Top 9 # Xem Nhiều Nhất Chủ Thể Ra Quyết Định Hành Chính Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Chủ Thể Quyết Định Hành Chính

Quyết định hành chính là việc lựa chọn của chủ thể Quyết định về một hoạt động một số phương án để thực hiện công việc cụ thể trong điều kiện hoàn cảnh nhất định.

Quyết định hành chính nhà nước vừa được coi là phương tiện quản lý hành chính nhà nước, vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Số lượng và chất lượng của quyết định quản lý hành chính nhà nước sẽ phản ánh chất lượng hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước cần nắm vững nguyên lý chung về quyết định quản lý hành chính . Để đảm bảo tính nhất quán, và để nhấn mạnh quản lý hành chính nhà nước là một bộ phận không tách rời của chủ thể quản lý nhà nước, dùng quyết định làm phương tiện cơ bản để thực hiện chức năng quản lý hành chính, thì nên quan niệm về quyết định hành chính nhà nước như sau:

+ Quyết định hành chính nhà nước là kết quả hoạt động của chủ thể hành chính nhà nước được thể hiện dưới một hình thức nhất định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước.

+ Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước không thể làm quyết định theo ý chí, mong muốn chủ quan của mình. Bởi các tổ chức hành chính và các chủ nhân được coi là chủ thể khi họ được quyền (sử dụng quyền nhà nước), mà quyền lực nhà nước mang tính phục vụ lợi ích chung, các chủ thể chỉ là đại diện cho nhà nước, vì lợi ích của nhà nước.

+ Quyết định do chủ thể quản lý hành chính nhà nước ban hành hướng tới mục tiêu không chỉ của tổ chức hành chính mà còn hướng tới mục tiêu chung của quốc gia.

+ Môi trường để các nhà hành chính ban hành quyết định khác với các tổ chức khác, bao gồm nhiều yếu tố tác động như ảnh hưởng của cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp, cá nhân công dân, đảng phái, tổ chức chính trị, xã hội cũng như các nhóm lợi ích trong xã hội. Quyết định được ban hành trên cơ sở luật do cơ quan lập phấp ban hành và nhằm thực thi luật (phụ thuộc vào nội dung của luật, theo thẩm quyền của chủ thể được quy định trong luật, quyết định của cơ quan hành chính cấp trên). Ngoài ra, việc ban hành quyết định của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước còn phải tính đến lợi ích của các nhóm lợi ích trong xã hội.

+ Quy trình thủ tục ban hành quyết định quản lý hành chính không tự do như các tổ chức khác mà chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về thủ tục.

+ quyết định quản lý hành chính nhà nước được ban hành nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý hành chính nhà nước (hoạt động thực thi quyền hành pháp): quản lý hành chính nhà nước là sự tác động điều chỉnh các hành vi và quá trình xã hội, khi xuất hiện vấn đề cần điều chỉnh, các chủ thể ban hành quyết định. Như vậy, hệ quả của việc ban hành quyết định sẽ là: làm phát sinh, thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính trong lĩnh vực cần điều chỉnh.

Chủ thể quản lý hành chính bao gồm: Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức được Nhà nước trao quyền, cá nhân tổ chức được ủy quyền. Các chủ thể này, tham gia quản lý hành chính thì đều có quyền ra các quyết định hành chính phù hợp với thẩm quyền của mình

+ Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung: Được thành lập theo Hiến pháp, kết hợp giữa tập thể lãnh đạo với quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu; quản lý tổng hợp; người đứng đầu do được bầu hoặc kết hợp giữa tập thể lãnh đạo với quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu; quản lý tổng hợp; người đứng đầu do được bầu hoặc kết hợp giữa bầu và phê chuẩn; ký thay mặt trên một số văn bản quản lý hành chính nhà nước.

Cán bộ công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay ở địa phương, ở trong nước hay ở ngoài nước đã được sắp xếp vào ngạch hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp. Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:

+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

+ Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên viện Kiểm sát nhân dân;

+ Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, phó bí thư Đảng ủy; Ngươi đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội, phường thị trấn

+ Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã.

Ra Quyết Định Thi Hành Án Chủ Động Hay Theo Yêu Cầu?

Theo quy định tại Điều 36 Luật THADS, Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành đối với các phần bản án, quyết định sau: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu huỷ vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước (bao gồm: khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước và các khoản bồi thường cho Nhà nước trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; các khoản thu khác nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước (khoản 3 Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP) ; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản).

Theo khoản 1 Điều 36 Luật THADS, ngoài những trường hợp ra quyết định thi hành án chủ động thì tất cả các khoản còn lại trong các bản án, quyết định đều thuộc diện phải có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự thì cơ quan thi hành án mới ra quyết định thi hành án.

Trường hợp truy nộp, truy thu thuế: Bản án số 911/2016/HSST ngày 22/5/2016 của TAND huyện X tuyên: Ông T phải truy nộp số tiền 60.000.000đ, giao cho Ủy ban nhân dân (UBND) xã A quản lý.

Quan điểm thứ nhất cho rằng: căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Luật THADS Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án đối với các phần bản án, quyết định về “Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án”. Đây là khoản tiền truy nộp, do đó cơ quan THADS sẽ chủ động ra quyết định thi hành án.

Quan điểm thứ hai cho rằng: Bản án đã tuyên khoản truy nộp này sẽ “giao cho UBND xã A quản lý” như vậy, người được thi hành án ở đây được xác định là ” UBND xã A”.

Mặt khác, khi ra quyết định thi hành án chủ động, cơ quan THADS sẽ gặp khó khăn khi tiến hành xử lý khoản tiền thu được, bởi vì theo Thông tư số 91/2010-BTC của Bộ Tài chính thì khoản truy nộp sẽ được ghi vào biên lai thu tiền nộp ngân sách nhà nước và các khoản tiền thu được sẽ được cơ quan THADS tiến hành nhập ngân sách nhà nước, trong khi đó theo quyết định của bản án thì khoản tiền truy nộp này lại được “giao cho UBND xã A quản lý”.

Do đó, trường hợp này cơ quan THADS cần ra quyết định thi hành án theo yêu cầu, từ đó mới có căn cứ để chi trả số tiền này cho UBND xã A, sau đó UBND xã sẽ tiến hành xử lý số tiền trên theo quy định. Trên thực tế các cơ quan THADS cũng gặp những trường hợp Tòa án tuyên tương tự như trường hợp trên.

Do còn có nhiều quan điểm chưa thống nhất trong việc lựa chọn quyết định thi hành án chủ động hay theo đơn yêu cầu đối với các trường hợp như trên nên việc thi hành án còn gặp nhiều khó khăn. Đề nghị cần tiếp tục có hướng dẫn cụ thể hơn về vấn đề này.

Thẩm Quyền Ra Quyết Định Cưỡng Chế Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Của Chủ Tịch Ubnd Cấp Xã

13/08/2020

Nguyễn Thị Nhàn

Hiện nay, nhằm răn đe và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, hệ thống pháp luật Việt Nam cụ thể hóa bằng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt b

1. Luật sư tư vấn về xử lý vi phạm hành chính.

Theo quy định của luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành có năm hình thức xử phạt bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính); Trục xuất. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm của hành vi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyết định áp dụng và trong đó ghi nhận hình thức xử phat và bên cạnh đó sẽ có trường hợp ghi nhận hình thức phạt bổ sung theo quy định pháp luật. Nếu bạn đang gặp khó khăn và cần sự tư vấn từ đội ngũ luật sư, đừng ngần ngại hãy liên hệ với chúng tôi qua hotline 1900.6169 để được hỗ trợ các vấn đề pháp lý như:

– Tư vấn thời hiệu ra quyết định xử lý vi phạm hành; thời hạn, thời hiệu thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.

– Tư vấn về thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm hành chính.

– Giải đáp thắc mắc về căn cứ để xác định thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

– Tư vấn về chi phí tiến hành cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính.

2. Trường hợp ra quyết định cưỡng chế xử lý vi phạm hành chính của Chủ tich Ủy ban nhân dân xã.

Câu hỏi: Luật sư cho hỏi về thẩm quyền ra quyết định hành chính của chủ tịch UBND xã như sau: Tôi là cán bộ địa chính phường X. Hiện nay tại địa phương tôi có trường hợp như sau: Năm 2009, tỉnh thực hiện Dự án khu dân cư, đã phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/500 và tiến hành kiểm đếm và lập dự thảo phương án bồi thường. Nhưng năm 2010 đến nay những hộ dân đã xây dựng nhà ở và lều quán trên đất và gây mất trật đô thị trên đấy nông nghiệp.

Năm 2011, phường đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo Nghị định 105, sử dụng đất sai mục đích với số tiền 350.000 đ, biện pháp khắc phục: buộc tháo dỡ công trình vi phạm. Nhưng các hộ dân không chấp hành. Để lập lại trật tự đô thị tại khu vực này Thành phố chỉ đạo phường phải xử lý các hộ vi phạm. Xin hỏi thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành QĐXLVPHC về khắc phục hậu quả? Chủ tịch UBND phường có thẩm quyền không? Áp dụng văn bản nào?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền sau đây:

” 1. a) Phạt cảnh cáo;b) Phạt tiền đến 10% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật này nhưng không quá 5.000.000 đồng;c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức xử phạt tiền được quy định tại điểm b khoản này;d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 28 của Luật này.”

Các biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 28 bao gồm:

“a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;b) Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;c) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;”

Điểm a Khoản 1 Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định “Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có quyền ra quyết định cưỡng chế”.

Như vậy, căn cứ theo các quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành với các hình thức xử phạt hành chính do mình ra quyết định.

Câu hỏi thứ 2 – Có quyền khiếu nại khi nhận giá bồi thường quá thấp?

Ông A khai khấn năm 1992 có thửa đất 21000m2, Năm 2009, Ông A bán cho Ông B thửa đất 8000m2 có ” Hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết bằng giấy tay ” với giá 370 trệu đồng. Năm 2013, Nhà nước thu hồi đất ” Biên bản chi trả tiền bồi thường , hỗ trợ ” lập Dự án nuôi trồng thủy sản Cho Ông A với giá 3 tỷ.( gồm có đất đai , hoa màu, hỗ trợ về dat dai, ho tro ổn dinh doi song, ho trợ chuyen doi nghe tao viec làm ). Và Ông A đã nhận tiền bồi thường. Ngày 18 tháng 1 năm 2017, Nhà nước thu hồi đất ” Biên bản chi trả tiền bồi thường , hỗ trợ ” lập Dự án nuôi trồng thủy sản Cho Ông B với giá 50 triệu ( gồm có đất đai , hoa màu ). Và Ông B đã nhận tiền bồi thường.Ngày 5 tháng 5 năm 2017, Ông B viết đơn khiếu nại không hài lòng giá tiền bồi thường nhu trên.Vậy kính hỏi Luật Sư ông B có được bồi thường không ?

Trả lời: Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi đã tư vấn một số trường hợp tương tự thông qua một hoặc một số bài viết cụ thể sau đây:

Trong trường hợp này nếu như ông A đã bán đất cho ông B thì cần xác định ông A có bán toàn bộ diện tích này cho ông B hay không; bởi lẽ trên một thửa đất không thể được nhận 2 lần bồi thường và chỉ có ông A hoặc ông B được nhận bồi thường tương ứng. Trong trường hợp ông A không bán toàn bộ thửa đất cho ông B thì mới phát sinh hai khoản bồi thường với mỗi phần diện tích mà các bên đã sử dụng sẽ có mức bồi thường tương ứng với diện tích đất mà gia đình đã sử dụng mà ông B không đồng ý với mức bồi thường thì có thể khiếu nại với quyết định bồi thường của cơ quan nhà nước. Còn nếu ông A bán toàn bộ thửa đất thì ông A đã nhận được tiền bồi thường rồi thì ông B không được nhận bồi thường tương ứng nên không có quyền khiếu nại, khi đó ông B phải thỏa thuân lại với ông A để nhận lại tiền bồi thường từ ông A.

Quyết Định Chủ Trương Đầu Tư Ra Nước Ngoài Của Thủ Tướng Chính Phủ

Trừ các trường hợp thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án đầu tư quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật đầu tư 2014 sau đây:

– Dự án thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 400 tỷ đồng trở lên;

– Dự án đầu tư không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 800 tỷ đồng trở lên.

Đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài của Thủ tướng Chính phủ thì nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ bao gồm:

– Văn bản đăng ký đầu tư ra nước ngoài;

– Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;

– Đề xuất dự án đầu tư gồm: mục tiêu, quy mô, hình thức, địa điểm đầu tư; xác định sơ bộ vốn đầu tư, phương án huy động vốn, cơ cấu nguồn vốn; tiến độ thực hiện dự án, các giai đoạn đầu tư (nếu có); phân tích sơ bộ hiệu quả đầu tư của dự án;

– Bản sao một trong các tài liệu chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư: báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu khác chứng minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;

– Cam kết tự cân đối nguồn ngoại tệ hoặc văn bản của tổ chức tín dụng được phép cam kết thu xếp ngoại tệ cho nhà đầu tư;

– Quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 57 của Luật này;

– Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, khoa học và công nghệ, nhà đầu tư nộp văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán, Luật khoa học và công nghệ, Luật kinh doanh bảo hiểm.

Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài theo trình tự hướng dẫn tại Điều 55 Luật đầu tư 2014. Cụ thể như sau:

Nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ theo quy định trên và nộp tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầu tư, cơ quan được lấy ý kiến có ý kiến thẩm định về những nội dung thuộc thẩm quyền quản lý.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định và lập báo cáo thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ. Báo cáo thẩm định gồm các nội dung sau đây:

– Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài quy định tại Điều 58 của Luật này;

– Tư cách pháp lý của nhà đầu tư;

– Sự cần thiết thực hiện hoạt động đầu tư ở nước ngoài;

– Sự phù hợp của dự án với quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật này;

– Những nội dung cơ bản của dự án: quy mô, hình thức đầu tư, địa điểm, thời hạn và tiến độ thực hiện dự án, vốn đầu tư, nguồn vốn;

– Đánh giá mức độ rủi ro tại quốc gia đầu tư.

Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chủ trương đầu tư ra nước ngoài, gồm các nội dung sau đây:

– Nhà đầu tư thực hiện dự án;

– Mục tiêu, địa điểm đầu tư;

– Vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư; tiến độ góp vốn, huy động vốn và tiến độ thực hiện hoạt động đầu tư ở nước ngoài;

– Ưu đãi và hỗ trợ đầu tư (nếu có).