầu Tư Công
  • Hội Nghị Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05 Ngày 30/6/2016 Của Hđnd Tỉnh Về Bảo Tồn, Phát Huy Văn Hóa Cồng Chiêng Tỉnh Đắk Lắk
  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Hội Nghị Trực Tuyến Sơ Kết 6 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết 19

    --- Bài mới hơn ---

  • Bhxh Việt Nam: Thực Hiện Nghị Quyết 19
  • Thực Hiện Nghị Quyết 19 Của Chính Phủ: Đột Phá Tư Duy, Chủ Động Kết Nối
  • Lấy Ý Kiến Hoàn Thiện Dự Thảo Báo Cáo Kết Quả Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết 19 Của Chính Phủ
  • Chính Phủ Ra Nghị Quyết Không Bổ Nhiệm Những Người Có Quan Hệ Gia Đình Cùng Làm Việc
  • Những Vấn Đề Đặt Ra Trong Nghị Quyết 68 Của Chính Phủ
  • Chương trình xác định các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để các bộ, ngành, cơ quan và địa phương xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, sử dụng đất đai, huy động tốt nhất nguồn lực to lớn từ đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường; khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện về đất đai.

    Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về đất đai

    Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Chương trình là tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và hành động trong triển khai Nghị quyết, đẩy mạnh công tác giáo dục, phổ biến chính sách, pháp luật về đất đai.

    Cụ thể, triển khai quán triệt, tuyên truyền một cách có hiệu quả, thiết thực, rộng rãi trong toàn xã hội về các nội dung và tinh thần Nghị quyết 19-NQ/TW nhằm nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống, tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong việc triển khai thực hiện.

    Bên cạnh đó, tham mưu cho các cấp ủy đảng cùng cấp trong việc ban hành và triển khai các nghị quyết, chỉ thị về chủ trương, kế hoạch và biện pháp cụ thể nhằm tạo chuyển biến về tư tưởng và hành động, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng.

    Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về đất đai cho cộng đồng, đặc biệt là đối với đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai

    Nhiệm vụ khác của Chương trình là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai. Trong đó, nâng cao chất lượng, tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; tăng cường áp dụng các biện pháp kinh tế, hạn chế việc áp dụng các biện pháp hành chính, đảm bảo các quan hệ đất đai vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

    Bên cạnh đó, tổ chức thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng theo đúng quy định của pháp luật. Tập trung chỉ đạo xây dựng khu tái định cư bảo đảm chất lượng trước khi thu hồi đất; thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người có đất thu hồi (bao gồm đối tượng là người bị thu hồi đất nông nghiệp, đất sản xuất kinh doanh và người sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ tại đô thị).

    Đẩy mạnh thực hiện việc “dồn điền đổi thửa”, triển khai quy hoạch nông thôn mới, khuyến khích nông dân góp vốn, cho thuê quyền sử dụng đất để tập trung đất đai tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo mô hình tập trung; kiểm soát chặt chẽ việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư.

    Xử lý nghiêm các trường hợp không đăng ký quyền sử dụng đất

    Cũng theo Chương trình, cần tăng cường quản lý và phát triển thị trường bất động sản. Cụ thể, hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tạo điều kiện để đất đai tham gia vào thị trường bất động sản.

    Kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp không đăng ký quyền sử dụng đất, kể cả trường hợp không đăng ký biến động về quyền sử dụng đất; nghiên cứu, triển khai các giải pháp cụ thể nhằm khuyến khích việc thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng đối với các giao dịch bất động sản.

    Triển khai thực hiện chiến lược phát triển nhà ở quốc gia, đặc biệt là phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho các đối tượng chính sách xã hội. Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển thị trường bất động sản; xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở tại các địa phương để đảm bảo sử dụng có hiệu quả quỹ đất cho phát triển nhà ở.

    Hoàng Diên

    Nguồn baodientu.chinhphu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Của Chính Phủ Về “quy Hoạch Sử Dụng Đất Đến Năm 2022 Và Kế Hoạch Sử Dụng Đất 5 Năm (2011
  • Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đến Năm 2022 Của Tỉnh Quảng Trị
  • Bộ Gtvt Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 35/nq
  • Kế Hoạch Hành Động Của Các Tỉnh Thực Hiện Nghị Quyết 01 Và 02 Của Chính Phủ
  • Giám Sát Việc Thực Hiện Chi Trả Cho Người Bị Ảnh Hưởng Theo Nghị Quyết 42/nđ
  • Tọa Đàm Về Công Tác An Sinh Xã Hội Và Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ:tọa Đàm Về Công Tác An Sinh Xã Hội Và Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Qua 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 32 Của Chính Phủ
  • Thực Hiện Nghị Quyết 32/cp Của Chính Phủ
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 01/nq
  • Chính Phủ Sẽ Ban Hành Nghị Quyết Về 6 Vấn Đề Môi Trường Cấp Bách
  • Chính Phủ Đồng Ý Nhiều Đề Xuất Về Cao Tốc Tuyến Bắc
  • Ngày 3/5/2013, tại Hà Nội, Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương đã tổ chức buổi Tọa đàm về công tác an sinh xã hội và thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ. Đồng chí Nguyễn Văn Ngọc – Phó Bí thư Đảng ủy Khối và đồng chí Vũ Đức Kiển – Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Dân vận Đảng ủy Khối chủ trì buổi Tọa đàm.

    Quang cảnh buổi tọa đàm

    Đến dự có đại diện lãnh đạo các ban, đơn vị của Đảng ủy Khối và các đồng chí trực tiếp chỉ đạo và thực hiện công tác an sinh xã hội, Nghị quyết 30a của Chính phủ ở các Tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trực thuộc Khối.

    Trong thời gian qua, thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về triển khai các chương trình an sinh xã hội, hàng loạt các hoạt động ý nghĩa của các Tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối đang được triển khai trên khắp cả nước như: chương trình hỗ trợ 62 huyện nghèo; giúp đỡ đồng bào dân tộc miền núi trong diện đặc biệt khó khăn; sẻ chia với các địa phương chịu thiệt hại do thiên tai; chung tay với những học sinh nghèo bước vào năm học mới… với tổng giá trị thực hiện Nghị quyết 30a trong năm 2012 là 385,437 tỷ đồng.

    Tại buổi Tọa đàm, các đại biểu đã tham gia góp ý và nêu lên những mặt còn tồn tại trong việc thực hiện công tác an sinh xã hội, Nghị quyết 30a của Chính phủ. Nhiều ý kiến cho rằng: Mặc dù đạt kết quả như trên song việc triển khai thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn 62 huyện nghèo của các Tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng vẫn còn một số khó khăn, tồn tại như: tỷ lệ nghèo một số huyện còn cao; sự phối hợp giữa các đơn vị với các huyện về hướng dẫn của các cấp, ngành chưa thống nhất, chưa đồng bộ nên việc triển khai thực hiện còn lúng túng, chậm tiến độ; lực lượng xây dựng đề án chưa có thời gian nghiên cứu sâu, chưa nắm đầy đủ nội dung để xây dựng và triển khai tốt kế hoạch do đó trong quá trình thực hiện đã phải điều chỉnh nhiều lần. Nguồn vốn bổ sung, hỗ trợ có mục tiêu theo Nghị quyết 30a của Trung ương hàng năm còn thấp, chưa đảm bảo nhu cầu đầu tư của địa phương, khó khăn cho các Tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối về việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các huyện nghèo. Do xuất phát điểm nền kinh tế thấp, trình độ văn hóa, mặt bằng dân trí thấp, một số tập tục lạc hậu, tính trông chờ ỷ lại, thiếu ý chí phấn đấu làm giàu còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân gây khó khăn trong việc tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống, đa phần là người dân tộc thiểu số chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ… đã ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả của Chương trình trong thời gian qua.

    Phát biểu chỉ đạo tại buổi Tọa đàm, đồng chí Nguyễn Văn Ngọc – Phó Bí thư Đảng ủy Khối nhấn mạnh: Nhằm giúp các địa phương trên cả nước thực hiện tốt hơn Nghị quyết 30a trong thời gian tới, Tập đoàn, tổng công ty, ngân hàng trong Khối cần có cơ chế bố trí vốn hợp lý và bố trí nguồn vốn sự nghiệp sớm ngay từ đầu năm để các địa phương chủ động triển khai các chương trình, dự án theo đúng kế hoạch, lộ trình. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến công tác tuyên truyền nhằm chuyển biến về nhận thức, tư tưởng trong nhân dân, xoá bỏ dần tư tưởng không muốn thoát nghèo, thói quen sinh hoạt, canh tác lạc hậu đồng thời phát huy khả năng sáng tạo, ý chí nỗ lực tự vươn lên, hướng dẫn giúp hộ nghèo cách làm ăn, tiêu dùng tiết kiệm, biết tích luỹ để tái đầu tư. Thực hiện tốt việc rà soát, quản lý hộ nghèo, đánh giá đúng nguyên nhân để có cơ sở hỗ trợ đầu tư giúp họ nhanh chóng thoát nghèo bền vững. Mặt khác, đẩy mạnh công tác tạo công ăn việc làm và lựa chọn một số ngành nghề phù hợp đặc biệt là những ngành phát huy được thế mạnh của địa phương. Lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn vốn khác, ưu tiên đầu tư các công trình có yêu cầu cấp thiết, công trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh, đầu tư dứt điểm từng công trình, tránh đầu tư dàn trải.

    Đảng ủy Khối sẽ tiếp thu các ý kiến đóng góp của các đơn vị nhằm thực hiện công tác an sinh xã hội, Nghị quyết 30a của Chính phủ, thiết thực với các địa phương. Những ý kiến này sẽ được tổng hợp và bổ sung vào báo cáo tổng kết đánh giá kết quả triển khai thực hiện công tác an sinh xã hội, Nghị quyết 30a của Chính phủ trong 5 năm qua và rút kinh nghiệm triển khai thực hiện trong giai đoạn tiếp theo.

    Lan Hương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Kiềm Chế Lạm Phát, Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội
  • Ấm Lòng Người Lao Động Từ Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết Về Gói An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ
  • Chính Phủ Chính Thức Ban Hành Nghị Quyết Về Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết Về Gói An Sinh Xã Hội 62.000 Tỷ Đồng
  • Trang Thông Tin Chương Trình 135

    --- Bài mới hơn ---

  • Chương Trình 135 Giai Đoạn Iii: Cơ Hội Đẩy Nhanh Tốc Độ Phát Triển Kinh Tế
  • Nhìn Lại Thực Hiện Dự Án 2 – Chương Trình 135 Thuộc Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Tỉnh Thái Nguyên
  • 2 Lý Do Tại Sao Bãi Bỏ Quyết Định 50_2006_Qđ
  • Tân Thành Xã Điểm Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu
  • Hỗ Trợ Nông Hộ Chăn Nuôi: Nhiều Khó Khăn, Vướng Mắc
  • Việt Nam chăm lo quyền lợi của các dân tộc thiểu số

    Phiên họp lần thứ năm về vấn đề người thiểu số của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã diễn ra trong hai ngày 27 và 28/11 tại Geneva (Thụy Sĩ) với sự tham gia của các đại biểu từ nhiều quốc gia trên thế giới cùng đại diện các tổ…

    Hơn 148 tỷ đồng đầu tư cho các huyện nghèo

    Ngày 14.11, Đoàn kiểm của Trung ương gồm đại diện Bộ Quốc phòng, Kế hoạch & đầu tư, LĐ-TB&XH, Giao thông vận tải, do Đại tá Lương Văn Mạnh – Phó cục trưởng Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng) làm Trưởng đoàn đã có…

    Hội nghị đánh giá thực hiện Chương trình 135; Dự án Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã, thôn đặc biệt khó khăn và Quyết định 102/2009/QĐ- TTg

    Sáng 7/11, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị trực tuyến toàn tỉnh đánh giá thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, nguồn vốn 2011; Dự án Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã, thôn đặc biệt khó khăn năm 2012 và…

    Tiếp tục đầu tư thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2012-2015

    Ngày 29 tháng 10 năm 2012, Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội đã có văn bản số 258/UBTVQH13-TCNS do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký gửi Chính phủ về việc “mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian thực hiện và…

    Nguy cơ tái nghèo và sự thiếu hụt chính sách cho hộ cận nghèo vùng đồng bào dân tộc và miền núi

    Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội, năm 2011 cả nước ta còn trên 1,5 triệu hộ cận nghèo, trong đó tập trung chính ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Theo cách xác…

    Nghị quyết 30a góp phần thay đổi diện mạo vùng Tây Bắc

    Việc triển khai Nghị quyết 30a/CP của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trên cả nước, đã góp phần đẩy nhanh việc xóa đói giảm nghèo cho vùng…

    27.509 tỷ đồng để giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015

    Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phấn đấu đến hết năm 2022, 10% số huyện nghèo và 50% số xã…

    Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử gặp mặt, chúc Tết cán bộ, công chức, viên chức nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn 2012

    Nhân dịp ngày làm việc đầu tiên xuân Nhâm Thìn 2012, sáng ngày 30/01/2012, tại Ủy ban Dân tộc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Giàng Seo Phử đã có buổi gặp mặt, chúc Tết cán bộ, công chức, viên chức toàn cơ quan. Dự buổi…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Bố Quyết Định Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Cử Chức Danh Phó Chủ Tịch Ubnd Huyện
  • Danh Sách Các Xã Đặc Biệt Khó Khăn Theo Quyết Định 900/qđ
  • Thủ Tục Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Xử Lý Hành Vi Tảo Hôn
  • Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Hành Vi Tảo Hôn, Tổ Chức Tảo Hôn
  • Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 26
  • Thái Nguyên: Thay Đổi Toàn Diện Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 26
  • Đề Cương Giới Thiệu Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 26
  • Đảng Ủy Tqn Triển Khai Đồng Bộ, Sáng Tạo Nghị Quyết Số 26
  • Hành Trình Đưa Nghị Quyết Về “tam Nông” Đi Vào Cuộc Sống
  • Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên là nội dung quan trọng tại Nghị quyết số 132/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

    Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

    Nghị quyết yêu cầu thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

    Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.

    Mục tiêu Nghị quyết đề ra là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

    Một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu đó là kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền, bao gồm: Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; Thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ảnh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”; Đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.

    Kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền

    Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kế hoạch số 10-KH/TW ngày 06-6 năm 2022 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

    Mục tiêu đề ra là tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW và Kế hoạch số 10-KH/TW, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động các cấp, các ngành và toàn thể xã hội trong việc đổi mới công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

    Đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; xác định các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 26-NQ/TW và những việc cần phải làm ngay theo Kế hoạch số 10-KH/TW.

    Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình là đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền; hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; xây dựng Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường công tác quản lý cán bộ; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền…

    Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình rà soát đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý để xác định các đối tượng trong từng đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đáp ứng được các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, phù hợp về độ tuổi, tỉ lệ nữ và dân tộc thiểu số, có tính đến kế thừa và chuyển tiếp trong từng giai đoạn cụ thể.

    Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên, đồng thời chú trọng tạo lập môi trường làm việc dân chủ, cạnh tranh, bình đẳng, tạo mọi điều kiện để phát huy trí tuệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

    Đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau tạo sự liên thông trong công tác cán bộ; xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, đặc biệt là của người đứng đầu trong việc tiến cử người có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình; hoàn thiện cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

    Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”… trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Học Tập, Quán Triệt Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii
  • Mục Tiêu, Giải Pháp Của Ngành Công Thương Nghệ An Trong Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 26
  • Thông Báo Của Bộ Chính Trị Về Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 26
  • Đoàn Kiểm Tra Của Bộ Chính Trị Kiểm Tra Việc Thực Hiện Nghị Quyết 26/nq
  • Thành Ủy Buôn Ma Thuột:sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 27
  • Hiệu Quả Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điện Biên Đông Giảm Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Sơn La: Thực Hiện Hiệu Quả Chính Sách Giảm Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Bác Ái: Qua 3 Năm Thực Hiện Chương Trình Giảm Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Thủ Tướng Chủ Trì Hội Nghị Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30
  • Nghị Quyết 30/2018 Của Bộ Chính Trị
  • Nghị quyết 30a được triển khai ở huyện Đakrông được đánh giá là ” Cơ hội vàng” giúp địa phương có những bước phát triển trên con đường xóa đói giảm nghèo. Sau 10 năm( 2009-2018) thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ, công tác giảm nghèo ở huyện Đakrông đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều công trình phúc lợi được xây dựng, hệ thống trường học, đường sá ngày càng được hoàn thiện, khang trang hơn, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã có thay đổi tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên.

    Xác định tầm quan trọng của Nghị quyết nên từ những ngày đầu thực hiện, huyện Đakrông đã huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tập trung lãnh, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện. Các xã trong huyện nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của nghị quyết nên đã quyết liệt triển khai các giải pháp để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương mình, từ đó, cân đối các nguồn lực đầu tư của Nhà nước; đồng thời tổ chức lồng ghép, phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình dự án, chính sách trên địa bàn. Sau 10 năm (2009-2018) thực hiện, Nghị quyết 30a đã thực sự đi vào cuộc sống, từng bước đưa Đakrông thoát nghèo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng từ 17-18% qua các năm ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2022 đạt 20,9 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 5-6%/năm.

    Từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo theo Nghị quyết 30a,hiện nay huyện Đakrông 100% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã; 100% xã dùng điện lưới quốc gia; trên 85% số hộ gia đình được dùng nước sạch và nước hợp vệ sinh; 14/14 số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, bưu chính viễn thông, các di tích lịch sữ và các kết cấu hạ tầng khác được tăng cường đáng kể góp phần quan trọng nâng cao năng lực phát triển kinh tế- xã hội của huyện nhà. Sự nghiệp giáo dục- đào tạo đạt được những kết quả đáng trân trọng , quy mô giáo dục được phát triển qua từng năm, đảm bảo số lượng và chất lượng. chương trình giạy và học từng bước được đổi mới . Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, chống mù chữ được duy trì bền vững. 14/14 xã, thị trấn đạt chuẫn quốc gia về phổ cập giáo dục , mặt bằng dân trí được nâng cao. Hệ thống đường liên thôn, các công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi góp phần phát triển kinh tế, cải tạo môi trường sinh thái.Viêc đầu tư cơ sở hạ tầng đã từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ổn định, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo…

    Có thể khẳng định, sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn huyện Đakrông đã tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc trong huyện. Những chính sách hỗ trợ của Nghị quyết 30a đã và đang mang lại sự no ấm, hạnh phúc cho những hộ nghèo. Với những gì mà Nghị quyết 30a/CP và các dự án, chương trình giảm nghèo đã và đang được triển khai, nhân dân các dân tộc ở huyện miền núi Đakrông đã nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình và chủ động trong việc tiếp nhận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, an sinh xã hội tại địa phương./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Đầu Tư Hỗ Trợ Giảm Nghèo
  • Nghị Quyết 30A: Nguồn Lực Thúc Đẩy Kinh Tế
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết 30A Giai Đoạn 2010
  • Phê Duyệt Danh Sách Huyện Nghèo Và Huyện Thoát Nghèo Giai Đoạn 2022
  • Viettel Đầu Tư Hơn 200 Tỷ Đồng Cho 3 Huyện Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Nhìn Lại 8 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiến Độ Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Thành Phố Cần Thơ Tổ Chức Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Cchc Năm 2011 Và Triển Khai Nghị Quyết 30C/nq
  • Nghị Quyết Số 30/2016/qh14 Về Thực Hiện Thí Điểm Cấp Thị Thực Điện Tử Cho Người Nước Ngoài Nhập Cảnh Việt Nam
  • Nghị Quyết 28/2016/qh14 Sửa Đổi Về Miễn, Giảm Thuế Sử Dụng Đất Nông Nghiệp
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Chất Vấn Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3 Quốc Hội
  • Thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (gọi tắt là Nghị quyết 30a), Bắc Kạn có 2 huyện được thụ hưởng Chương trình. Sau 8 năm thực hiện, bộ mặt nông thôn các địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực.

    Hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một trong những đóng góp tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo ở huyện nghèo 30a những năm qua. (ảnh: Cán bộ tri thức trẻ huyện Ba Bể hướng dẫn người dân chăm sóc cây ăn quả).

    Tăng cường công tác chỉ đạo

    Nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 30a, tỉnh Bắc Kạn đã tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt các quan điểm, nội dung Nghị quyết đến lãnh đạo các sở, ban, ngành và Thường trực Huyện ủy, UBND hai huyện Ba Bể, Pác Nặm; ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ trên địa bàn tỉnh; ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, với 21 người là đại diện các sở, ban, ngành tham gia; thành lập hai tổ công tác liên ngành giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết tại huyện Ba Bể và Pác Nặm với 14 thành viên.

    Từ năm 2022, Bắc Kạn đã hợp nhất Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30a và Ban Chỉ đạo Chương trình giảm nghèo thành Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Bắc Kạn. Tỉnh đã tổ chức hội thảo nghiệm thu đề án, ban hành quyết định phê duyệt Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững của huyện Ba Bể và Pác Nặm giai đoạn từ năm 2009 đến 2022; bố trí tăng cường cán bộ thực hiện Nghị quyết 30a; tăng cường đội ngũ cán bộ và đội ngũ tri thức trẻ giúp các xã tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết và khuyến khích, thu hút tri thức trẻ, cán bộ chuyên môn kỹ thuật về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc hai huyện nghèo; trong đó, Ba Bể 60 người, Pác Nặm 40 người. Song song với đó, tỉnh đã chú trọng phân bổ kinh phí hàng năm cho các địa phương kịp thời, sau khi được giao vốn, các huyện được thụ hưởng đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện.

    Kết quả thực hiện ở huyện nghèo 30a

    Có thể nói, các chính sách đầu tư của Đảng và Nhà nước đã đến được với người dân. Người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đã được tiếp cận với các dịch vụ xã hội y tế, giáo dục, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, điều kiện sống, thông tin… Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các huyện nghèo (Chương trình 30a), xã nghèo (Chương trình 135), Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới cùng với việc huy động, lồng ghép có hiệu quả nguồn lực của các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, các dự án ODA, FDI, các nguồn vốn hỗ trợ của các doanh nghiệp, tập đoàn đã đem lại bộ mặt mới cho nông thôn miền núi.

    Từ năm 2009 đến năm 2022, riêng đầu tư cho giáo dục, Tập đoàn Bảo Việt đã hỗ trợ huyện Pác Nặm 18 công trình (ảnh: Phân trường vùng cao Lủng Mít, xã Bằng Thành (Pác Nặm) được đầu tư, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp giáo dục cho con em địa phương)

    Nguồn vốn Tập đoàn Bảo Việt hỗ trợ huyện Pác Nặm từ năm 2009 đến năm 2022 với số kinh phí 49,77 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư 25 công trình: Xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp 7 trạm y tế; xây dựng 18 công trình giáo dục (xây trường lớp học, làm nhà ở, bếp ăn, mua sắm bàn ghế, giường cho học sinh bán trú); hỗ trợ 410 hộ gia đình làm nhà theo Quyết định 167. Nguồn vốn Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam hỗ trợ huyện Ba Bể từ năm 2009 đến năm 2022 số tiền 66,765 tỷ đồng, đầu tư 43 công trình trạm y tế xã, trường lớp học…

    Các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, trợ giúp pháp lý được thực hiện đúng quy định. Mua và cấp 582.034 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn hai huyện nghèo; hỗ trợ cho trên 140.000 trẻ được thụ hưởng chính sách hỗ trợ về giáo dục; hơn 1.000 nhà ở cho hộ nghèo; hỗ trợ khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất, trồng rừng phòng hộ với diện tích 54.824ha, hỗ trợ cho 587 hộ, với 82,145 tấn gạo; hỗ trợ 1.904 hộ khai hoang, phục hóa, tạo ruộng bậc thang với diện tích 228.61ha; hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng; 11.781 hộ mua giống vật nuôi; tổ chức hàng trăm lớp đào tạo nghề…

    Giai đoạn 2009 – 2010, mỗi năm huyện nghèo giảm bình quân 5,21%, đạt so với mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2011 – 2022, mỗi năm bình quân giảm 5,85% tỷ lệ hộ nghèo, đạt mục tiêu đề ra. Góp phần nâng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2022 (theo giá cố định năm 1994) đạt 13,5%/năm và tăng 6,4% (theo giá so sánh năm 2010). Thu nhập bình quân đầu người so với đầu giai đoạn tăng 1,75 lần.

    Những khó khăn cần tháo gỡ

    Có thể nói, Nghị quyết 30a đã giúp kinh tế – xã hội huyện nghèo có những chuyển biến rõ rệt. huyện nghèo, xã nghèo và người nghèo tại vùng đặc biệt khó khăn được ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên do nội dung hỗ trợ rộng, nhu cầu nguồn vốn để thực hiện các hạng mục lớn vốn đầu tư được giao thấp, Bắc Kạn cần được tăng mức đầu tư hàng năm cho các huyện nghèo 30a, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư phát triển. Hiện nay, trên địa bàn các huyện, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn nhất là các công trình đường giao thông nông thôn trong nội bộ các xã, thôn và các công trình thuỷ lợi…

    Bên cạnh đó, việc giao vốn hàng năm để thực hiện các hạng mục còn chậm, đầu tư còn dàn trải; trình độ, ý thức của người lao động chưa cao, nên việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất hiệu quả chưa được như mong muốn; hoạt động chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm còn khó khăn, khó tiếp cận thị trường; văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, dẫn đến việc triển khai ở địa phương gặp khó khăn; cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên cho các doanh nghiệp khai thác tiềm năng đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ ở các huyện nghèo; sử dụng lực lượng lao động tại chỗ, giải quyết việc làm cho con em người dân tộc thiểu số; việc phân bổ vốn hàng năm các thủ tục mất nhiều thời gian, làm chậm tính chủ động của địa phương. Theo Thông tư số 15/2017/TT BTC ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Bộ Tài chính, các nội dung và định mức chi hỗ trợ phát triển sản xuất các địa phương xây dựng thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, vì vậy các địa phương đang lúng túng và khó khăn trong việc tổ chức thực hiện./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả Thực Hiện Chương Trình Phát Triển Nông Nghiệp Công Nghệ Cao Và Chương Trình Cho Vay Theo Nghị Quyết Số 30/nq
  • Trao Đổi Triển Khai Nghị Quyết Số 30/nq
  • Làm Tại Xã Không Khó Khăn Thuộc Huyện Nghèo Có Được Ưu Đãi?
  • Nghị Quyết Về Chương Trình Giám Sát Năm 2022
  • Bình Thuận: Chuyển Biến Tích Cực Trong Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát
  • Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết Số 50

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 51
  • Thành Ủy Nam Định Họp Ban Chấp Hành Đảng Bộ Mở Rộng
  • Biểu Mẫu Nghị Quyết Đại Hội Đồng Cổ Đông – Công Ty Luật Nvcs – Tư Vấn Doanh Nghiệp – Sở Hữu Trí Tuệ – Thuế – Kế Toán
  • Tài Liệu Sinh Hoạt Chi Bộ Tháng 6
  • Tài Liệu Sinh Hoạt Chi Bộ Tháng 06
  • Ngày 27/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 58/NQ-CP Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

    Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 (Gọi tắt là Nghị quyết 50-NQ/TW khóa XII) về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả, hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, với mục tiêu tổng quát là “Hoàn thiện thể chế, chính sách hợp tác đầu tư nước ngoài có tính cạnh tranh cao, hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khắc phục căn bản những hạn chế, bất cập đang tồn tại trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách về hợp tác đầu tư nước ngoài. Tạo lập môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh thuộc nhóm ASEAN 4 trước năm 2022, thuộc nhóm ASEAN 3 trước năm 2030”.

    Nhằm đạt được mục tiêu Nghị quyết số 50-NQ/TW đề ra, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ: Ðổi mới, nâng cao nhận thức, tư duy và thống nhất trong hành động về đầu tư nước ngoài; tăng cường ổn định chính trị – xã hội và kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; hoàn thiện thể chế, chính sách chung về đầu tư nước ngoài; hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút đầu tư; hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo hộ và đề cao trách nhiệm và hợp tác của nhà đầu tư; hoàn thiện thể chế chính sách quản lý, giám sát đầu tư; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài.

    Các bộ, ngành thường xuyên cập nhật, tổng hợp số liệu phân tích đánh giá tình hình công tác quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo chuyên ngành; tăng cường rà soát, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật chuyên ngành do bộ, ngành mình quản lý nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư nước ngoài và kịp thời đề xuất điều chỉnh chính sách.

    Người đứng đầu các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bám sát tình hình thực tế, chủ động theo dõi, đánh giá để có biện pháp xử lý linh hoạt, kịp thời hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền những giải pháp chỉ đạo, điều hành bảo đảm kịp thời, hiệu quả. Định kỳ hàng năm (trước ngày 31/3) báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kết quả thực hiện để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/6.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếp Tục Xây Dựng Khu Vực Phòng Thủ Tỉnh, Thành Phố Vững Chắc Trong Tình Hình Mới
  • Kết Quả 5 Năm Triển Khai Nghị Quyết Số 37
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Xây Dựng Và Phát Triển Thành Phố Hải Phòng Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045
  • Phát Biểu Của Đồng Chí Lê Văn Thành Ủy Viên Tw Đảng, Bí Thư Thành Ủy, Chủ Tịch Hđnd Thành Phố Về Nội Dung Quán Triệt Nghị Quyết 45
  • Thực Hiện Nghị Quyết 32 Của Bộ Chính Trị “Vươn Lên Một Dáng Hải Phòng…”
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100