Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Về Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Chủ Thể Đặc Biệt Của Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự Là Ai?
  • Đồng Phạm Hình Sự Là Gì?
  • Phân Biệt Hình Phạt Với Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự?
  • Luật Tương Trợ Tư Pháp 2007
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Cá nhân hay tổ chức có năng lực pháp luật và năng lực hành vi pháp luật, tham gia vào các quan hệ pháp luật, có quyền và nghĩa vụ pháp lí nhất định.

    Nói một cách chung nhất, cá nhân, tổ chức có thể là chủ thể quan hệ pháp luật, nhưng đi vào cụ thể thì có sự phân biệt giữa cá nhân và tổ chức với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật.

    Cá nhân có thể là công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch. Với tư cách là công dân, cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật ở những mức đô khác nhau. Mọi cá nhân – công dân từ khi sinh ra được pháp luật công nhận là có năng lực pháp luật, khả năng có quyển và có nghĩa vụ pháp lí. Cá nhân công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Cá nhân – công dân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, tham gia các quan hệ pháp luật, xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi. Cá nhân – công dân từ khi sinh ra đến chưa đủ 6 tuổi chỉ có năng lực pháp luật mà chưa có năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch dân sự đều phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. Cá nhân – công dân mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng là chủ thể quan hệ pháp luật hạn chế theo quy định của pháp luật.

    Tổ chức chỉ khi là pháp nhân mới là chủ thể đầy đủ của quan hệ pháp luật, các tổ chức khác phụ thuộc vào tư cách pháp lí khác nhau, cũng có thể là chủ thể của các quan hệ pháp luật, nhưng ở phạm vi nhất định.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Dấu Hiệu Của Tội Phạm
  • Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự
  • Dấu Hiệu Bắt Buộc Của Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Chủ Thể Là Gì? Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự Theo Blds Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Luật Dân Sự Học Gì?
  • Sách Pháp Luật Sách Bộ Luật Dân Sự Hiện Hành
  • Quyền Đối Với Quốc Tịch Trong Pháp Luật Dân Sự Hiện Hành
  • Một Số Điểm Mới Của Sách Luật Dân Sự Hiện Hành
  • #1 Quy Định Về Hợp Đồng Dân Sự Theo Bộ Luật Dân Sự
  • Chủ thể là gì? Chủ thể của quan hệ pháp luật là gì? Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự theo BLDS năm 2022? Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự? Nguyên tắc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể nước ngoài?

    Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2022 bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Năng lực pháp luật của từng chủ thể pháp luật này cũng đều được Bộ luật dân sự năm 2022 quy định một cách chi tiết.

    Chủ thể là cá nhân, tổ chức đang tồn tại hữu hình ở thế giới vật chất

    Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân, tổ chức có khả năng có quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật.

    Điều 1 về Nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sựBộ luật dân sự đã quy định chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự: ” Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác “. Như vậy, theo quy định này chủ thể quan hệ pháp luật dân sự bao gồm cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác.

    3. Các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự

    Đây là chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và tham gia thường xuyên bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài , người không có quốc tịch sống ở Việt Nam được quy định tại Chương III Bộ luật Dân sự. Để có tư cách chủ thể thì cá nhân phải có các điều kiện đầy đủ năng lực pháp luật dân sự (Điều 14) ” 1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

    2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

    3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. và năng lực hành vi dân sự (Điều 17) “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.” Năng lực hành vi dân sự của cá nhân chỉ có được khi đạt độ tuổi nhất định:

    – Năng lực hành vi một phần: Điều 20 quy định Năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác, trường hợp có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    -Không có năng lực hành vi dân sự : là người chưa đủ 6 tuổi theo quy định Điều 21

    – Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định Điều 22 và Điều 23

    Cơ quan, tổ chức, chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập có các kiện quy định tại Điều 84 về Pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

    – Thứ nhất, là được thành lập hợp pháp: thành lập theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;

    – Thứ ba, là có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó: pháp nhân phải có tài sản riêng không phụ thuộc và bị chi phối bởi bất kì chủ thể tham gia quan hệ pháp luật nào khác, trên cơ sở tài sản riêng đó pháp nhân phải chịu trách nhiệm, thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình

    – Thứ tư, là nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập: vì tham gia vào quan hệ pháp luật một cách độc lập nên pháp nhân sẽ được hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ dân sự phù hợp với pháp nhân nên pháp nhân phải nhân danh chính mình.

    Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là hộ gia đình

    Điều 106 quy định: ” Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này.

    Để có tư cách chủ thể hộ gia đinh phải xác định được các thành viên của hộ. Chỉ những hộ gia đình đáp ứng đủ các điều kiện sau mới trở thành chủ thể của quan hệ dân sự:

    – Cùng đóng góp công sức hoạt động kinh tế chung;

    – Phạm vi những loại việc dân sự mà hộ gia đình tham gia chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực do pháp luật quy định.

    Thời điểm phát sinh và chấm dứt tư cách chủ thể của hộ gia đình là không xác định. Tư cách chủ thể của hộ gia đình được xác định thông qua mục đích của giao dịch và lĩnh vực giao dịch.

    Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự là Tổ hợp tác

    Quy định tại Điều 111: ” 1. Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm là chủ thể trong các quan hệ dân sự.

    T ư cách tổ hợp tác được hình thành khi có hợp đồng hợp tác và tiến hành đăng ký tại UBND cấp xã.

    Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia giao dịch dân sự được hiểu là năng lực chủ thể của cá nhân đó, tùy từng trường hợp mà Bộ luật dân sự 2022 sẽ có quy định về những cá nhân không được quyền tham gia giao dịch dân sự cụ thể.

    Năng lực chủ thể của cá nhân bao gồm năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự. Trong đó năng lực pháp luật là quyền xử sự của chủ thể được ghi nhận và được phép thực hiện. Năng lực hành vi là khả năng tự có của chủ thể trong việc thực hiện, kiểm soát và làm chủ hành vi của mình.

    Bộ luật dân sự 2022 định nghĩa về năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự như sau:

    Điều 14. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

    1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

    Điều 17. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

    Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

    Do vậy, chủ yếu chỉ cần xem xét đến năng lực hành vi của chủ thể là có thể xác định được năng lực chủ thể trong giao dịch dân sự. Có thể hiểu năng lực hành vi dân sự cụ thể như sau: ” năng lực” là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện hoạt động nào đó, ” hành vi” là cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định. Vì thế, năng lực hành vi là khả năng thực hiện xử sự và kiểm soát làm chủ các xử sự đó của cá nhân. Đồng thời cũng có thể hiểu năng lực hành vi dân sự ở góc độ là sự tổng hợp giữa 2 yếu tố: lý trí, mong muốn và khả năng thực hiện, kiểm soát hành vi.

    Có thể nói rằng khi ban hành Bộ luật dân sự 2022, các nhà làm luật đã căn cứ vào các phương diện trên để xác định và ghi nhận các mức độ năng lực hành vi Dân sự cá nhân. Bộ luật dân sự 2022 căn cứ vào độ trưởng thành về thể chất và nhận thức của cá nhân để xác định cá nhân ở độ tuổi nào, nhận thức ra sao thì được thừa nhận là có năng lực hành vi ở mức độ tương ứng. Theo quy định tại các Điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 của Bộ luật dân sự 2022 pháp luật đã thừa nhận năng lực hành vi Dân sự của cá nhân theo các mức độ khác nhau. Trong mỗi mức độ đó, các cá nhân có quyền tham gia giao dịch Dân sự trong một phạm vi tương ứng.

    – Cá nhân có năng lực hành vi đầy đủ: Điều 21 Bộ luật dân sự 2022 quy định: Người thành niên có năng lực hành vi Dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Bộ luật này. Và các cá nhân nhận được thừa nhận là có năng lực hành vi Dân sự đầy đủ sẽ được coi là có đủ năng lực để tự tham gia mọi giao dịch Dân sự.

    – Cá nhân có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ: Bao gồm các cá nhân từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, có sự phát triển bình thường về nhận thức. Ở lứa tuổi này, họ là những người có nhận thức lí trí nhưng chưa đủ để có thể làm chủ, kiểm soát mọi hành vi của mình. Họ có thể nhận thức hành vi này nếu hành vi đó có tính chất và mức độ giản đơn nhưng lại không hề nhận thức được các hành vi khác nếu hành vi đó có tính chất mức độ phức tạp.

    Vì thế luật chỉ thừa nhận họ có tư cách chủ thể để xác lập, thực hiện các giao dịch Dân sự nào nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của họ và có sự phù hợp giữa giao dịch đó với lứa tuổi của họ. Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu chính đáng của các cá nhân ở mức độ năng lực hành vi này, luật còn cho phép họ xác lập các giao dịch khác nếu có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật hoặc tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch Dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng để đảm bảo việc thực hiện các giao dịch Dân sự nếu họ có đủ tài sản riêng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ ( Điều 22 Bộ luật dân sự 2022).

    – Cá nhân chưa có năng lực hành vi dân sự: Bộ luật dân sự 2022 không quy định về mức độ này mà chỉ quy định về người không có năng lực hành vi Dân sự ( Điều 23 Bộ luật dân sự 2022). Tuy nhiên, những cá nhân ở độ tuổi này là người không thể bằng nhận thức suy luận để có thể điều khiển được hành vi nào của mình. Vì vậy, họ là người không có năng lực chủ thể để tham gia bất kì một giao dịch Dân sự nào. Các giao dịch nhằm phục vụ cho nhu cầu của những người này đều phải do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập và thực hiện

    Kể từ thời điểm quyết định tuyên bố người bị hạn chế năng lực hành vi Dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi quyết định đó bị hủy bỏ thì cá nhân không được tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự. Họ chỉ được coi là có đủ năng lực để tự xác lập, thực hiện những giao dịch nhỏ nhằm khắc phục cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của bản thân họ. Họ muốn tham gia các giao dịch khác phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của họ.

    – Cá nhân không có năng lực hành vi dân sự: Là người tham gia không thể nhận thức suy luận để có thể làm chủ, kiểm soát bất kì hành vi nào của mình. Rơi vào tình trạng này bao gồm những người không có người không có khả năng nhận thức từ khi chưa thành niên và những người đã thành niên nhưng bị tòa án ra quyết định mất năng lực hành vi dân sự theo điều 25 của Bộ luật dân sự 2022. Những người này bị coi là hoàn toàn không có năng lực chủ thể nên họ không tự mình xác lập, thực hiện bất kì giao dịch Dân sự nào. Mọi giao dịch dân sự nhằm đáp ứng cho nhu cầu của họ đều phải do người đại diện theo pháp luật của họ xác lập và thực hiện.

    Tóm lại, năng lực chủ thể là quy định bắt buộc để các cá nhân có thể tham gia vào các giao dịch dân sự trong đời sống xã hội, chủ yếu pháp luật đưa ra các trường hợp hạn chế đối với hành vi dân sự của cá nhân, theo đó, những người có năng lực hành vi hạn chế hoặc người không có năng lực hành vi dân sự sẽ không được tham gia các giao dịch dân sự mà pháp luật quy định. Điều đó cũng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người tham gia giao dịch dân sự.

    5. Nguyên tắc xác định năng lực pháp luật của các chủ thể nước ngoài

    Đối với năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân nước ngoài:

    – Anh: xác định theo luật nơi cư trú của người đó và nếu là vụ án về thương mại thì theo luật nơi kí kết hợp đồng.

    – Đức: năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà họ là công dân

    – Việt Nam theo Bộ luật tố tụng dân sự, năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân nước ngoài được xác định như sau:

    + Theo pháp luật nước mà người đó có quốc tịch, trong trường hợp công dân có quốc tịch nước ngoài và quốc tịch Việt Nam thì pháp luật Việt Nam sẽ được áp dụng. Nếu người đó có nhiều quốc tịch của nhiều nước ngoài khác nhau thì theo pháp luật của nước công dân đang sống.Theo pháp luật Việt Nam nếu công dân nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở Việt Nam;

    + Theo pháp luật của nước mà người không quốc tịch cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài;

    + Theo pháp luật Việt Nam nếu hành vi tố tụng được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.

    Như vậy theo pháp luật Việt Nam năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân nước ngoài được xác định dựa vào 3 yếu tố: quốc tịch của cá nhân, nơi cư trú hoặc nơi thực hiện hành vi.

    Năng lực pháp luật tổ tụng dân sự của tổ chức quốc tế được xác định theo:

    – Điều ước quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức;

    – Quy chế hoạt động của tổ chức;

    – Điều ước quốc tế đã được kí kết với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Bộ Luật Dân Sự, Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự
  • Sách Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Dân Sự
  • Khái Niệm Và Đối Tượng Điều Chỉnh Của Luật Dân Sự
  • Hợp Đồng Dân Sự Gồm Những Loại Nào?
  • Án Phí, Lệ Phí Dân Sự: Ai Phải Nộp ?
  • Chủ Thể Đặc Biệt Của Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự Là Ai?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đồng Phạm Hình Sự Là Gì?
  • Phân Biệt Hình Phạt Với Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự?
  • Luật Tương Trợ Tư Pháp 2007
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Các Trường Hợp Kết Hôn Trái Pháp Luật Và Cách Thức Xử Lý? Ai Là Người Có Quyền Yêu Cầu Hủy Kết Hôn Trái Pháp Luật?
  • Chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự là ai?

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia vào một số quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là chủ thể đặc biệt. Tư cách chủ thể của Nhà nước không đặt ra như tư cách chủ thể của các chủ thể khác. Nhiều cơ quan nhà nước tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế với tư cách là chủ thể độc lập, bình đẳng nhưng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia với tư cách là chủ thể đặc biệt.

    Tại sao nhà nước là chủ thể đặc biệt?

    Nhà nước là chủ thể đặc biệt trong các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ dân sự, kinh tế nói riêng bởi các lẽ sau:

    Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. ( Khoản 2 Điều 2 Hiến pháp 2013). Nhà nước nắm quyền lãnh đạo thống nhất, toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước là người đại diện cho toàn dân và là một tổ chức chính trị – quyền lực.

    – Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản thuộc chế độ sở hữu toàn dân gồm: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý. Đây là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

    – Nhà nước tự quy định cho mình các quyền trong các quan hệ mà Nhà nước tham gia, trình tự, cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ đó.

    – Nhà nước là chủ thể của tất cả các ngành luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.

    Nhà nước trực tiếp nắm quyền định đoạt tối cao đối với các tài sản mà pháp luật quy định thuộc chế độ sở hữu toàn dân. Những tài sản có ý nghĩa quyết định đến nền tảng kinh tế của toàn xã hội, đến an ninh, quốc phòng như: Đất đai, rừng núi, sông hồ, biển cả, các tài nguyên thiên nhiên khác.

    Nhà nước giao quyền của mình cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền quản lí các tài sản, giao cho các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, chính trị-xã hội các tổ chức khác, cá nhân thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản của Nhà nước; quy định về trình tự, giới hạn thực hiện các quyền đó.

    Nhà nước uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh tế như: Ngân hàng, kho bạc, phát hành các kì phiếu, trái phiếu, công trái.

    Nhà nước là chủ sở hữu các tài sản vô chủ, tài sản không người thừa kế, tài sản bị trưng thu, trưng mua.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Về Chủ Thể Của Quan Hệ Pháp Luật
  • Các Dấu Hiệu Của Tội Phạm
  • Khái Niệm Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự
  • Dấu Hiệu Bắt Buộc Của Cấu Thành Tội Phạm
  • Khái Niệm, Dấu Hiệu Của Tội Phạm Và Cấu Thành Tội Phạm
  • Chủ Thể Và Khách Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Kèm Ví Dụ Minh Họa
  • Thi Hành Pháp Luật Là Gì Và Một Số Điều Thú Vị Liên Quan
  • Khái Niệm Ý Thức Pháp Luật Là Gì ?
  • Vi Phạm Pháp Luật Là Gì?
  • Luận Văn Là Gì? Cách Để Viết Một Bài Luận Văn Chuyên Nghiệp
  • Chủ thể và khách thể của quan hệ pháp luật hành chính? Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những đối tượng nào? Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính là những đối tượng nào?

    Trong bất cứ ngành luật nào, đối tượng điều chỉnh nói chung được hiểu là những quan hệ xã hội xác định các đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh. Đối với luật hành chính, đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội chủ yếu và cơ bản hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, trong đó chưa đựng tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành của cơ quan hành chính nhà nước. Có thể nói, đây là một lĩnh vực đặc thù thể hiện qua việc có ít nhất một bên tham gia quan hệ là bên có thẩm quyền, là chủ thể thực hiện chức năng chấp hành và điều hành của nhà nước. Vậy, chủ thể và khách thể trong quan hệ pháp luật hành chính có những nét đặc trưng nào?

    Luật Dương Gia sẽ cùng quý bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này

    1. Khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính

    Trong quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ pháp luật hành chính là dạng quan hệ chứa đựng những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành điều hành giữa một bên là đối tượng quản lý và bên còn lại có mang tính quyền lực nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Những mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này phải chịu sự điều chỉnh của những quy phạm pháp luật hành chính. Như vậy có thể nói, trong mối quan hệ này, quyền của bên này sẽ tương ứng là nghĩa vụ của bên còn lại và ngược lại.

    Trong quan hệ pháp luật hành chính có những đặc điểm mang tính đặc trưng cơ bản, cụ thể như sau:

    Thứ nhất, quan hệ pháp luật hành chính là một quan hệ có tính đặc thù, quan hệ này chỉ phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước và gắn liền với các hoạt động chấp hành, điều hành của nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.

    Thứ hai, đối với quan hệ pháp luật hành chính, các bên chủ thể tham gia vào quan hệ này rất đa dạng và nhiều thành phần. Tuy nhiên cần lưu ý trong đó phải đảm bảo có ít nhất một bên còn lại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc những tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý, nhân danh cho nhà nước thực hiện hoạt động quản lý. Điều này đồng nghĩa với việc, quan hệ pháp luật hành chính là mối quan hệ thể hiện tính quyền lực hành chính của nhà nước.

    Thứ ba, đối với các tranh chấp phát sinh trong quan hệ này được giải quyết theo trình tự, thủ tục hành chính và thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước. Bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước nhà nước.

    2. Chủ thể của pháp luật hành chính

    Có thể hiểu một cách khái quát, những bên tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính là những chủ thể của quan hệ pháp luật này. Theo đó, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể chỉ là các cá nhân, tổ chức tham gia các mối quan hệ xã hội, hoặc là những cán bộ, công chức nhà nước, cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền. Những chủ thể này phải bảo đảm có đầy đủ năng lực, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau theo quy định của pháp luật.

    Thứ nhất, chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính rất đa dạng. Điều đặc biệt cơ bản của các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ pháp luật này là phải có ít nhất một bên tham gia với vai trò là chủ thể có thẩm quyền trong hành chính nhà nước.

    Yếu tố thể hiện thẩm quyền trong hành chính nhà nước của chủ thể quản lý hành chính – những tổ chức, cá nhân mang quyền lực hành chính nhà nước, nhân danh cho nhà nước thực hiện chức năng quản lý. Điều này được thể hiện qua hai đặc trưng cơ bản sau đây:

    – Hai là, những chủ thể được xác định có thẩm quyền khi tham gia vào quan hệ này phải với chính tư cách đó chứ không phải tư cách cá nhân hoặc không vượt ra khỏi thẩm quyền quản lý nhà nước đã được quy định.

    Ví dụ: Ông Nguyễn Văn C là chủ tịch UBND xã A, trong quá trình tham gia giao thông có hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông. Trong trường hợp này, quan hệ pháp luật hành chính đã được xác lập nhưng bên đại diện cho quản lý hành chính nhà nước là bên có thẩm quyền xử phạt hành vi của ông A. Ngược lại, mặc dù ông A là người được quy định có thẩm quyền trong quản lý hành chính nhưng trong mối quan hệ này, tư cách tham gia của ông A là tư cách cá nhân.

    Như vậy, có thể thấy, cùng là một chủ thể nhưng tùy vào từng trường hợp cụ thể mà vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật lại được xác định khác nhau.

    Thứ hai, trong quan hệ pháp luật hành chính, một trong những đặc trưng cơ bản để làm cơ sở phân biệt quan hệ này với các quan hệ pháp luật khác chính là việc trong quan hệ này luôn luôn có một bên chủ thể bắt buộc là bên có quyền nhân danh Nhà nước để đơn phương ra những mệnh lệnh (thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật hoặc các mệnh lệnh cụ thể để giải quyết công việc cụ thể) buộc phía bên kia phải có nghĩa vụ thực hiện.

    Như ở trên đã đề cập, chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hành chính có thể được xác định là hai bên chủ thể có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cụ thể như sau:

    Một là, đối với bên chủ thể đóng vai trò là đối tượng được quản lý trong quan hệ hành chính có thể là tổ chức, cá nhân. Bên chủ thể này phải đảm bảo phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi hành chính, cụ thể như sau:

    – Chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi hành chính của cá nhân là khả năng của cá nhân được Nhà nước thừa nhận mà với khả năng đó họ có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lí hành chính đồng thời phải gánh chịu hậu quả pháp lí nhất định do những hành vi của mình mang lại. Năng lực hành vi hành chính của các nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ tuổi, tình trạng sức khỏe, trình độ đào tạo, khả năng tài chính…quan trọng hơn trong nhiều trường hợp, nó phụ thuộc vào sự thừa nhận của nhà nước.

    Ví dụ: người đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xilanh từ 50 cm 3 trở lên và các loại xe có kết cấu tương tự. Tuy nhiên, năng lực hành vi hành chính của các cá nhân này trong điều khiển phương tiện vừa nêu không mặc nhiên phát sinh khi họ đủ 18 tuổi mà năng lực này chỉ được nhà nước thừa nhận khi họ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe phù hợp đối với phương tiện đó.

    Hai là, đối với bên chủ thể đóng vai trò là bên quản lý nhà nước, là các tổ chức hoặc cá nhân được giao quyền hoặc nhân danh nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.

    Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công tác trong nội bộ một cơ quan.

    Ví dụ: Quan hệ pháp luật giữa Uỷ ban nhân dân Tỉnh B với Uỷ ban nhân dân Huyện N tương ứng trực thuộc là quan hệ pháp luật hành chính. Tuy nhiên, quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước với văn thư của cơ quan đó qua hành vi phân thư soạn thảo công văn thì không phái là quan hệ pháp luật hành chính. Nó dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng là quan hệ công tác nội bộ của cơ quan.

    – Năng lực chủ thể của cơ quan nhà nước phát sinh khi cơ quan đó được thành lập và chấm dứt khi cơ quan đó bị giải thể. Năng lực này được pháp luật hành chính quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó trong quản lý hành chính nhà nước.

    – Năng lực chủ thể của tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, đơn vị vũ trang, đơn vị hành chính- sự nghiệp… phát sinh khi nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó trong quản lí hành chính nhà nước và chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổ chức bị giải thể.

    Do không có chức năng quản lí nhà nước nên các tổ chức nêu trên thường tham gia vào các quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể thường. Cá biệt trong một số trường hợp, khi được nhà nước trao quyền quản lí hành chính nhà nước trong một số công việc cụ thể, các tổ chức này có thể tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể đặc biệt.

    3. Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính

    Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính được xác định chính là trật tự quản lý hành chính trong từng lĩnh vực. Khi các bên tham gia vào các mối quan hệ này đối tượng mà các chủ thể mong muốn hướng tới là những lợi ích về vật chất hoặc những lợi ích phi vật chất, nó đóng vai trò là yếu tố định hướng cho sự hình thành và vận động của một quan hệ pháp luật hành chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì? Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật?
  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì? Ví Dụ Về Quan Hệ Pháp Luật Cụ Thể Và Phân Tích
  • Khái Niệm, Các Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính. Ví Dụ?
  • Nguyên Tắc Chung Về Áp Dụng Pháp Luật Khi Xét Xử
  • Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Và Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Các Chủ Thể Tham Gia Quan Hệ Pháp Luật Phá Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Poker Tournament Freeroll Miễn Phí Cho Các Tay Chơi Săn Giải
  • Giải Đấu Poker Là Gì? Các Loại Giải Đấu Poker Khác Nhau
  • Short Deck Poker Là Gì? Cách Chơi Short Deck Poker (Six Plus Hold’em)
  • Bật Mí Cách Chơi Short Deck Poker Từ Chuyên Gia
  • Short Deck Poker Là Gì? Luật Chơi Short Deck Poker Dành Cho Người Mới
  • 1. Các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật phá sản

    1.1. Các chủ thể tham gia thủ tục phá sản

    + Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014 chưa thống nhất trong quy định về quyền yêu cầu định giá lại tài sản của chủ nợ: Theo quy định của pháp luật phá sản, chủ thể có thẩm quyền yêu cầu định giá lại là chấp hành viên. Khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014 có quy định về việc định giá lại tài sản, cụ thể: “Việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”; khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định: “Nếu phát hiện quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, chấp hành viên yêu cầu quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá lại tài sản, trừ trường hợp quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 của Nghị định này”.

    Như vậy, Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật Thi hành án dân sự, đồng nghĩa với nó là những chủ nợ (người được thi hành án) không có quyền yêu cầu việc định giá lại như quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, điều này có khả năng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Vì vậy, việc thông qua thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi, người lao động tránh được tình trạng mất việc không được kỳ vọng lớn lao. Theo khoản 7 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012, khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, đương nhiên các hợp đồng lao động mà doanh nghiệp đã ký sẽ chấm dứt. Mặc dù, người lao động được ưu tiên thanh toán song nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản sau khi thanh toán hết cho chủ nợ có bảo đảm, chi phí phá sản thì nguy cơ người lao động không nhận được thanh toán là rất lớn. Chính vì vậy, sự quan tâm, hào hứng của người lao động về việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là không nhiều, còn chưa kể đến cơ chế người lao động cử đại diện không được quy định chi tiết.

    – Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán: Với những người điều hành doanh nghiệp, việc mở thủ tục phá sản có vai trò nhất định như để doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường đồng thời giảm áp lực thanh toán nghĩa vụ tài sản hoặc doanh nghiệp có cơ hội được phục hồi. Vậy nhưng thực tế vẫn tồn tại các doanh nghiệp không muốn nộp đơn mở thủ tục phá sản. Sở dĩ như vậy là vì nhiều doanh nghiệp khi thành lập đã kê khai vốn điều lệ lớn nhưng chủ yếu là vốn ảo hoặc quá trình hoạt động có nhiều giao dịch chuyển tài sản không rõ ràng. Trong số rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này, có thể kể đến một số nguyên nhân xuất phát từ thực tiễn hoạt động tại Tòa án và thẩm phán: (i) Số lượng các vụ việc cần được giải quyết đang đặt ra cho thẩm phán vô vàn thử thách, áp lực; (ii) Năng lực về của thẩm phán giải quyết vụ việc phá sản còn nhiều tồn tại. Nếu thực sự các chủ thể có quyền nộp đơn cùng một lúc tiến hành nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì quả thật khó Tòa án nào đủ năng lực để giải quyết tất cả các vụ việc.

    Trong khi đó, theo Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 thì các chủ nợ không có bảo đảm và các chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản; còn các chủ nợ khác có bảo đảm thì không có quyền này.

    Đại diện cho doanh nghiệp mắc nợ có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Tòa án xem xét, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Đồng thời, pháp luật phá sản ở một số nước còn quy định chế tài rất nặng (có thể phạt tù, phạt tiền, bồi thường) đối với người đại diện cho doanh nghiệp không nộp đơn kịp thời hoặc nộp đơn không đúng… Ví dụ như Luật Phá sản hiện hành của Cộng hòa liên bang Đức quy định trường hợp một pháp nhân mất khả năng thanh toán hoặc tài sản của pháp nhân thấp hơn các khoản nợ hiện có của pháp nhân đó thì các thành viên của cơ quan đại diện của pháp nhân nhìn chung không được chậm trễ, chậm nhất là trong vòng ba tuần sau khi xuất hiện tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc khi tài sản của pháp nhân thấp hơn các khoản nợ hiện có của pháp nhân đó, phải có nghĩa vụ đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Người nào phải thực hiện nghĩa vụ này mà không đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, đệ đơn không kịp thời hoặc đệ đơn không đúng thì có thể bị phạt tù đến ba năm hoặc phạt tiền; trường hợp vô ý mà vi phạm thì bị phạt tù đến một năm hoặc bị phạt tiền.

    Pháp luật phá sản ở nhiều nước trên thế giới (Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Hoa Kỳ…) đều đề cao vai trò của người quản lý tài sản (quản tài viên). Mặc dù có tên gọi thường không giống nhau, nhưng người quản lý tài sản ở các nước này nhìn chung đều thực hiện chức năng, nhiệm vụ và có vai trò gần giống như quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản quy định tại Luật Phá sản năm 2014. Tại Hoa Kỳ, tín thác viên là người được ủy thác quản lý tài sản, là người đại diện hợp pháp thay mặt chủ sở hữu thực hiện các quyền năng đối với tài sản được ủy thác và tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập và vì vậy có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trong các quan hệ pháp luật cụ thể. Tùy theo thủ tục tố tụng, tín thác viên có thể do các chủ nợ bầu ra hoặc do Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật phá sản Hoa Kỳ. Tín thác viên có trách nhiệm thu thập, phát mại và phân chia tiền thu được của con nợ cho các chủ nợ[11].

    Thứ hai, cần có sự đồng bộ giữa Luật Phá sản năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự năm 2014 về quyền yêu cầu định giá lại của chủ nợ. Theo Luật Phá sản năm 2014, chỉ có chấp hành viên mới có quyền yêu cầu định giá lại, chủ nợ không có quyền yêu cầu định giá lại tài sản. Tuy nhiên, theo Luật Thi hành án dân sự năm 2014, chủ nợ (với tư cách là người được thi hành án) có quyền yêu cầu việc định giá lại tài sản. Để không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, tác giả thiết nghĩ, Luật Phá sản năm 2014 cần bổ sung quyền được yêu cầu định giá lại tài sản của chủ nợ.

    Thứ ba, Luật Phá sản năm 2014 cần có hướng dẫn cụ thể về cơ chế người lao động cử đại diện. Luật Phá sản năm 2014 hoàn toàn không đề cập đến cơ chế cụ thể rõ ràng về việc người lao động cử đại diện, điều đó làm người lao động khó định hướng trong việc ủy quyền cho chủ thể tham gia hội nghị chủ nợ. Trong khi đó, khoản 1 Điều 14 Luật Phá sản năm 2004 có quy định cụ thể về việc người lao động cử đại diện: “Đại diện cho người lao động được cử hợp pháp sau khi được quá nửa số người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã tán thành bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký; đối với doanh nghiệp, hợp tác xã quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diên cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa số người được cử làm đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành”.

    Thứ tư, cần có hướng dẫn cụ thể về mức thù lao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cũng như chấp hành viên khi họ tham gia vào thủ tục phá sản.

    Theo tcdcpl.moj.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phá Sản Trong Pháp Luật Hoa Kỳ Và Triết Lý Chấp Nhận Rủi Ro Trong Kinh Doanh
  • Vấn Đề Bao Lương Cho Thợ Nail Tại Hoa Kỳ
  • Làm Nail Ở Mỹ Không Cần Bằng Hành Nghề?
  • Luật Lao Động Và Nghề Nail Tại Hoa Kỳ
  • Giáo Dục Pháp Luật Ở Hoa Kỳ
  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Bộ Luật Hình Sự
  • Chủ Thể Của Tội Phạm Và Năng Lực Chịu Trách Nhiệm Hình Sự Theo Quy Định ?
  • Phân Tích Chủ Thể Của Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Luận Văn: Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam
  • Chủ thể của luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành, Chủ thể của luật hình sự theo quy định hiện hành thì chỉ có thể là con người cụ thể…

    Chủ thể của luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

    Câu hỏi của bạn:

    Xin luật sư cho biết. Chủ thể của luật hình sự theo quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung một số điều năm 2009

    Câu trả lời của luật sư

    Căn cứ pháp lý:

    Nội dung tư vấn Chủ thể của luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

    Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định chủ thể của luật hình sự như sau:

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

    2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên. Nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

    Chủ thể của luật hình sự theo quy định hiện hành thì chỉ có thể là con người cụ thể. Cũng có nghĩa là luật hình sự không chấp nhận chủ thể của tội phạm là tổ chức. Nói các khác tổ chức không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội phạm phải là một người cụ thể đang sống. bởi chỉ khi đó, họ mới nguy hiểm cho xã hội. Cần giáo dục để họ trở thành người có ích cho xã hội.

    Con người là chủ thể của tội phạm phải thực hiện hành vi được mô tả trong luật hình sự và phải có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì mới có thể là chủ thề của tội phạm.

    1. Độ tuổi của chủ thể luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

    Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên. Nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Theo quy đinh của BLHS hiện hành tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình

    2. Năng lực chủ thể luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

    a. Năng lực trách nhiệm hình sự

    Năng lực trách nhiệm hình sự. Là khả năng của một người nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

    b. Về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự. Nhưng đã lâm vào tình trạng mất năng lực trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

    Bộ luật hình sự cũng quy định người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi trong trường hợp này họ tự đặt mình vào tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Tóm lại để trở thành chủ thể của luật hình sự thì người đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Tức là người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bênh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc tự chủ hành vi của mình.

    Ngoài ra. Có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt mới thực hiện được. Những chủ thể có dấu hiệu ấy được gọi là chủ thể đặc biệt. Bao gồm dấu hiệu về: chức vụ; quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp; tính chất công việc; dấu hiệu giới tính; dấu hiệu quan hệ gia đinh; họ hàng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Sách Luật Thi Hành Án Hình Sự & 350 Câu Hỏi Đáp Về Hình Sự
  • Quy Trình Giải Quyết Các Vụ Án Hình Sự 420 Câu Hỏi Đáp Về Bộ Luật Hình Sự
  • 350 Câu Hỏi Đáp Về Hình Sự, Tố Tụng Hình Sự
  • Chính Sách Hình Sự Đặc Biệt Là Gì?
  • Chính Sách Pháp Luật Hình Sự Đối Với Các Tội Phạm Về Chức Vụ
  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Bộ Luật Hình Sự
  • Chủ Thể Của Tội Phạm Và Năng Lực Chịu Trách Nhiệm Hình Sự Theo Quy Định ?
  • Phân Tích Chủ Thể Của Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Luận Văn: Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam
  • Tội Phạm Là Gì? Phân Loại Tội Phạm Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự?
  • Chủ thể của luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành, Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân bao gồm khả năng nhận thức và khả …

    Chủ thể của luật hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2022

    Câu hỏi của bạn:

    Xin cho hỏi. Chủ thể của luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

    Câu trả lời của luật sư:

    Căn cứ pháp lý:

    Nội dung trả lời: Chủ thể của luật hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

    Bộ luật hình sự năm 2022 quy định về chủ thể của luật hình sự bao gồm 2 loại chủ thể là chủ thể của luật hình sự là cá nhân và chủ thể của luật hình sự là pháp nhân thương mại.

    1. Chủ thể của luật hình sự là cá nhân

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

    2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên. Nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tội hiếp dâm. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

    a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

    b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

    c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

    d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

    đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

    e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).”

    Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân bao gồm khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

    a. Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân:

    Một người có thể là chủ thể của tội phạm khi người đó phải có khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của mình và khả năng điều khiển hành vi đó theo những yêu cầu chung của xã hội. Năng lực nhận thức có ở mỗi con người từ khi mới sinh ra. Nó phát triển và hoàn thiện theo sự phát triển của cấu tạo sinh học cơ thể con người qua quá trình lao động và giáo dục trong xã hội. Đến một thời điểm nhất định trong đời sống của con người thì năng lực này mới được xem là tương đối đầy đủ.

    b. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

    Bộ luật hình sự năm 2022 quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội quy định tại khoản 2 điều 12 BLHS năm 2022.

    2. Chủ thể của pháp luật hình sự là pháp nhân thương mại

    a. Năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

    Điều 74. Áp dụng quy định của Bộ luật hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội

    “Pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này; theo quy định khác của Phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này”

    Một tổ chức được gọi là pháp nhân thương mại khi pháp nhân đó được thành lập hợp pháp và mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.

    Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại xuất hiện từ thời điểm pháp nhân này được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhân tư cách pháp nhân ( ngày giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực, giấy chứng nhân đăng ký kinh doanh có hiệu lực… )

    b. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

    Bộ luật hình sự 2022 quy định điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại khi:

    + Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

    + Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

    + Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

    + Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

    + Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

    Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của anh; chị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Giới Thiệu Sách Luật Thi Hành Án Hình Sự & 350 Câu Hỏi Đáp Về Hình Sự
  • Quy Trình Giải Quyết Các Vụ Án Hình Sự 420 Câu Hỏi Đáp Về Bộ Luật Hình Sự
  • 350 Câu Hỏi Đáp Về Hình Sự, Tố Tụng Hình Sự
  • Chính Sách Hình Sự Đặc Biệt Là Gì?
  • Quan Hệ Pháp Luật Kinh Tế Và Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Pháp Luật Dân Sự Đối Với Đời Sống Xã Hội Và Kinh Tế
  • 105 Đề Tài Báo Cáo Thực Tập Ngành Luật Dân Sự, Kinh Tế, Hành Chính Hay
  • Sự Khác Nhau Giữa Luật Dân Sự Và Luật Hình Sự
  • Phân Biệt Vi Phạm Hành Chính, Vi Phạm Hình Sự Và Vi Phạm Dân Sự
  • Sự Khác Biệt Về Yếu Tố “lỗi” Giữa Pháp Luật Dân Sự Và Pháp Luật Hình Sự
  • Quan hệ pháp luật kinh tế và quan hệ pháp luật dân sự. Các điểm khác biệt cơ bản giữa quan hệ pháp luật kinh tế và dân sự.

    Phân biệt quan hệ pháp luật kinh tế với quan hệ pháp luật dân sự? Phân biệt quan hệ quản lý nhà nước về kinh tế với quan hệ kinh doanh và quan hệ nội bộ trong đơn vị kinh doanh?

    Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

    Đây là những quan hệ xã hội phát sinh thường nhật trong một phạm vi rất rộng, đáp ứng nhu cầu của bất cứ chủ thể nào trong xã hội.

    – Độc lập về tổ chức: Chủ thể khi tham gia vào quan hệ dân sự đều độc lập, không lệ thuộc về mặt tổ chức. Tránh trường hợp đổ lỗi trách nhiệm cho nhau.

    – Độc lập về tài sản: Có sự rành rẽ, độc lập về tài sản.

    * Địa vị pháp lý của các chủ thể: dựa trên cơ sở bình đẳng và không phụ thuộc vào các yếu tố xã hội khác

    – Các chủ thể luôn bình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, không có sự phân biệt về thành phần xã hội, tôn giáo, dân tộc, trình độ văn hóa, nghề nghiệp…

    – Thể hiện của đặc điểm này trong quan hệ pháp luật dân sự:

    + Bình đẳng về mặt tổ chức: Các chủ thể không lệ thuộc với nhau về mặt tổ chức, phải tự chịu trách nhiệm về những thiệt hại do mình gây ra.

    * Lợi ích: chủ yếu là lợi ích kinh tế là tiền đề cho các quan hệ pháp luật dân sự

    – Lý do để khẳng định lợi ích chủ yếu là lợi ích kinh tế là tiền đề cho các quan hệ pháp luật dân sự:

    + Thứ nhất là các quan hệ pháp luật dân sự chủ yếu là quan hệ tài sản nên nó cũng mang các đặc điểm là có tính chất hàng hóa, tiền tệ và tính chất đền bù tương đương nên lợi ích về vật chất là một biểu hiện phổ biến trong quan hệ dân sự.

    2, Quan hệ pháp luật kinh tế:

    + Các bên thiết lập một quan hệ dân sự nhằm một mục đích nhất định, tức là đều hướng đến một lợi ích nhất định có thể là lợi ích tinh thần hoặc lợi ích vật chất từ các quan hệ nhân thân hay quan hệ tài sản.

    – Các biện pháp cưỡng chế trong quan hệ dân sự có nhiều biện pháp như các biện pháp mang tính chất tinh thần như xin lỗi, cải chính công khai…Chủ yếu nhằm mục đích khắc phục các vấn đề thuộc về đời sống tinh thần, về các giá trị nhân thân.

    a) Khái niệm: Quan hệ pháp luật kinh tế là đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế, phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa; phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhau.

    b) Đặc điểm: Quan hệ pháp luật kinh tế bao gồm:

    Phân biệt quan hệ quản lý nhà nước về kinh tế với quan hệ kinh doanh và quan hệ nội bộ trong đơn vị kinh doanh

    – Nhóm quan hệ quản lý kinh tế: Là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh

    – Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau: Đây là những quan hệ kinh tế thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.

    – Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một số doanh nghiệp: Là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh giữa tổng công ty, tập đoàn kinh doanh và các đơn vị thành viên cũng như giữa các đơn vị thành viên trong nội bộ tổng công ty hoặc tập đoàn kinh doanh đó với nhau..

    1, Nhóm quan hệ quản lý kinh tế: Là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh

    +) Quan hệ quản lý kinh tế phát sinh và tồn tại giữa các cơ quan quản lý và các cơ quan bị quản lý (Các chủ thể kinh doanh) khi các cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý của mình

    +) Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí bất đẳng (Vì quan hệ này hình thành và được thực hiện dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng)

    + Cơ sở pháp lý: Chủ yếu thông qua các văn bản pháp lý do các cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành.

    2, Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau: Đây là những quan hệ kinh tế thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.

    Trong hệ thống các quan hệ kinh tế thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế, nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhất.

    +) Chúng phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

    +) Chúng phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng kinh tế hoặc những thoả thuận.

    +) Chủ thể của nhóm quan hệ này chủ yếu là các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quan hệ này trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi.

    +) Nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ tài sản – quan hệ hàng hoá- tiền tệ

    – Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một số doanh nghiệp

    Là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh giữa tổng công ty, tập đoàn kinh doanh và các đơn vị thành viên cũng như giữa các đơn vị thành viên trong nội bộ tổng công ty hoặc tập đoàn kinh doanh đó với nhau..

    Năng lực chủ thể của cá nhân trong quan hệ pháp luật hành chính

    – Phân loại quan hệ pháp luật dân sự

    THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại

    – Tư vấn luật miễn phí qua điện thoại

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Chung Về Luật Dân Sự Việt Nam
  • Hàn Quốc Thông Qua Dự Luật Cấm Cha Mẹ Phạt Đòn Con Cái
  • Hàn Quốc Xúc Tiến Sửa Luật Nhằm Ngăn Cấm Cha Mẹ Phạt Đòn Roi Với Con Cái
  • Hàn Quốc Thay Đổi ” Quyền Phạt Con Của Cha Mẹ ” Trong Luật Dân Sự.
  • Bộ Luật Dân Sự Hàn Quốc
  • Luận Văn: Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tội Phạm Là Gì? Phân Loại Tội Phạm Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự?
  • Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Tội Phạm Theo Luật Hình Sự Mới 2022
  • Phạm Tội Có Tổ Chức Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Hình Sự Về Tội Phạm Có Tổ Chức
  • Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự 2022 Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Khái Niệm Và Phân Loại Tội Phạm Theo Quy Định Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật hình sự với đề tài: Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ KIM HẠNH CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ KIM HẠNH CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự Mã số : 60.38.01.04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: chúng tôi VÕ KHÁNH VINH HÀ NỘI, năm 2022
    3. 3. LỜI CẢM ƠN Bằng các kiến thức đã học, kinh nghiệm thực tiễn cũng như qua sự trao đổi, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp làm công tác tư pháp, tác giả đã hoàn thành luận văn của mình. Thông qua luận văn, tác giả đã học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ đồng nghiệp và các kinh nghiệm lý luận từ các tác giả khác. Luận văn được nghiên cứu với sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, TAND thành phố Đà Nẵng, các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và đặc biệt là sự tận tình của GS-TS Võ Khánh Vinh. Tuy nhiên, là người làm công tác thực tiễn, hoạt động nghiên cứu khoa học của tác giả còn mới mẽ, ít kinh nghiệm nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế nhất định, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các nhà khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm ơn!
    4. 4. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Đinh Thị Kim Hạnh
    5. 5. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………………..1 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM……………..6 1.1. Những vấn đề lý luận về chủ thể của tội phạm…………………………………………….6 1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm…………….18 CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG………………………………………………………………………..30 2.1. Tình hình chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua…..30 2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua ……………………………………………..40 2.3. Đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng………………………………………………………………………….50 CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM ………..56 3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm ……….56 3.2. Hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự và tổng kết áp dụng pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm…………………………………………………………………………………64 3.3. Nâng cao năng lực của cán bộ………………………………………………………………….68 3.4. Các giải pháp khác …………………………………………………………………………………74 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………..79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
    6. 6. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT Cơ quan điều tra CTN Chưa thành niên CTTP Cấu thành tội phạm TA Tòa án TAND Tòa án nhân dân THTT Tiến hành tố tụng TNHS Trách nhiệm hình sự TTHS Tố tụng hình sự TP Thành phố TTHS Tố tụng hình sự VKSND Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao VAHS Vụ án hình sự XHCN Xã hội chủ nghĩa
    7. 9. 3 vấn đề quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm trong BLHS Việt Nam” của Phạm Xuân Khoa, “Bàn về chủ thể của tội tham ô tài sản trong BLHS năm 1999” của Trương Thị Hằng. Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí Công an nhân dân, Tòa án nhân dân, Dân chủ và pháp luật, Kiểm sát như: “Nghiên cứu phạm vi chủ thể của tội phạm rửa tiền trong Luật hình sự Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Minh, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, năm 2011, tr. 9-14; “Chủ thể của tội phạm qua so sánh pháp luật hình sự nước ta với pháp luật hình sự một số nước thuộc hệ thống châu Âu lục địa” của Hồ Sĩ Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2, năm 2008, tr. 68-72; “Pháp nhân có là chủ thể của tội phạm hay không” của Phạm Hồng Hải, Tạp chí Luật học, năm 1999, tr. 14-19; “Phạm vi chủ thể của tội phạm BLHS 1999 và một số vấn đề trong công tác điều tra hình sự” của Bùi Kiên Điện, Tạp chí Luật học, số 4, năm 2000, tr. 7-11; “Bàn về vấn đề quy định pháp nhân là chủ thể trong BLHS Việt Nam”của Phạm Xuân Khoa, Tạp chí Kiểm sát, số 4, năm 2013, tr. 13-15,23; chúng tôi Võ Khánh Vinh (2013) “Lý luận chung về định tội danh”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội cũng đề cập đến vấn đề này. Các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến góc độ lý luận chung về yếu tố chủ thể của tội phạm, ở nhiều bài viết, nhiều công trình phần chủ thể của tội phạm còn mang tính tham khảo, phần nghiên cứu cũng chưa giải quyết được những hạn chế của Luật về vấn đề chủ thể của tội phạm, các quy định về vấn đề chủ thể của tội phạm còn nằm rải rác ở các quy định của luật, nhiều chỗ còn thể hiện gián tiếp, chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu, tổng hợp, có tính hệ thống về chủ thể của tội phạm. Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” cần tiếp tục được nghiên cứu, để có những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật trên thực tiễn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Với đề tài này, tác giả đặt ra các mục đích cần phải đạt được là nghiên cứu các vấn đề lý luận của chủ thể tội phạm, các quy định của pháp luật hình sự hiện hành về
    8. 10. 4 chủ thể của tội phạm; nghiên cứu việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng; từ đó, đưa ra những vướng mắc và khó khăn trong việc áp dụng các quy định của chủ thể tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam và những kiến nghị nhằm khắc phục. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả đặt ra nhiệm vụ cần giải quyết như sau: – Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam. – Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể trong hoạt động áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng. – Nghiên cứu các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm. Dựa trên thực tế áp dụng tại thành phố Đà Nẵng tìm ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng, từ đó đề xuất một số quan điểm quy định cụ thể hơn về chủ thể của tội phạm. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm, quan điểm và đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính sách hình sự. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã có sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, như khảo sát thực tiễn, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, phương
    9. 12. 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Những vấn đề lý luận về chủ thể của tội phạm 1.1.1. Khái niệm chủ thể của tội phạm Tội phạm trước hết là một hành vi. Chính vì thế, tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi chủ thể xác định. Không thể có hành vi xuất hiện ngoài thế giới khách quan mà không có chủ thể. Các tác động trong thế giới vật chất gây ra những thiệt hại đáng kể như sấm sét, lũ lụt, núi lửa, động đất… xảy ra tự nhiên thì không được coi là hành vi. Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội thì: Hành vi được hiểu là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể . Tội phạm bao giờ cũng được thực hiện bởi một người cụ thể, bởi vì chỉ có con người cụ thể mới có thể thực hiện được một hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, mới thể hiện được yếu tố lỗi, có thể chịu trách nhiệm cá nhân cũng như mới thực hiện được các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng trị và giáo
    10. 13. 7 dục, cải tạo mà Nhà nước đã quy định. Do vậy, con người cụ thể thực hiện tội phạm được gọi là chủ thể của tội phạm. Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể, đang sống. Như vậy, để được coi là chủ thể của tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội một cách cố ý hay vô ý phải: (1) có đủ năng lực TNHS, (2) đạt độ tuổi nhất định theo luật hình sự quy định. Đây là hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc trong chủ thể của tội phạm ở mọi cấu thành tội phạm, nếu thiếu một trong hai dấu hiệu này thì không thể coi là chủ thể của tội phạm mà không có chủ thể thì không thể cấu thành tội phạm. Bên cạnh các quan điểm truyền thống khi thừa nhận chủ thể của tội phạm là một thể nhân, hiện nay đã xuất hiện một số học thuyết mới như học thuyết trách nhiệm thay thế, học thuyết đồng nhất hóa và học thuyết văn hóa pháp nhân đã chỉ ra rằng pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm. Theo đó, pháp nhân không phải là một thực thể pháp lý trừu tượng mà pháp nhân là một thực thể xã hội, do đó, pháp Luật hình sự của một số nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở việc xem xét chủ thể của tội phạm là cá nhân con người mà họ còn xem xét các tổ chức (organization). Theo họ, các tổ chức mà pháp luật gọi là pháp nhân (legal person) cũng có ðủ tý cách và ðiều kiện trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu hình phạt. Trên thực tế, hiện nay nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Úc, Pháp… đã xem pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Việc truy cứu trách nhiệm đối với pháp nhân là xuất phát từ thực tế: một số công ty, tập đoàn tư bản vì mục tiêu lợi nhuận, làm giàu một cách nhanh chóng đã sẵn sàng phạm tội (gây ô nhiễm môi trường, trốn thuế, buôn lậu…). Nếu chỉ xử lý một vài cá nhân với tư cách là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của pháp nhân thì chưa triệt để. Hơn nữa những cá nhân này nhân danh pháp nhân để phạm tội là mang lợi ích cho toàn công ty chứ không riêng gì lợi ích của bản thân họ. Chính vì vậy, bên cạnh việc truy cứu TNHS đối với người đại diện của pháp nhân, đòi hỏi phải truy cứu TNHS đối với pháp nhân đó bằng các biện pháp như phạt tiền, cấm hoặc hạn chế kinh doanh trong một số lĩnh vực nhất định, buộc phải giải thể… với tư cách là một biện pháp cưỡng chế hình sự. Như vậy, chủ thể của tội phạm hiện nay trên thế giới được thừa nhận rộng hơn
    11. 14. 8 vừa là cá nhân vừa có thể là pháp nhân. Việc các quốc gia quy định chủ thể của tội phạm chỉ là cá nhân hay vừa là cá nhân vừa là pháp nhân nó phụ thuộc vào quan điểm pháp luật, nhu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như trình độ phát triển của mỗi quốc gia. BLHS Việt Nam năm 2022 cũng đã quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại, việc quy định chủ thể tội phạm là pháp nhân thương mại đã góp phần đưa pháp luật hình sự của nước ta hội nhập với quốc tế và là một bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam. Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với những chính sách kinh tế thông thoáng, Đà Nẵng ngày càng thu hút nhiều đầu tư trong và ngoài nước, phát triển mạnh về kinh tế công nghiệp cũng như du lịch… Theo con số thu thập được, tính đến năm 2022 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có hơn 13.000 doanh nghiệp đang hoạt động. Có thể nói doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng cũng góp phần vào công cuộc đổi mới, đưa thành phố Đà Nẵng phát triển và tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy không ít tổ chức kinh tế vì chạy theo lợi nhuận cục bộ đã có sự thông đồng từ người phụ trách đến nhân viên, thực hiện nhiều hành vi trái pháp luật mang tính chất tội phạm đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như trốn lậu thuế, kinh doanh trái phép, đầu cơ, buôn lậu hoặc vì lợi ích cục bộ nhất thời mà không thực hiện các biện pháp mà pháp luật đòi hỏi để bảo vệ môi trường, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Thời gian gần đây, như chúng ta đã biết, việc doanh nghiệp Fomosa đã có hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển khu vực ven biển Duyên hải Miền Trung trong đó có môi trường biển thành phố Đà Nẵng nhưng cho đến nay vẫn chưa điều tra làm rõ trách nhiệm này đối với cá nhân cũng như đối với pháp nhân nào. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, theo thống kê của tác giả từ việc phân tích số liệu của TAND thành phố Đà Nẵng thì nhận thấy, tỷ lệ pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội cũng tương đối nhiều nhưng chỉ tham gia trong vụ án với vai trò của bị đơn dân sự đối với yêu cầu về bồi thường thiệt hại. Theo thống kê từ năm 2012 đến năm 2022 có 46 trường hợp pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
    12. 15. 9 người có thẩm quyền gây ra, tập trung chủ yếu ở các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ hoặc các tội về lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các tội phạm khác về kinh tế, chức vụ nhằm mục đích sinh lợi nhuận cho pháp nhân. Có thể nhận thấy tình hình kinh tế càng phát triển thì tình hình tội phạm do pháp nhân, tổ chức thực hiện ngày càng tăng và càng nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với người đứng đầu, người có quyền gây ra thì cần thiết phải quy định pháp nhân thương mại là chủ thể chịu TNHS là phù hợp với tiến trình hòa nhập quốc tế hiện nay. 1.1.2. Các loại chủ thể của tội phạm Trước đây, khi chưa ban hành BLHS năm 2022, theo quan điểm truyền thống của pháp luật hình sự, chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam chỉ có thể là cá nhân và chủ thể đặc biệt. Có nhiều quan điểm khác nhau về loại chủ thể của tội phạm. Tuy nhiên, theo tác giả hiện nay có 3 loại chủ thể của tội phạm. Đó là: cá nhân, pháp nhân thương mại và chủ thể đặc biệt. Chủ thể của tội phạm là cá nhân: Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự. Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi. Để có thể có lỗi khi thực hiện hành vi khách quan đòi hỏi chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi theo yêu cầu của xã hội. Hai năng lực này có thể được gọi chung trong luật hình sự là năng lực lỗi. Tuy nhiên, không phải ai có năng lực lỗi đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm và phải chịu TNHS. TNHS được Nhà nước quy định và thể hiện chính sách hình sự của quốc gia, trong đó có chính sách về độ tuổi phải chịu TNHS. Theo đó, chủ thể của tội phạm còn đòi hỏi phải đạt độ tuổi chịu TNHS. Như vậy, chủ thể của tội phạm phải là người có năng lực lỗi và đạt độ tuổi chịu TNHS. Người thỏa mãn cả hai điều kiện này được coi là người có năng lực TNHS. Trong đó, năng lực lỗi và năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi của xã hội, còn độ tuổi chịu TNHS là độ tuổi
    13. 16. 10 được luật hình sự quy định tùy thuộc vào chính sách hình sự của quốc gia vào từng thời điểm. Xét về độ tuổi chịu TNHS, sẽ được chia thành các mốc tuổi như sau: Theo quy định BLHS năm 2022, tuổi chịu TNHS được quy định như sau : – Dưới 14 tuổi: Không phải chịu TNHS. – Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: 1/ Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); 2/ Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); 3/ Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); 4/ Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); 5/ Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); 6/ Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
    14. 19. 13 Chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại: Quan điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm đã có từ lâu và hiện nay nó đã được chính thức thừa nhận ở một số quốc gia trong đó có cả những quốc gia từ trước tới nay không những không thừa nhận mà thậm chí còn phê phán. Những quốc gia có pháp luật hình sự coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm là những quốc gia có nền kinh tế phát triển hoặc đang phát triển. Các loại hình tổ chức ở mỗi quốc gia rất đa dạng, trong đó có pháp nhân. Pháp nhân cũng gồm nhiều loại khác nhau như pháp nhân theo luật công, pháp nhân theo luật tư, pháp nhân gắn với mục đích lợi nhuận và pháp nhân không có mục đích lợi nhuận… Bên cạnh các pháp nhân còn có nhiều loại hình tổ chức khác không phải là pháp nhân như doanh nghiệp tư nhân, hiệp hội, câu lạc bộ… Tất cả các loại hình tổ chức này đều là chủ thể của quan hệ pháp luật nhưng không phải tất cả đều cần được xác định là chủ thể của tội phạm. Mỗi quốc gia cần xác định rõ phạm vi các tổ chức có thể là chủ thể của tội phạm để đảm bảo việc xác định này phù hợp với thực trạng vi phạm pháp luật và các điều kiện thực tế khác của quốc gia mình. Theo đó, các tổ chức có thể là chủ thể của tội phạm theo Pháp là các pháp nhân (trừ Nhà nước); theo Áo là pháp nhân, các công ty hợp danh, các hiệp hội vì lợi ích kinh tế Châu Âu và theo Thụy Sỹ là pháp nhân theo luật tư, pháp nhân theo luật công (trừ các tổ chức vùng lãnh thổ), các công ty, các doanh nghiệp tư nhân, theo Trung Quốc là công ty, xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Việc xác định phạm vi pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm là quyền lựa chọn của mỗi quốc gia. Việt Nam ban hành BLHS năm 2022 chỉ quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm. Một pháp nhân thương mại trở thành chủ thể của tội phạm khi thỏa mãn một trong các điều kiện sau: Thứ nhất, nghĩa vụ được pháp luật quy định cho pháp nhân thương mại không được thực hiện và vi phạm nghĩa vụ này ở mức độ nghiêm trọng. Ví dụ: Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước hay nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Đây là các nghĩa vụ được quy định trực tiếp cho doanh nghiệp, là nghĩa vụ của doanh nghiệp. Khi không thực hiện nghĩa vụ này ở mức độ nghiêm trọng, doanh nghiệp có thể là chủ thể của tội phạm theo pháp luật hình sự quy định. Về hình
    15. 22. 16 1.1.3. Chủ thể trong cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm bắt buộc là những yếu tố đặc trưng của các loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, chỉ khi nào có đầy đủ các dấu hiệu bắt buộc này thì hành vi vi phạm pháp luật mới được coi là hành vi phạm tội. Những dấu hiệu bắt buộc bao gồm: khách thể, khách quan, chủ thể, chủ quan. Chủ thể của tội phạm là một cá nhân có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có độ tuổi chịu TNHS. Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình gọi chung là năng lực lỗi và độ tuổi chịu TNHS là hai dấu hiệu của chủ thể của tội phạm, đây là hai dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Ngoài hai dấu hiệu về chủ thể có tính chất chung cho tất cả các tội phạm và phải có trong tất cả các CTTP, ở một số CTTP còn có dấu hiệu riêng khác về chủ thể của tội phạm vì chỉ khi có dấu hiệu đó thì chủ thể mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội nhất định hoặc vì Nhà nước giới hạn phạm vi phải chịu TNHS về một số tội phạm chỉ đối với chủ thể có đặc điểm nhất định đó. Trong ba loại dấu hiệu của chủ thể tội phạm, dấu hiệu có tính chất chung cho tất cả các tội phạm – năng lực lỗi và tuổi chịu TNHS được mô tả chung trong các điều luật phần chung của BLHS với hai cách mô tả khác nhau. Tuổi chịu TNHS được quy định trực tiếp trong điều luật; còn năng lực lỗi được quy định gián tiếp qua quy định về tuổi chịu TNHS và quy định về tình trạng không có năng lực lỗi. Luật hình sự không trực tiếp quy định năng lực lỗi mà chỉ quy định tuổi chịu TNHS và tình trạng không có năng lực lỗi, qua đó gián tiếp quy định năng lực lỗi. Với cách quy định các dấu hiệu chung của chủ thể của tội phạm, việc kiểm tra yếu tố chủ thể của tội phạm trong áp dụng đã được đơn giản hóa, người áp dụng chỉ phải xác định độ tuổi và cá biệt nếu có nghi ngờ mới phải kiểm tra tình trạng không có năng lực lỗi. Tình trạng không có năng lực lỗi được quy định trong luật hình sự qua việc mô tả hai dấu hiệu của tình trạng này là dấu hiệu y học (mắc bệnh) và dấu hiệu tâm lý (mất năng lực lý trí hoặc mất năng lực ý chí), điều này được quy định tại Điều 21 BLHS năm 2022: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
    16. 23. 17 vi của mình, thì không phải chịu TNHS”. Tóm lại, hai dấu hiệu của chủ thể của tội phạm là năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS được quy định trong các điều luật phần chung của luật hình sự và quy định này có giá trị chung cho tất cả các CTTP. Việc quy định chủ thể của tội phạm theo cách này tránh cho các CTTP khi mô tả tội phạm đều phải nhắc lại các dấu hiệu chung của chủ thể của tội phạm. Trong CTTP, các dấu hiệu này được thể hiện đơn giản qua khái niệm “người nào”. Khái niệm này chứa đựng tất cả nội dung của hai dấu hiệu chung của chủ thể của tội phạm. Ngoài hai dấu hiệu có tính chất chung cho tất cả các CTTP, chủ thể của tội phạm còn được mô tả thêm dấu hiệu đặc biệt khác trong một số CTTP. Đó là những CTTP phản ánh các tội phạm có chủ thể đặc biệt và các tội phạm có chủ thể hạn chế. Trong CTTP phản ánh tội phạm có chủ thể đặc biệt, nhà làm luật phải mô tả thêm dấu hiệu đặc biệt của “người nào” để với dấu hiệu đó họ mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội được mô tả trong CTTP. Dấu hiệu đó có thể là: – Chức vụ, quyền hạn như ở các tội về tham nhũng (tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ…); các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (tội truy cứu TNHS người không có tội, tội ra bản án trái pháp luật…); – Trách nhiệm, nghĩa vụ như ở các tội xâm phạm trách nhiệm, nghĩa vụ của quân nhân (tội chống mệnh lệnh, tội đào ngũ…); tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự; tội không chấp hành án…; – Dấu hiệu về giới (tội hiếp dâm); về quan hệ gia đình (tội loạn luân)… Trong CTTP phản ánh tội có chủ thể hạn chế, nhà làm luật phải mô tả thêm dấu hiệu hạn chế của “người nào” để với dấu hiệu đó phạm vi người có thể là chủ thể của tội phạm được xác định. Sự giới hạn phạm vi chủ thể ở đây chủ yếu là xuất phát từ chính sách hình sự của Nhà nước. Ví dụ: CTTP tội dâm ô đối với trẻ em giới hạn phạm vi chủ thể của tội này phải là người thành niên;… Như vậy, việc xác định chủ thể của tội phạm rất quan trọng trong việc xác định CTTP. Một hành vi không thể được coi là tội phạm nếu chủ thể thực hiện hành vi không phải là chủ thể của tội phạm.
    17. 24. 18 1.2. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chủ thể của tội phạm 1.2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về năng lực chịu trách nhiệm hình sự Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ người có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm. BLHS 2022 quy định chủ thể của tội phạm bao gồm con người và pháp nhân thương mại. Năng lực TNHS của cá nhân bao gồm năng lực nhận thức hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, khả năng điều khiển hành vi đó và khả năng gánh lấy hậu quả pháp lý là TNHS từ hành vi nguy hiểm gây ra. Như vậy, năng lực TNHS được hợp thành từ hai yếu tố: (1) khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi và (2) tuổi chịu TNHS. (1) Khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi: Một người có thể là chủ thể của tội phạm phải có khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và khả năng điều khiển hành vi đó (khả năng kiềm chế hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và lựa chọn một hành vi khác trong khi có đủ điều kiện lựa chọn) theo những yêu cầu chung của xã hội. Năng lực nhận thức có ở mỗi con người từ khi mới sinh ra. Nó phát triển và hoàn thiện theo sự phát triển của cấu tạo sinh học cơ thể con người qua quá trình lao động và giáo dục trong xã hội. Đến một thời điểm nhất định trong đời sống của con người thì năng lực này mới được xem là tương đối đầy đủ. (2) Tuổi chịu TNHS được quy định dựa trên cơ sở này. Như vậy, năng lực TNHS hình thành trên hai cơ sở: sự phát triển sinh học của cơ thể và đời sống xã hội. Con người sống trong xã hội trong một thời gian xác định sẽ nhận thức được những yêu cầu tất yếu của xã hội. Những yêu cầu đó là những đối tượng mà luật hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, sự phát triển sinh học của con người cũng rất quan trọng vì đôi khi nó loại bỏ một phần hoặc hoàn toàn năng lực nhận thức (do các bệnh gây rối loạn hoạt động của bộ não). Vì vậy, BLHS đã quy định các trường hợp mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. BLHS không quy định một người như thế nào là thoả mãn điều kiện về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi mà chỉ đề cập
    18. 27. 21 Đến BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đã thể hiện quan điểm phân hóa tội phạm hình sự ra thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiệm trọng, trên cơ sở đó quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 12 thì người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm. Tuy nhiên, tại phần tội phạm cụ thể trong BLHS 1999, trong đó 2 tội quy định chủ thể phải là người đã thành niên nghĩa là phải đủ 18 tuổi chứ không phải đủ 16 tuổi như quy định, cụ thể như: Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115) và tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116). Khoản 2 Điều 12 quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Chính vì vậy, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu TNHSvề tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và tội rất nghiêm trọng do lỗi vô ý, mà chỉ chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý và tội đặc biệt nghiêm trọng (cả lỗi cố ý và vô ý). Cùng với đó là một số tội mà người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ thể (như các loại tội chủ thể phải là người có chức vụ) nhưng vẫn có thể xử lý ở vai trò đồng phạm. Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, tạo cơ sở phân hóa TNHS xử lý người CTN phạm tội, nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm người CTN; đồng thời bảo đảm minh bạch và thực hiện tốt nguyên tắc nhân đạo, BLHS năm 2022 quy định rõ các tội danh cụ thể thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS, đồng thời bổ sung một số tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng nhưng có tính chất, mức độ nguy hiểm, xảy ra phổ biến mà người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi cũng phải chịu TNHS để xử lý nghiêm khắc. Tại khoản 1 Điều 12 BLHS năm 2022, tiếp tục quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm và bổ sung thêm “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” để khắc phục hạn chế của BLHS năm 1999 đối với trường hợp một số tội danh mà chủ thể phải là người đủ 18 tuổi. Khoản 2 Điều 12 BLHS 2022 đã cụ thể hóa những tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: “2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về
    19. 28. 22 tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây: a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy); d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép); đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản); e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304(tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).” Chính sách hình sự xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được thể hiện quy định tại Chương XII với 18 điều luật, từ Điều 90 đến Điều 107. So với BLHS 1999 thì Chương XII của BLHS 2022 có những điểm sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn. Chương XII được phân chia thành 05 mục: Mục 1. Quy định chung về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Mục 2. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự; Mục 3. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; Mục 4. Hình phạt;Mục 5. Quyết định hình
    20. 29. 23 phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xoá án tích. BLHS 2022 đã sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “người chưa thành niên” và “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” thay cho thuật ngữ “trẻ em” mà BLHS 1999 đã sử dụng. Có thể thấy rằng BLHS 2022 đã tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự đối với người CTN (người dưới 18 tuổi) phạm tội nhằm bảo đảm sự phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội được ghi nhận tại các Nghị quyết số 48/NQ-TW và số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, đồng thời bảo đảm sự phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp đối với người CTN. Nội dung sửa đổi, bổ sung về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội tập trung vào các vấn đề sau đây: (1) tiếp tục hoàn thiện quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội; (2) bổ sung các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18 tuổi được miễn TNHS; (3) hoàn thiện hệ thống chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng tăng cường khả năng áp dụng các chế tài không tước tự do; (4) bổ sung các chế định pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại; (5) hoàn thiện quy định về xoá án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng. 1.2.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về pháp nhân thương mại BLHS 2022 quy định TNHS của pháp nhân tại Điều 2, Điều 8 là phù hợp với thực tế khách quan và là một trong các nội dung mang tính đột phá, thể hiện sự đổi mới nhận thức và tư duy sâu sắc về lập pháp. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân được quy định cơ sở các vấn đề như: Chính sách xử lý hình sự đối với các pháp nhân thực hiện hành vi phạm tội; những loại tội phạm nào thì pháp nhân sẽ phải chịu TNHS; loại pháp nhân nào phải chịu TNHS; các chế tài áp dụng đối với pháp nhân. Điều 8 BLHS nước CHXHCNVN năm 2022 quy định:”1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự , do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
    21. 30. 24 xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. 2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Khái niệm tội phạm vẫn giữ tinh thần của BLHS 1999 và đã có bổ sung, sửa đổi mang tính khái quát cao hơn về quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và bổ sung TNHS của pháp nhân thương mại. BLHS 2022 bổ sung TNHS của pháp nhân đã đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá trong chính sách hình sự và tư duy lập pháp hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về tội phạm và hình phạt. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta, chế định TNHS của pháp nhân được quy định trong BLHS 2022. Với việc bổ sung chế định TNHS của pháp nhân thương mại vào BLHS 2022 xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn; trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế cùng với kết quả của gần 16 năm (từ 1999 đến nay) nghiên cứu, đề xuất nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế, môi trường; cùng với đó việc quy định TNHS của pháp nhân thương mại tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân thương gây ra. Với 16 điều, từ Điều 74 đến Điều 89 trong Chương XI, BLHS 2022 đã quy định chính sách xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Đồng thời, vấn đề TNHS của pháp nhân thương mại còn được quy định trong một số điều khoản khác của BLHS như: cơ sở TNHS (Điều 3), khái niệm tội phạm (Điều 8), hệ thống hình phạt (Điều 35)… Đối với pháp nhân thương mại phạm tội, Điều 74 BLHS khẳng định một nguyên tắc quan trọng là khi xem xét vấn đề truy cứu TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội, trước tiên phải căn cứ vào các quy định trong Chương XI, đồng thời căn
    22. 31. 25 cứ vào các quy định khác trong phần quy định chung của BLHS mà không trái với quy định của Chương XI. Điều này có nghĩa là về cùng một vấn đề mà nếu các quy định trong Phần Những quy định chung của BLHS 2022 khác với quy định của Chương XI thì áp dụng quy định của Chương XI. Ngoài ra, tại Điều 75 BLHS năm 2022 quy định điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại. Trên cơ sở tham khảo pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật một số nước trên thế giới, nhằm bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện của nước ta, Điều 75 của BLHS 2022 quy định pháp nhân thương mại phải chịu TNHS khi có đủ 04 điều kiện, trong đó 03 điều kiện là các căn cứ đặc thù khi xác định TNHS của pháp nhân và 01 điều kiện là căn cứ áp dụng chung cho cả cá nhân và pháp nhân. Cụ thể là: (1) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, nghĩa là, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội dưới danh nghĩa của pháp nhân. Nếu dưới danh nghĩa của cá nhân thì không thể truy cứu TNHS đối với pháp nhân ngay cả khi họ là người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Người thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân có thể là người lãnh đạo, người điều hành pháp nhân hoặc người được pháp nhân ủy quyền; (2) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại, nghĩa là, mục đích của việc thực hiện hành vi phạm tội đó là mang lại lợi ích chung cho pháp nhân, kể cả trong trường hợp lợi ích của pháp nhân không phải là duy nhất. Ví dụ như: giảm chi phí nộp thuế cho pháp nhân, mang lại lợi ích cho pháp nhân khi thực hiện hành vi thao túng giá chứng khoán. Trường hợp thực hiện hành vi trên danh nghĩa pháp nhân nhưng lại mang lại lợi ích cho cá nhân thì cũng không thể truy cứu TNHS đối với pháp nhân; (3) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để xác định một pháp nhân có bị truy cứu TNHS hay không. Nói cách khác, căn cứ này phản ánh dấu hiệu “lỗi” của pháp nhân thông qua việc đánh giá ý thức chủ quan của người đứng đầu, ban lãnh đạo pháp nhân. Như vậy, pháp nhân chỉ phải chịu TNHS khi người đứng đầu pháp nhân hoặc Ban lãnh đạo của pháp nhân nhận thức được hành vi của người thực hiện là trái pháp luật mà vẫn chỉ đạo, trực tiếp điều hành hoặc chấp thuận cho người đó thực hiện hành vi nhằm phục vụ cho lợi ích chung của pháp nhân; (4) Chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS quy định tại khoản 2 và
    23. 35. 29 đây mới được áp dụng đối với pháp nhân thương mại gồm 06 tình tiết: (1) Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; (2) Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; (3) Phạm tội 02 lần trở lên; (4) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; (5) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; (6) Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm. Các tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng. Cũng tương tự như đối với cá nhân phạm tội, Tòa án không được coi các tình tiết khác ngoài 06 tình tiết nêu trên là tình tiết tăng nặng TNHS đối với pháp nhân thương mại. Ngoài ra, BLHS 2022 còn quy định trường hợp quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội tại Điều 86, miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại tại Điều 88 và xóa án tích tại Điều 89. Kết luận Chương 1 Nhìn chung, các quy định về chủ thể của tội phạm được quy định rõ nét và cụ thể trong BLHS Việt Nam. Trải qua từng giai đoạn, các BLHS ra đời quy định và bổ sung thêm các quy định về chủ thể của tội phạm, khắc phục những thiếu sót của BLHS cũ, mới đây nhất là BLHS năm 2022 mặc dù chưa được áp dụng nhưng phần nào đã quy định đầy đủ và cụ thể về chủ thể của tội phạm, nhằm bổ sung và khắc phục những quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, tình hình tội phạm của nước ta ngày càng tinh vi và phức tạp nên đòi hỏi BLHS phải được hoàn thiện hơn nữa để điều chỉnh những hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế được xác đáng, công bằng hơn, thể hiện bản chất của nhà nước trong việc phòng và chống tội phạm.
    24. 36. 30 CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1. Tình hình chủ thể của tội phạm tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua Theo thống kê của các cơ quan pháp luật gần đây cho thấy rằng tình hình vi phạm pháp luật ngày càng tăng. Các loại vi phạm không những tăng về số lượng các vụ việc mà còn tăng cả về số lượng chủ thể tham gia. Thông thường, vi phạm pháp luật tăng tỷ lệ với gia tăng dân số, nhưng hiện nay thì số vi phạm lại tăng nhiều hơn so với dân số. Đáng báo động là tình trạng vi phạm pháp luật này lại xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống như: kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, văn hoá… với những thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, xảo quyệt hơn mà nếu không phán đoán chính xác sẽ không nhận thấy. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, các loại vi phạm đặc biệt tăng nhanh, mạnh và đa dạng về hành vi, thủ đoạn. Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp, với các lĩnh vực hoạt động thông thoáng mà Nhà nước đã đề ra, nhưng cũng chính lợi dụng sự quản lý thiếu chặt chẽ này, một số những doanh nghiệp làm ăn bất chính, có lợi thế về vốn đã tiến hành những hình thức cạnh tranh không lành mạnh, trốn thuế, buôn lậu… Vì vậy, tình trạng vi phạm trong lĩnh vực kinh tế càng ngày càng tăng, các loại tội phạm mới cũng xuất hiện với những hình thức tinh vi, quy mô rộng hơn thể hiện rất rõ. Trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội… tình hình vi phạm cũng xảy ra rất phức tạp, trong đó tội phạm là loại hình vi phạm nghiêm trọng nhất xảy ra khá phổ biến. Số người vi phạm và số vụ việc tăng lên đáng kể, một số tội phạm nghiêm trọng như cướp giật, giết người, buôn bán và sử dụng ma tuý, mại dâm… tăng mạnh và có nhiều vụ án quan trọng. Đặc biệt là tội phạm có tổ chức ngày càng nhiều, có tính tái phạm cao, như các băng nhóm bảo kê nhà hàng… với hình thức thanh toán nhau rất tàn bạo. Đà Nẵng là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương ở Việt Nam, đô thị loại
    25. 37. 31 1 trung tâm cấp quốc gia. Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế – xã hội và quốc phòng – an ninh; là đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không. Đà Nẵng hiện nay có tám quận, huyện với tổng diện tích là 1285,4 km². Theo kết quả điều tra năm 2013, dân số thành phố là 992.800 người. Dân số Đà Nẵng đạt 1.046.876 người vào năm 2022.Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn năm 2012 là 46.368,6 tỷ đồng. Trong ba năm liền từ 2008-2010, Đà Nẵng có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) đứng đầu cả nước. Năm 2013, Đà Nẵng đã trở lại vị trí số trên bảng xếp hạng. Năm 2014 và 2022, Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng, năm thứ ba liên tiếp trụ vững ngôi đầu bảng và lần thứ sáu thành phố này dẫn đầu cả nước kể từ khi chỉ số này được công bố 10 năm trước kể từ năm 2006. Với đặc điểm kinh tế – xã hội ngày càng phát triển nên số lượng người phạm tội cũng tăng cao, tội phạm ngày càng tinh vi, gian xảo và phức tạp hơn đặc biệt là các tội phạm về ma túy, tội phạm sở hữu, xâm phạm tính mạng, sức khỏe ngày càng tăng cao và có tính chất nguy hiểm hơn. Nổi trội nhất là hành vi giết người trong khi dùng chất kích thích, dùng ma túy đá, gần đây nhất là vụ giết người do người phạm tội nghiện ma túy thực hiện như vụ án “Giết người” do Lê Tấn Tài (34 tuổi, trú phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà) thực hiện hành vi phạm tội như sau: Đêm ngày 14/10/2016, Tài nhậu với bạn ở khu vực phường Nại Hiên Đông. Nhậu xong, Tài tìm bạn nghiện để chơi ma túy đá. Khoảng 12h cùng ngày, hắn tìm về chòi canh của ông Bang để xin ngủ nhờ. Đến nơi, Tài thấy ông Bang đang đốt giấy vàng mã. Trong lúc phê ma túy, hắn cho rằng ông Bang đốt giấy là một hành động nhằm khinh thường mình nên gây gổ. Hai bên đánh nhau được một lúc thì ông Bang yếu thế, bỏ chạy ra bờ biển. Tài đuổi theo quật ngã ông Bang và đánh nhiều cái vào đầu và tai nạn nhân. Ông Bang ngã quỵ xuống bãi cát thì bị Tài dìm xuống biển cho đến chết rồi kéo xác nạn nhân đặt bên miệng cống thoát nước. Chưa hả cơn cuồng sát, hắn còn lôi xác ông Bang lên, móc hai mắt. Tài thực hiện hành vi phạm tội trong lúc nghiện ma túy đá. Trong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2022, theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân thành phố (TAND TP) Đà Nẵng thì trên địa bàn TP Đà Nẵng đã xét xử 3.771
    26. 38. 32 vụ án, trong đó có 6.913 bị cáo phạm tội. Như vậy, cứ trung bình mỗi năm có khoảng 1.383 người phạm tội (chiếm tỷ lệ khoảng 0,14% số lượng dân số Đà Nẵng), số lượng bị cáo phạm tội hằng năm từ năm 2012 đến năm 2022 không đều, năm 2012: 1.397 bị cáo phạm tội, năm 2013 tăng lên 1.435 (tăng 2,7% so với năm 2012), năm 2014 giảm còn 1.381 bị cáo (giảm 3,8% so với năm 2013), năm 2022 có 1.277 phạm tội (giảm 7,6% so với năm 2014) và năm 2022 có 1.423 bị cáo phạm tội (tăng 11,4% so với năm 2022) (Xem phụ lục số 01). 2.1.1. Tình hình về nhân thân người phạm tội tại thành phố Đà Nẵng Nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó. Đây là một bộ phận cấu thành tất yếu và rất quan trọng của cơ chế hành vi tội phạm. Nhân thân người phạm tội theo pháp luật hình sự bao gồm các đặc điểm về tuổi, về năng lực chịu TNHS và cả các chủ thể đặc biệt như quốc tịch, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người nghiện ma túy…. [26, tr.29] 2.1.1.1. Về độ tuổi Nghiên cứu tình hình tội phạm ở nước ta nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, biên độ tuổi của người phạm tội ngày càng rộng, tính chất tội phạm của những người từ đủ 16 tuổi đến 30 càng tăng. Xét về cơ cấu tuổi, nghiên cứu thực tiễn từ năm 2012 đến nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng người phạm tội có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 65 tuổi, không có người phạm tội trên 65 tuổi. Độ tuổi phạm tội chủ yếu ở nhóm tuổi từ 30 đến dưới 65 tuổi chiếm tỷ lệ: 61.7%, nhóm tuổi từ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ: 38.2% (Xem phụ lục số 02). Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng những năm gần đây, vấn đề người CTN phạm tội đã đánh lên những hồi chuông cảnh tỉnh đáng báo động. Bị cáo là người CTN phạm tội ngày càng tăng về số lượng vụ và số lượng bị cáo trong từng vụ án, đặc biệt là tình trạng thanh thiếu niên rủ nhau lập thành các băng nhóm tham gia những vụ trộm cắp, cướp giật tài sản để kiếm tiền tiêu sài, hoặc những vụ án băng nhóm CTN mâu thuẫn, chia bè, chia nhóm để gây thương tích hoặc “thôn tính” lẫn nhau. Về độ tuổi, theo thống kê số liệu của TAND thành phố Đà Nẵng, từ năm 2012 đến năm 2022, trên địa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Chủ Thể Của Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Chủ Thể Của Tội Phạm Và Năng Lực Chịu Trách Nhiệm Hình Sự Theo Quy Định ?
  • Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Bộ Luật Hình Sự
  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Bộ Luật Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Chủ Thể Của Tội Phạm Và Năng Lực Chịu Trách Nhiệm Hình Sự Theo Quy Định ?
  • Phân Tích Chủ Thể Của Tội Phạm Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Luận Văn: Chủ Thể Của Tội Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam
  • Tội Phạm Là Gì? Phân Loại Tội Phạm Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự?
  • Tội Phạm Là Gì ? Khái Niệm Tội Phạm Theo Luật Hình Sự Mới 2022
  • Chủ thể của tội phạm là cá nhân có khả năng nhận thức và điều khiển những hành vi của mình (hay chính là năng lực trách nhiệm hình sự) và đạt một độ tuổi nhất định quy định chi tiết tại Điều 12, Bộ luật Hình sự năm 2022

    Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

    2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

    Như vậy, chủ thể của tội phạm không phải là một tổ chức, mà phải là cá nhân, người đạt một độ tuổi nhất định và có khả năng nhận thức những hành vi của mình có thể gây nguy hiểm cho xã hội và điều khiển hành vi của mình để không gây nguy hiểm cho xã hội bằng cách hành động hay không hành động).

    Ví dụ: Công ty A trong quá trình hoạt động của mình đã xả thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tuy nhiên không thể truy cứu trách nhiệm với Công ty A về hành vi gây ô nhiễm môi trường mà xử phạt vi phạm hành chính. Cá nhân thuộc công ty A đưa ra các quyết định về việc xả thải gây ô nhiễm mỗi trường nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này. Tuy nhiên đối với trường hợp ông A vì lợi ích của pháp nhân B đã vi phạm tội trốn thuế, thì ông A bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội phạm nêu trên chứ không phải pháp nhân B.

    Xét về độ tuổi chịu tránh nhiệm hình sự, sẽ được chia thành các mốc tuổi như sau:

    – Dưới 14 tuổi: Không phải chịu trách nhiệm hình sự

    – Từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi: chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, không áp dụng hình phạt tiền

    – Từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi: phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm tuy nhiên không áp dụng xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, đối với hình phạt tug thì được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng.

    – Từ đủ 18 tuổi: phải chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm, và các tất cả các mức hình phạt

    Đối với người chưa thành niên phạm tội không áp dụng hình phạt bổ sung.

    Ví dụ: Nguyễn Văn A phạm tội giết người với tình tiết tăng nặng là giết nhiều người, giết phụ nữ đang mang thai khi mới chỉ 17 tuổi 9 tháng, trong trường hợp này, A hoàn toàn phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi của mình gây ra. Tuy nhiên, A không phải chịu mức hình phạt cao nhất là tử hình hoặc chung thân mà chỉ phải chịu hình phạt tù có thời hạn. Mặc dù tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng nhưng do A chưa đủ tuổi thành niên, chưa nhận thức đầy đủ hành vi của mình nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hoàn toàn thích đáng.

    Khả năng nhận thức về hành vi

    Bộ luật Hình sự có quy định cụ thể về những tình trạng không nhận thức được về hành vi của mình, nếu rơi vào các tình trạng này, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể là:

    Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

    Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Vậy đặt ra câu hỏi rằng, những người nghiện ma tuý phạm tội trong tình trạng bị “phê thuốc” có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

    Trường hợp này cũng được quy định chi tiết trong Bộ luật Hình sự cụ thể như sau:

    Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

    Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

    Chúng tôi hi vọng thông qua bài viết này giúp quý khách hàng hiểu được phần nào các quy định pháp luật hình sự. Để được hỗ trợ chi tiết các vấn đề khác, vui lòng liên hệ tổng đài luật sư tư vấn 1900.6165 để được giải đáp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Chủ Thể Của Luật Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Giới Thiệu Sách Luật Thi Hành Án Hình Sự & 350 Câu Hỏi Đáp Về Hình Sự
  • Quy Trình Giải Quyết Các Vụ Án Hình Sự 420 Câu Hỏi Đáp Về Bộ Luật Hình Sự
  • 350 Câu Hỏi Đáp Về Hình Sự, Tố Tụng Hình Sự
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100