Hệ Thống Câu Hỏi Ôn Tập Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Cảm Nhận Về Tình Yêu Làng Của Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Ông Hai Trong Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Bài Thơ Sang Thu Của Hữu Thỉnh
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Viếng Lăng Bác Của Viễn Phương
  • Bằng nghệ thuật trần thuật đặc sắc và tình huống truyện hấp dẫn, truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân đã khắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của ông Hai như cần cù lao động, chất phác, yêu quê hương đất nước… tiêu biểu cho bản chất cao quý, trong sáng của người dân cày Việt Nam.

    Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây…”, cái câu nói của người đàn bà tản cư hôm trước lại dội lên trong tâm trí ông.

    Hay là quay về làng?… Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đối ngay. Về làm gì ở cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ… Nước mắt ông lão giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây(…) Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong ý nghĩ ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.”

    a) Đoạn trích trên thuộc tác phầm nào, của tác giả nào? Ghi rõ thời gian sáng tác tác phẩm.

    b) Nêu tinh huống truyện cơ bản của tác phẩm trên.

    c) Câu “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây..” là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?

    d) Có bạn cho rằng đoạn trích trên đã sử dụng chủ yếu hình thức ngôn ngữ độc thoại, lại cso bạn cho rằng đó là đọc thoại nội tâm. Ý kiến của em thế nao?

    Gợi ý đáp án

    a) Đoạn trích đó nằm trong truyện của nhà văn Kim Lân, truyện được viết năm 1948, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

    b) Truyện Làng đươc xây dựng dựa trên tình huống gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước cảu nhân vật ông Hai. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc lập tể mà chính ông nghe được từ những người tản cư dưới xuôi lên.

    c) Câu nói đó là lời dẫn trực tiếp.

    d) Đoạn văn trích này chủ yếu dùng ngôn ngữ độc thoại nội tam, đó là những lời nói bên trong của nhân vật, không nói ra thành tiếng.

    Câu hỏi 2. Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân kể từ khi nghe tin làng mình theo giặc.

    Gợi ý đáp án

    Phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai, kể từ khi nghe được tin làng mình theo giặc.

    – Ông Hai yêu làng quê của mình bằng một tình yêu rất đặc biệt, ông thường hãnh diện khoe về làng.

    – Ông bất ngờ nghe tin làng Việt gian theo Tây khi ở nơi tản cư. Cái tin ấy khiến ông sững sờ đau đớn như chết đứng.

    Từ lúc ấy, trong ông Hai chỉ còn cái tin dữ kia xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt, nặng nề, thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông cùng với nỗi đau xót, tủi hổ. Suốt mấy ngày sau, ông Hai không dám đi đâu, chỉ quang quẩn ở nhà, nghe ngóng binh tình.

    – Trong ông Hai diễn ra một cuộc xung đột nội tâm và ông đã dứt khoát chọn theo cách của mình: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”, tình yêu nước đã lớn rộng hơn, bao trùm lên tình yêu làng. Nhưng ông Hai không dễ gạt bỏ tình cảm với làng, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.

    – Ông Hai còn bị dồn đến tình thế bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi. Mặc dù không biết đi đâu, ông Hai vẫn quyết không về làng.

    – Trong tâm trạng đó, ông Hai chỉ còn biết trút bầu tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Cuộc trò chuyện đó cho thấy tấm lòng gắn bó sâu xa, bền chặt của ông Hai với làng quê, với cách mạng, với kháng chiến.

    – Cái tin đồn thất thiệt ấy được cải chính, ông Hai như được sống lại. Ông lại sung sướng, hoan hỉ chạy đu khoe với hết mọi người tin vui đó.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của Kim Lân sâu sắc, tinh tế.

    Câu hỏi 3. Vì sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hương về làng Chợ Dầu nhưng Kim Lân lại đặt tên truyện là “Làng” mà không phải là “Làng Chợ Dầu” chẳng hạn?

    -dehoctot.edu.vn-

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Vợ Nhặt
  • Sơ Đồ Tư Duy Chiếc Thuyền Ngoài Xa
  • Những Phần Mềm Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Tốt Nhất Hiện Nay
  • Nghị Luận Trong Văn Tự Sự
  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Ông Hai Trong “làng” Của Kim Lân
  • Câu Hỏi Ôn Tập Pháp Luật Đại Cương

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Lực Pháp Lí Và Việc Áp Dụng Điều Ước Quốc Tế Ở Việt Nam
  • Hiệu Lực Pháp Lý Của Điều Ước Quốc Tế Đối Sánh Với Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Ở Việt Nam
  • Pháp Luật Và Thực Tiễn Việt Nam Về Bảo Lưu Điều Ước Quốc Tế
  • Định Nghĩa Về Điều Ước Quốc Tế Theo Luật Pháp Quốc Tế (Bao Gồm Án Lệ) Và Pháp Luật Việt Nam
  • Luật Điều Ước Quốc Tế 2022, Luật Số 108/2016/qh13 2022
  • Câu 1:Quy phạm pháp luật là gì? Phân tích cấu trúc của quy phạm pháp luật. (lấy ví dụ minh họa)

    a. Quy phạm pháp luật:

    – Là quy tắc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí và lợi ích của nhân dân lao động, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội.

    – Quy phạm pháp luật xã hội là một quy phạm pháp luật

    – Quy phạm pháp luật luôn gắn liền với nhà nước.

    – Quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống có tính chất bắt buộc.

    – Đây là bộ phận của quy phạm quy định địa điểm thời gian chủ thể, các hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra trong thực tế mà nếu tồn tại chúng thì phải hành động theo quy tắc mà quy phạm đặt ra.

    – Các loại giả định đơn giản hoặc phức tạp giả định xác định và giả định xác định tương đối, giả định trừu tượng…sở dĩ có nhiều loại giả định như vậy vì đời sống thực tế rất phong phú và phức tạp.

    – Nhưng để đảm bảo tính xác định chặt chẽ của pháp luật thì giả định dù phù hợp loại nào thì cũng phải có tính xác định tới mức có thể được phù hợp với tính chất của loại giả định đó.

    VD : “Người nào thấy người khác trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng , tuy có điều kiện mà không cứu giúp, dẫn đến hậu quả người đó chết ” ( Điều 102 – Bộ luật hình sự năm 1999) là bộ phận giả thiết của quy phạm

    – Là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật, vì chính đây là quy tắc xử sự thể hiện ý chí nhà nước mà mọi người phải thi hành khi xuất hiện những điều kiện mà phần giả định đặt ra.

    – Với ví dụ trên thì bộ phận quy định ” tuy có điều kiện mà không cứu giúp” có hàm ý là phải cứu người bị nạn.

    – Có nhiều các phân loại phần quy định, mỗi các phân loại cần dựa vào một tiêu chuẩn nhất định.

    – Phụ thuộc vào vai trò của chúng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội chúng ta có quy định điều chỉnh bảo vệ quy định định nghĩa, phụ thuộc vào mức độ xác định của quy tắc hanh vi ta có quy định xác định quy định tùy nghi, tùy thuộc vào tính phức tạp của nó mà người ta quy định đơn giản và phức tạp. phụ thuộc vào phương thức thể hiện nội dung ra có hai hệ thống phân loại, .. Vì phần quy định là bộ phận trung tâm của quy phạm pháp luật nên cách phân loại này có thể áp dụng để phân loại quy phạm pháp luật nói chung.

    – Chế tài là bộ phận của quy phạm pháp luật chỉ ra những biện pháp tác động mà nhà nước sẽ áp dụng đối với chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong phần quy định của quy phạm pháp luật.

    – Có nhiều loại chế tài : Tùy theo mức độ xác định ta có chế tài xác định chế tài xác định tương đối, chế tài lựa chọn, theo tính chất các biện pháp được áp dụng, ta cso thể có chế tài hình phạt, chế tài khôi phục pháp luật hoặc chế tài đơn giản, chế tài phức tạp.

    Ví dụ trên bộ phận này : “bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”

    – Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra có tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực của nhà nước và được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    – Trong xã hội cộng sản nguyên thủy không có pháp luật nhưng lại tồn tại những quy tắc ứng xử sự chung thống nhất. đó là những tập quán và các tín điều tôn giáo.

    – Các quy tắc tập quán có đặc điểm:

    + Các tập quán này hình thành một cách tự phát qua quá trình con người sống chung, lao động chung. Dần dần các quy tắc này được xã hội chấp nhận và trở thành quy tắc xử sự chung.

    + Các quy tắc tập quán thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, do đó được mọi người tự giác tuân theo. Nếu có ai không tuân theo thì bị cả xã hội lên án, dư luận xã hội buộc họ phải tuân theo.

    – Khi chế độ tư hữu xuất hiện xã hội phân chia thành giai cấp quy tắc tập quán không còn phù hợp nữa thì tập quán thể hiện ý chí chung của mọi người. trong điều kiện xã hội có phân chia giai cấp và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được. Nhà nước ra đời. để duy trì trật tự thì nhà nước cần có pháp luật để duy trì trật tự xã hội. Pháp luật ra đời cùng với nhà nước không tách rời nhà nước và đều là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp.

    * Bản chất của Pháp luật:

    – Bản chất của giai cấp của pháp luật : pháp luật là những quy tắc thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Giai cấp nào nắm quyền lực nhà nước thì trước hết ý chí của giai cấp đó được phản ánh trong pháp luật.

    – Ý chí của giai cấp thống trị thể hiện trong pháp luật không phải là sự phản ánh một cách tùy tiện. Nội dung của ý chí này phải phù hợp với quan hệ kinh tế xã hội của nhà nước.

    – Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích của nó. Mục đích của pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ xã hội tuân theo một cách trật tự phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp nắm quyền lực của nhà nước,

    – Pháp luật là phương diện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội. Duy trì thiết lập củng cố tăng cường quyền lực nhà nước.

    – Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Pháp luật góp phần tạo dựng mối quan hệ mới tăng cường mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.

    – Bảo vệ và quyền lợi ích hợp pháp của mọi người dân trong xã hội

    – Pháp luật được xây dựng dựa trên hoàn cảnh lịch sử địa lý của dân tộc

    – Nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ các quyền của công dân, ngăn ngừa những biểu hiện lộng quyền, thiếu trách nhiệm đối với công dân. Đồng thời đảm bảo cho mỗi công dân thực hiện đầy đủ quyền và các nghĩa vụ đối với nhà nước và các công dân khác.

    Công dân thực hiện và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự xâm hại của người khác, kể cả từ phía nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước.

    – Là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội. Hình thức pháp lý này xuất hiện trên cơ sở điều chỉnh của quy phạm pháp luật đối với quan hệ xã hội tương ứng và các bên tham gia quan hệ pháp luật đó đều mang những quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy phạm pháp luật nói trên quy định.

    – Chủ thể của quan hệ pháp luật

    – Nội dung của quan hệ pháp luật

    – Khách thể của quan hệ pháp luật

    – Người là cá nhân có thể là công dân nước ta hoặc cũng có thể là người nước ngoài đang cư trú ở nước ta muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật. Trong một số quan hệ pháp luật, còn đòi hỏi một người trở thành chủ thể phải là người có trình độ văn hóa, chuyên môn nhất định,…

    VD: Muốn trở thành chủ thể của quan hệ lao động trong việc sản xuất, dịch vụ về thực phẩm đòi hỏi người đó không mắc bệnh truyền nhiễm.

    – Đối với tổ chức, muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật về kinh tế đòi hỏi tổ chức đó phải được thành lập một cách hợp pháp và có tài sản riêng để hưởng quyền và làm nghĩa vụ về tài sản trong quan hệ pháp luật về kinh tế.

    – Bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ thể :

    + Quyền của chủ thể là khả năng được hành động trong khuôn khổ do quy phạm pháp luật xác định trước.

    + Quyền của chủ thể là khả năng yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ của họ

    VD: quyền của chủ thể bên kia trả tiền đúng ngày giờ theo quy định của hợp đồng cho vay.

    + Quyền của chủ thể là khả năng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bên kia để họ thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp quyền của mình bị chủ thể bên kia vi phạm.

    VD: như ví dụ trên, nếu bên vay không trả tiền đúng hạn, người cho vay có thể yêu cầu tòa án giải quyết.

    – Nghĩa vụ pháp lý là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do quy phạm pháp luật quy định.

    – Sự bắt buộc phải có xử sự bắt buộc nhằm thục hiện quyền cua chủ thể bên kia.

    – Trong trường hợp này chủ thể không thực hiện nghĩa vụ pháp lý,nhà nước đảm bảo bằng sự cưỡng chế.

    VD : một công dân nào đó đến ngã tư gặp đèn đỏ mà vẫn qua đường thì bị công an phạt – nghĩa vụ pháp lý trong trường hợp này là phải dừng lại không sang ngang nếu vẫn sang ngang thì sẽ bị xử lý hành chính.

    – Khách thể của quan hệ pháp luật là cái mà các chủ thể của quan hệ đó hướng tới để tác động.

    – Các chủ thể trong quan hệ pháp luật thông qua hành vi của mình hướng tới các đối tượng vật chất, tinh thần, hoặc thục hiện các chính trị như ứng cử bầu cử,…

    – Đối tượng mà hình vi các chủ thể trong quan hệ pháp luật thường hướng tới để tác động có thé là lợi ích vật chất, giá trị tinh thần hoặc lợi ích chính trị.

    – Theo quan điểm thần học: Thượng đế là người sáng tạo ra nhà nước quyền lực của nhà nước là vĩnh cửu và bất biến.

    – Thuyết gia trưởng: Nhà nước là kết quả của sự phát triển của gia đình, quyền lực của nhà nước như quyền gia trưởng của gia đình.

    – Thuyết bạo lực: Nhà nước ra đời là kết quả của việc bạo lực này với thị tộc khác

    – Thuyết tâm lý : họ dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy tâm để giải thích của sự ra đời nhà nước

    – Nhà nước ra đời khi có sự phân hóa và đấu tranh giai cấp.

    – Quyền lực của nhà nước không phải là vĩnh cửu.

    – Nhà nước tồn tại và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự phát triển của nó không còn nữa.

    + Lần 1: ngành chăn nuôi tách ra khỏi ngành trồng trọt thành một ngành kinh tế độc lập.

    + Lần 2: cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi và trồng trọt thủ công nghiệp cũng ra đời và phát triển dẫn đến lần phân công lao động thứ 2 là thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp.

    + Lần 3: sự ra đời của sản xuất hàng hóa làm cho thương nghiệp phát triển đã dẫn đến sự phân công lao động xã hội lần thứ 3 đây là lần phân công lao động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa quyết định dẫn đến sự tan dã của chế động cộng sản nguyên thủy.

    b. Bản chất của nhà nước: Nhà nước là sản phẩm của giai cấp xã hội

    – Quyền lực về kinh tế: Có vai trò rất quan trọng nó cho phép người nắm giữ kinh tế thuộc mình phải chịu sự chi phối của họ về mọi mặt.

    – Quyền lực về chính trị: Là bạo lực của các tổ chức này đối với giai cấp khác.

    – Quyền lực về tư tưởng: Giai cấp thống trị trong xã hội đã lấy tư tưởng của mình thành hệ tư tưởng trong xã hội .

    * Bản chất của xã hội :

    – Nhà nước còn bảo vệ lợi ích của người dân trong xã hội.

    – Nhà nước là một tổ chức duy nhất có quyền lực chính trị một bộ máy chuyên làm cưỡng chế và chức năng quản lý đặc biệt để duy trì trật tự xã hội.

    – Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.

    – Là các phương diện và những mặt hoạt động của nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ của nhà nước.

    – Chức năng đối nội: Là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước diễn ra ở trong nước .

    – Chức năng đối ngoại: Là những mặt hoạt động chủ yếu thể hiện với các nhà nước và dân tộc khác .

    – Là một loại văn bản pháp luật.

    – Văn bản pháp luật được hiểu là một loại văn bản pháp luật.

    – Văn bản pháp luật được hiểu là quyết định do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành được thể hiện dưới hình thức văn bản nhằm thay đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật và có hiệu lực bắt buộc.

    – Là một văn bản quy phạm pháp luật cao nhất của nhà nước.

    – Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.

    – Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản của đất nước như chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

    – Hiến pháp do Quốc hội ban hành hoặc sửa đổi với ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu tán thành.

    – Là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp.

    – Đạo luật và bộ luật đều là những văn bản có giá trị pháp lý cao, chỉ đứng sau Hiến pháp

    – Nghị quyết của Quốc hội thường được ban hành để giải quyết các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng thường mang tính chất cụ thể.

    – Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành.

    – Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước : Theo hiến pháp năm 1992, Chủ tịch nước ban hành Lẹnh để công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh ban hành quyết định để giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của mình như cho nhập quốc tịch Việt Nam,…

    – Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định chỉ thị của Thủ tướng Chính Phủ: Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ do tập thể Chính Phủ ban hành theo đa số một nửa thực hiện chức năng nhiệm vụ của Chính phủ nhằm cụ thể hóa Hiến pháp, Luật, – Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    – Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm soát nhân dân tối cao.

    – Nghị quyết, Thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị xã hội.

    – Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương có quyền ra các nghi quyết để điều chỉnh các các quan hệ xã hội các lĩnh vực thẩm quyền.

    – Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải phù hợp và không được trái hoặc mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trung ương, nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp trên.

    – Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ là những văn bản do Thủ tướng ban hành để điều hành công việc của Chính phủ thuộc thẩm quyền của Chính phủ.

    – Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ có giá trị pháp lý thấp hơn các băn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ

    – Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp: Trong phạm vi thẩm quyền do luật quy định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp ban hành quyết định và chỉ thị văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.

    – Là hình vi trái pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ dó các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội.

    VD : Một em bé 6 tuổi hoặc một người điên đốt cháy nhà người khác thì đó là hành vi trái pháp luật, nhưng không phải là vi phạm pháp luật vì thiếu yếu tố năng lực trách nhiệm pháp lý.

    * Cấu thành của vi phạm pháp luật:

    – Yếu tố thứ nhất: là mặt khách quan của vi phạm pháp luật. Yếu tố này bao gồm các dấu hiệu : hành vi trái pháp luật hậu quả, quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm.

    – Yếu tố thứ 2 : là khách thể của vi phạm pháp luật. Khách thể của vi phạm là quan hệ xã hội bị xâm hại, tính chất của khách thể là một tiêu chí quan trọng đẻ xác định mức độ nguy hiểm của hành vi. VD hành vi xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tính mạng con người nguy hiểm nhiều hơn hành vi gây rối trật tự công cộng.

    – Yếu tố thứ 3 là mặt chủ quan của vi phạm pháp luật. Mặt chủ quan gồm các dấu hiệu thể hiện trạng thái tâm lý của chủ thể, khía cạnh bên trong của vi phạm đó là các dấu hiệu lỗi của vi phạm thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý, động cơ, mục đích vi phạm có ý nghĩa vô cùng quan trọng để định tội danh trong luật hình sự nhưng đối với nhiều loại hành vi hành chính thì nó không quan trọng lắm.

    – Yếu tố thứ 4 là chủ thể của vi phạm pháp luật. Chủ thể của vi phạm pháp luật phải có năng lực hành vi. Đó có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Đã là cơ quan tổ chức thì luôn có năng lực hành vi nhưng chủ thể cá nhân thì điều quan trọng là phải xác định họ có năng lực hành vi hay không. Nếu là trẻ em dưới 14 tuổi thì không được coi là chủ thể vi phạm hành chính và tội phạm. Dưới 16 tuổi nói chúng không được coi là chủ thể vi phạm kỷ luật lao động bởi vì họ được pháp luật coi là chưa có năng lực hành vi trong lĩnh vực pháp luật tương ứng… người điên , tâm thần,… Cũng được coi là không có năng lực hành vi.

    Câu 7:Trình bày khái niệm, đặc điểm và các loại trách nhiệm pháp lý.

    – Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở chế tài các quy định pháp luật.

    – Cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý và vi phạm pháp luật. Chỉ khi có vi phạm pháp luật mới áp dụng trách nhiệm pháp lý.

    – Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết vụ việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật.

    – Các biện pháp trách nhiệm pháp lý là một loại biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc thù : mang tính chất trừng phạt hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại và đồng thời được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền.

    – Trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự.

    – Trách nhiệm pháp lý hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan quản lý nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp luật hành chính.

    – Trách nhiệm pháp lý dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án áp dụng đối với mọi chủ thế khi họ vi phạm pháp luật dân sự.

    – Trách nhiệm pháp lý kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp,… áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên của cơ quan xí nghiệp mình khi họ vi phạm nội quy, quy chế của nội bộ cơ quan.

    – Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng của học thuyết Mác – Lenin và nhà nước và pháp luật. Vì vậy, nghiên cứu các vấn đề về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa không thể tách rời vấn đề pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    – Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa .

    – Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội và các đoàn thể quần chúng.

    – Nguyên tắc xử sự của công dân.

    – Pháp chế xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    – Tôn trọng tối cao của Hiến pháp và luật: Đó là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho hệ thống phát triển ngày càng hoàn thiện, làm cơ sở để thiết lập trật pháp luật củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    – Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc: Thực hiện tốt yêu cầu này là điều kiện quan trọng để thiết lập một trật tự kỷ cương trong đó cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên.

    – Các cơ quan xây dựng pháp luật, cơ quan tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải hoạt động một các tích cực, chủ động và có hiệu quả: một trong những yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa là phải có những biện pháp nhanh chóng và hữu hiệu để xử lý nghiêm minh và kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật. nhất là tội phạm.

    – Không tách rời công tác pháp chế với văn hóa : trình độ văn hóa nói chung và trình độ pháp lý nói riêng của viên chức nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và công dân có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trình độ văn hóa của công chungs càng cao thì pháp chế càng được củng cố vưng mạnh. Vì vậy, phải gắn công tắc pháp chế với việc nâng cao trình độ văn hóa nói chung và văn hóa pháp lý nói riêng của các viên chức nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và công dân.

    – Để củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ trong đó các biện pháp cơ bản như tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế, đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa tăng cường công tác tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật, tăng cường kiểm công tác kiểm tra giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật.

    – Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế

    + Là biện pháp cơ bản bao trùm xuyên suốt trong quá trình củng cố tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc Đảng đề ra chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

    + Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    – Pháp luật xã hội chủ nghĩa là tiền đề của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Muốn tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và quản lý xã hội bằng pháp luật thì phải có một hệ thống kịp thời thể chế hóa các chủ trương, chính sách đường lối của Đảng.

    – Thường xuyên tiến hành rà soát, hệ thống hóa pháp luật để phát hiện và loại bỏ những quy định pháp luật trùng lặp

    – Kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật.

    – Có kế hoạch xây dựng pháp luật phù hợp với mỗi giai đoạn cụ thể…

    – Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống

    – Đây là biện pháp gồm nhiều mặt:

    + Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý .

    + Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và giáo dục pháp luật.

    – Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ pháp lý có đủ trình độ phẩm chất chính trị và khả năng công tác để sắp xếp vào các cơ quan làm công tác pháp luật.

    – Tăng cường kiểm tra, giám sát xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật là biện pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

    – Điều 8 bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/-7/2000 đã định nghĩa tội phạm như sau:

    + Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong bộ luật hình sự do người có trách nhiệm, năng lực hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến chế độ chính trị chế độ kinh tế nền văn hóa quốc phòng, an ninh trật tự an toàn xã hội quyền lợi ích hợp pháp của Tổ quốc xâm hại tính mạng, sức khỏi danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi ích hợp pháp của công dân, xâm hại những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

    * Các yếu tố cấu thành tội phạm: gồm mặt khách quan, chủ quan, chủ thể, khách thể:

    – Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Những dấu hiệu thuộc về khách quan của tội phạm gồm những hành vi nguy hiểm cho xã hội : tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ của tội phạm còn có các dâu hiệu khác nhau như: phương tiện, công cụ tội phạm, phương pháp thủ đoạn, thời gian, địa điểm, thực hiện phạm tội.

    – Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm bao gồm : lỗi, mục đích, va động cơ phạm tội. Bất cư tội phạm cụ thể nào cũng phải là hành vi được thực hiện một cách có lỗi. Lỗi có hai loại lỗi : lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý.

    – Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau:

    + Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hại cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hành vi đó xảy ra.

    + Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiềm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn những vẫn có ý thức để mặc nó xảy ra.

    – Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau:

    + Người phạm tội tuy thấy trước được hành vi của mình có thể gây nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

    + Người phạm tội không thấy được hành vi của mình có thể gây ra nguy hại cho xã hội, mặc dù có thể thấy trước và có thể thấy hậu quả đó.

    – Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ở mức độ đáng kể.

    – Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của luật hình sự

    – Năng lực chịu trách nhiệm là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người phạm tội. tuổi chịu trách nhiệm hình sự : Người từ 14 tuổi đến 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự với những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng người từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự với mọi loại tội phạm

    – Là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự do tòa án nhân danh nhà nước áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo một trình tự riêng biệt, nhằm trừng trị cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.

    * Các loại hình phạt:

    – Hệ thống hình phạt là tổng thể các hình phạt do nhà nước quy định trong luật hình sự và được sắp xếp theo một trình tự nhất định tùy thuộc và mức độ nghiêm khắc của mỗi hình phạt.

    Điều 21 Bộ luật hình sự phân chia hệ thống hình phạt thành hai nhóm: Hình phạt chính và Hình phạt bổ sung.

    – Các hình phạt chính: Là hình phạt cơ bản được áp dụng cho một loại tội phạm và được tuyên độc lập với mỗi tội phạm tòa án chỉ có thể tuyên án độc lập một hình phạt chính:

    – Các hình phạt bổ sung : là hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ có thể tuyên kèm theo hình phạt chính. Đối với mỗi loại tội phạm tòa án có thể tuyên một hoặc nhiều hình phạt bổ sung nếu điều luật về tội phạm có quy định các hình phạt này.

    + Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định .

    + Tước một số quyền công dân.

    + Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

    + Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

    – Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu là giáo dục giúp đỡ người đó sửa chữa sai lầm triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, khi người chưa thành niên phạm tội thì chủ yếu áp dụng những biện pháp giáo dục phòng ngừa, gia đình nhà trường và xã hội có trách nhiệm tích cực tham gia vào việc thực hiện những biện pháp này.

    – Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình người chưa thành niên phạm tội. Nếu phạt tù có thời hạn thì mức án nhẹ hơn mức an áp dụng với người đã thành niên.

    * Khái niệm tống tụng hình sự:

    – Là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng các cá nhân, cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, góp phần vào giải quyết vụ án hình sự theo quy định của bộ luật hình sự.

    – Luật tố tụng hình sự là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát inh trong quá trình khởi tố, điều tra, xét xử và thi hành án hình sự.

    – Đối tượng chính của luật tố tụng hình sự là các quan hệ xã hội phát sinh từ việc khởi tố truy tố, xét sử và thi hành án hình sự:

    Phương pháp điều chỉnh :

    – Thực hiện sự phối hợp và chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Mỗi cơ quan thực hiện tốt chức năng của mình, cơ quan này có quyền phát hiện, sửa chữa, yêu cầu sửa chữa những vi phạm pháp luật của những cơ quan khác.

    * Các giai đoạn tố tụng hình sự:

    – Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. có dấu hiệu của tội phạm hoặc dựa vào sự tố giác của quần chúng nhân dân để ra quyết định khởi tố.

    – Có thể bắt xong mới khởi tố đối với những tội nghiêm trọng.

    – Cơ quan điều tra trong quân đội khởi tố vụ án hình sự với tội phạm thuộc quyền xét xử của tòa án quân sự.

    – Điều tra: Là giai đoạn thứ 2 của tố tụng hình sự, cơ quan điều tra được sử dụng mọi biện pháp mà luật tố tụng hình sự quy định để thu thập thông các chứng cứ nhằm xác định sự việc phạm tội và con người phạm tội làm cơ sở cho việc truy tố và xử lý tội phạm.Ke biên thu giữ tài sản và tạo điều kiện cần thiết khác theo pháp luật để đảm bảo việc bồi thường thiệt hại sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    + Trong điều kiện đặc biệt có thể bắt người : bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

    Thời gian điều tra tối đa với cấp huyện là 8 tháng, cấp tỉnh là 12 tháng, tòa án nhân dân cấp cao là 16 tháng.

    – Xét xử sơ thẩm: Giai đoạn này bắt đầu từ ngày tòa án nhận được hồ sơ do viện kiểm sát chuyển sang. Sau khi nhận hồ sơ vụ án, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại, yêu cầu của những người tham gia tố tụng, tiến hành các công việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa và phải đưa ra một trong các quyết định sau :

    + Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung.

    + Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án.

    Phiên tòa sơ thẩm được tiến hành qua các bước : khai mạc phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án.

    * Giai đoạn xét xử phúc thẩm :

    – Phúc thẩm: Là việc tòa án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Giai đoạn này có nhiệm vụ kiểm tra lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án sơ thẩm, sửa chữa những sai lầm mà có thể tòa án sơ thẩm mắc phải. Giai đoạn này là giai đoạn độc lập trong tố tụng hình sự. Tòa án phúc thẩm có quyền quyết định:

    + Giữ nguyên bản án sơ thẩm

    + Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

    + Thời hạn kháng cáo của bị cáo và đương sự là 15 ngày kể từ ngày tuyên án và thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát cung cấp 15 ngày, viện kiểm sát cấp trên là 30 ngày. Sau đó bản án có hiệu lực.

    – Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của tố tụng hình sự nhằm thi hành các bản án, và quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án.

    + Công an huyện , chính quyền, phường, thị trấn hoặc cơ quan tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ thi hành án hoặc quyết định của tòa án, báo cáo cho chánh án tòa án đã ra quyết định thi hành án

    – Giám đốc thẩm : xem xét lại bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật trong việc xét xử vụ án.

    + Căn cứ kháng nghị là : việc điều tra xét hỏi ở phiên tòa bị phiến diện, không đầy đủ, kết luận của bản án hoặc quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án.

    + Có sự vi phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng trong điều tra truy tố, xét xử hoặc có sai phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng bộ luật hình sự.

    – Tái thẩm là thủ tục đặc biệt áp dụng đối với bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị, khi phát hiện những tình tiết mới có thể thay đổi cơ bản nội dung bản án hoặc quyết định của tòa án không biết khi ra quyết định đó

    – Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, chánh án tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị tất cả các bản án.

    * Quan hệ pháp luật dân sự: Là quan hệ xã hội được các quy phạm dân sự điều chỉnh trong đó các bên tham gia độc lập về tổ chức và tài sản, bình đẳng về địa vị pháp lý quyền và nghĩa vụ các bền được nhà nước bảo đảm thông qua các biện pháp cưỡng chế.

    – Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự là những người tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự mang quyền và nghĩa vụ trong quan hệ đó. Người nói ở đây bao gồm cá nhân pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác trong đó hộ gia đình và tổ hợp tác là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự.

    – Tuy nhiên dó tính chất đặc điểm và nội dung của các loại qaun hệ xã hội mỗi chủ thể nói trên chỉ có thể tham gia vào những quan hệ pháp luật dân sự nhất định có một số quan hệ pháp luật dân sự chủ thể chỉ có cá nhân hoặc là pháp nhân hoặc hộ gia đình hoặc tổ hợp tác.

    – Cá nhân: Là chủ thể phổ biên của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: công dân Việt Nam, người nước ngoài , người không có quốc tịch sống ở Việt Nam. Nhưng để trở thành chủ thể quan hệ pháp luật dân sự cá nhân phải có năng lực pháp luật nghĩa vụ dân sự – khả năng trở thành người tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự. Khả năng của cá nhân bằng hành vi cảu mình xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo pháp luật là năng lực hành vi dân sự cá nhân.

    – Pháp nhân: Là khái niệm chỉ có những tổ chức như doanh nghiệp, công ty, nông lâm trường, hợp tác xã, cá tổ chức xã hội … tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự với tư cách là những chủ thể độc lập, riêng biệt.

    – Một tổ chức được công nhận là pháp nhân phải có đầy đủ điều kiện sau:

    + Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận.

    + Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ.

    + Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó.

    + Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

    – Hộ gia đình và tổ chức hợp tác xã là hai chủ thể hạn chế chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật dân sự. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình tổ hợp tác quy định sự tồn tại của hai chủ thể này trong quan hệ dân sự. Nhưng chúng không tham gia một cách rộng rãi vào các quan hệ dân sự nên được gọi là những chủ thể hạn chế, chủ thể đặc biệt.

    – Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự là hành vi chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự.

    – Nội dung của quan hệ pháp luật dân sự:

    + Mọi quan hệ pháp luật đều là mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó chủ thể của quyền và chủ thể nghĩa vụ.

    + Quyền dân sự là cách xử sự được phép của người có quyền năng.

    + Trong những quan hệ pháp luật dân sự khác nhau quyền dân sự của các chủ thể có nội dung khác nhau.

    – Chủ thể có quyền trong các quan hệ pháp luật dân sự có thể có quyền năng đó cụ thể:

    + Có quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt những vật thuộc sở hữu của mình trong khuôn khổ mà pháp luật quy định thỏa mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.

    + Có quyền yêu cầu người khác thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định.

    – Khi các quyền dân sự bị vi phạm chủ thể có quyền sử dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật như tự bảo vệ, áp dụng các biện pháp tác động khác….

    + Nghĩa vụ dân sự là cách xử sự bắt buộc của người có nghĩa vụ. Các cách xử sự cũng rất khác nhau tùy theo từng quan hệ pháp luật dân sự cụ thể.

    VD : có quy định rằng hợp đồng dân sự được ký kết theo nguyên tắc tự nguyện, không trái pháp luật, và đạo đức xã hội, đây là nghĩa vụ do luật pháp quy định cho tất cả các chủ thể khi giao kết hợp đồng dân sự, nghĩa vụ của họ đối với nhà nước đối với xã hội nói chung.

    – Quyền sở hữu là một phạm trù gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ vế sở hữu đối với các quan hệ vật chất trong xã hội

    – Quan hệ sở hữu là mối quan hệ giữa người với người về một tài sản nào đó.

    – Khách quan: Quan hệ sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản trong phạm vi luật định.

    – Như vậy quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ sở hữu có thể là người, phân nhân và chủ thể khác có đủ 3 quyền trên.

    – Quyền sở hữu là tổng thể một hệ thống quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.

    * Nội dung quyền sở hữu: Chiếm hữu hợp pháp và chiếm hữu không hợp pháp:

    – Chiếm hữu hợp pháp có cơ sở pháp luật:

    + Làm chủ sở hữu: tài sản mang tên người đó, có hợp đồng mua bán trao tặng.

    + Thừa kế là quyền dịch chuyển quyền sở hữu tài sản của người đã chết cho người còn sống.

    + Thông qua 1 quyết định, mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    – Dựa vào các căn cứ, cơ sở khác của pháp luật:

    + Chiếm hữu bất hợp pháp không có những điều kiện trên

    + Chiếm hữu không hợp pháp là chiếm hữu không có cơ sở pháp luật chiếm hữu hợp pháp

    – Bao gồm quyền chiếm hữu, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

    – Quyền chiếm hữu: Là quyền kiểm soát hoặc làm chủ 1 vật nào đó của chủ sở hữu, biểu hiện ở chỗ : trong thực tế vật đang nằm trong sự chiếm giữ của ai đó hoặc họ đăng kiểm soát làm chủ và chi phối vật theo ý mình VD: chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản, được giao tài sản thông quan giao dịch dân sự, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên,…

    – Quyền sử dụng: Là quyền chủ sở hữu khai thái công dụng, hoa lợi tức từ tài sản. Người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền sử dụng tài sản trong các trường hợp được chủ sở hữu chuyền quyền hoặc cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.

    Quyền định đoạt: là quyền của chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.

    – Chủ sở hữu có quyền tự mình bán, trao đổi, tặng, cho, cho, cho vay, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác.

    – Sở hữu toàn dân : là sở hữu đối với những tài sản mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm các tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

    – Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội : là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung quy định trong điều lệ. Theo quy định tại Điều 215 Bộ luật dân sự thì tài sản thuộc sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội là tài sản được hình thành từ nguồn đóng gốp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định pháp luật.

    – Sở hữu tập thể : là sở hữu của hợp tác xã hoặc các hình thức kinh tế tập thể ổn định khác do cá nhân, hộ gia đình cùng góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung được quy định trong điều lệ.

    – Sở hữu tư nhân : là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiều chủ, sở hữu tư bản tư nhân, theo quy định tại các Điều 220, 221 Bộ luật dân sự. Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng, giá trị.

    – Sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp : là sở hữu của cả tổ chức đó nhằm thực hiện mục đích chung của các thành viên được quy định trong điều lệ. Tài sản thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được quy định tại Điều 224 Bộ luật dân sự.

    – Sở hữu hỗn hợp : là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. Theo Điều 227 Bộ luật dân sự, tài sản được hình thành từ nguồn vốn góp của các chủ sở hữu lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất.

    – Sở hữu chung : là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Tài sản thuộc sở hữu chung là tài sản chung.

    – Theo quy định tại bộ luật dan sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản.

    – Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho người còn sống theo sự định đoạt của người đó khu còn sống.

    – Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhan nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

    – Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc muốn được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

    + Người lập di chúc phải có năng lực hành vi

    + Người lập di chúc phải thể hiện được ý chí tự nguyện

    + Nội dung di chúc phải hợp pháp

    – Di chúc bằng văn bản phải có chứng thực xác nhận.

    – Di chúc bằng miệng: Chỉ được lập khi người lập di chúc đang trong tình trạng nguy kịch, nguy hiểm đến tính mạng và phải có hai người làm chứng thực. Sau ba tháng nếu người đó không chết thì bản di chúc đó không có hiệu lực.

    – Người lập di chúc là người mà thông qua việc lập di chúc để định đoạt khối tài sản của mình cho những người khác sau khi mình chết với ý chí hoàn toàn tự nguyện. Người lập di chúc phải đạt những độ tuổi về khả năng làm hành vi thì di chúc mới có hiệu lực pháp luật. Người lập di chúc chỉ có thể là công dân và phải có tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu hợp pháp của mình.

    – Chỉ định người thừa kế ( điều 651- của bộ luật dân sự ) và có quyền truất quyền hưởng di sản của người được thừa kế.

    – Có quyền phân định khối tài sản cho từng người.

    – Có quyền dành một khối tài sản để thờ cúng.

    – Giao nghĩa vụ thừa kế trong phạm vi tài sản.

    – Có quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản và người phân chia tài sản.

    – Có quyền sủa chữa, thay đổi, bổ sung, thay đổi di chúc.

    – Người được hưởng thừa kế theo di chúc: Nếu là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm thừa kế, chết trước và chết cùng không được hưởng. Nếu là tổ chức thì cũng phải tồn tại trong thời điểm mở thừa kế và phân chia tài sản.

    – Những người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc gồm: mẹ, vợ, chồng, con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khái niệm hành vi và lao động, những người ấy được hưởng 2/3 một suất được chia theo pháp luật.

    – Là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự mua, bán, thuê, mượn, tặng, cho, làm một việc hoặc không làm một việc, hay các thỏa thuận khác nhau mà trong đó có một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.

    * Chủ thể của hợp đồng dân sự:

    Theo pháp luật dân sự thì chủ thể của hợp đồng dân sự có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

    + Cá nhân từ 18 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực hành vi được phép tham gia tất cả các hợp đồng dân sự và tự mình chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng đó.

    + Cá nhân từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi, được ký kết các hợp đồng nếu tự mình có tài sản để thực hiện hợp đồng đó.

    + Cá nhân dưới 16 tuổi tham gia các hợp đồng có giá trị nhỏ phục vụ nhu cầu tối thiểu của mình.

    – Các pháp nhân là chủ thề của hợp đồng dân sự.

    + Một tổ chưc có tư cách pháp lý phải có đủ các điều kiện sau đây. Có tài sản riêng, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập

    + Khi tham gia ký kết hợp đồng dân sự, các bên phải tuân thủ nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện. Không bên nào ép buộc bên nào trong việc ký kết và trong quá trình thực hiện hợp đồng.

    – Hình thức ký kết hợp đồng dân sự:

    + Hình thức miệng : Các điều khoản của hợp đồng được thỏa thuận bằng miệng. Sau khi các bên đã thống nhất với nhau về nội dung của hợp đồng bằng miệng, các bên sẽ bắt đầu thực hiện hợp đồng.

    + Hình thức viết: Khi ký hợp đồng, các bên thỏa thuận và thống nhất về nội dung chi tiết của hợp đồng, sau đó lập văn bản viết tay hoặc đáng máy. Các bên cần phải ký tên mình hoặc đại diện hợp pháp ký tên vào văn bản đã lập

    + Hình thức văn bản có chứng nhận: Đối với những hợp đồng mà pháp luật quy định phải có chứng nhận của cơ quan công chứng Nhà nước như hợp đồng mua bán nhà ở, buộc các bên phải đến cơ quan công chứng để chứng thực.

    + Các bên của hợp đồng có thể tự mình trực tiếp ký kết và thực hiện hợp đồng hoặc ủy quyền cho người khác thay mặt mình ký kết và thực hiện hợp đồng.

    – Nội dung ký kết hợp đồng dân sự:

    + Điều khoản cơ bản : gồm các thỏa thuận cần thiết phải có trong hợp đồng mà nếu thiếu nó thì hợp đồng không được ký kết VD : đối tượng, giá trị của hợp đồng,..

    + Điều khoản thông thường : loại điều khoản này đã được quy định trong các văn bản pháp luật. Các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận, nhưng bắt buộc phải thực hiện. VD : những nghĩa vụ cụ thể của bên thuê nhà.

    + Điều khoản tùy nghi : Đối với một nghĩa vụ các bên có thể thỏa thuận hai hay nhiều cách thức để thực hiện. Bên có nghĩa vụ có thể lựa chọn các dễ dàng, phù hợp với mình để thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, Luật đã quy định về một nghĩa vụ nào đó những các bên có thể thỏa thuận khác với quy định đó, tuy nhiên không được ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội.

    – Khi ký kết hợp đồng, các bên cần phải thỏa thuận từng điều khoản của hợp đồng để cùng nhau thống nhất về nội dung của hợp đồng. Các bên không được dùng quyên lực, địa vị xã hội, … để ép bên kia ký kết hợp đồng. Các điều khoản mà các bên thỏa thuận phải phù hợp với phong tục tập quán, pháp luật, đảm bảo lợi ích riêng và lợi ích chung của xã hội.

    – Là ngành luật trong pháp luật trong hệ thống pháp luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa tòa án, viện kiểm sát với những người tham gia tố tụng phát sinh trong quá trình tòa án giải quyết vụ án dân sự.

    – Là những quan hệ xã hội giữa tòa án, viện kiểm sát với những người tham gia tố tụng phát sinh trong quá trình tòa án giải quyết vụ án dân sự. các quan hệ phát sinh phổ biến nhất ở tất cả các vụ án dân sự là quan hệ giữa tòa án và dân sự. Quan hệ giữa viện kiểm soát với những người tham gia tố tụng chỉ phát sinh ở những vụ án viện kiểm sát tham gia điều tra vụ án.

    – Quyền uy và cưỡng chế, quyền uy và hòa giải .

    * Khởi kiện và khởi tố vụ án dân sự:

    – Khởi kiện, khởi tố vụ án là giai đoạn đầu của tố tụng dân sự thông qua việc khởi kiện khởi tố phát sinh vụ án dân sự tại tòa án.

    – Quyền khởi kiện vụ án dân sự thuộc về cá nhân pháp nhan hoặc chủ thể khác có quyền lợi bị xâm phạm

    – Quyền khởi tố vụ án dân sự thuộc về viện kiểm sát

    – Lập hồ sơ vụ án: Lập hồ sơ thuộc trách nhiệm của thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Để lập hồ sơ vụ án thẩm phán có thể tiến hành các biện pháp điều tra sau:

    + Lập lời khai của đương sự, người làm chứng về những vấn đề cần thiết.

    + Yêu cầu cơ quan nhà nước tổ chức xã hội hữu quan hoặc công dân cung cấp bằng chứng có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án

    + Yêu cầu cơ quan chuyên môn định giá hoặc lập hội đồng định giá tài sản có tranh chấp.

    – Hòa giải vụ án: Là một thủ tục tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án tòa án tiến hành hòa giải để giúp đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trừ những việc sau:

    + Hủy việc kết hôn trái pháp luật.

    + Đòi bồi thường thiệt hại tài sản của nhà nước.

    + Những việc phát sinh từ giao dịch trái pháp luật.

    + Những việc xác định công dân mất tích hoặc đã chết.

    + Những việc khiếu nại về danh sách cử tri.

    + Thủ tục bắt đầu phiên tòa.

    + Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa.

    + Tranh luận tại phiên tòa.

    – Thủ tục phúc thẩm: Là thủ tục tố tụng dân sự trong đó có tòa án cấp trên xét lại vụ án mà bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới bị kháng cáo kháng nghị:

    + Khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm tòa án phúc thẩm có quyền.

    + Giữ nguyên bản án, quyết định.

    + Hủy bản án quyết định để xét xử lại.

    + Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án.

    + Bản án, quyết định phúc thẩm là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay.

    – Thủ tục tái thẩm: Là thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự trong đó tòa án có thẩm quyền xét lại vụ án mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Các bản án quyết định của tòa án đã có hiệu lực bị kháng nghị khi có một trong những căn cứ sau:

    + Việc điều tra không đầy đủ.

    + Kết luận trong bản án quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

    + Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

    + Có sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng pháp luật.

    – Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền :

    + Giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

    + Giữ nguyên bản án quyết định đúng pháp luật của tòa án cấp dưới đã bị hủy bỏ hoặc bị sửa

    + Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

    + Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm

    + Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ việc giải quyết vụ án

    – Thi hành án dân sự: Là thủ tục của tố tụng dân sự, trong đó tòa án có thẩm quyền xét lại vụ án mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì mới phát hiện được những tình tiết quan trọng làm thay đổi nội dung vụ án các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi có một trong những căn cứ sau:

    + Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự không thể biết đã xác định được lời khai của người làm chứng kết luận giám định hoặc lời dịch của người phiên dịch rõ rang không đúng sự thật hoặc đã có sự giả mạo bằng chứng thẩm phán hội thẩm nhân dân kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc tình tiết kết luận.

    – Theo quy định tại bộ luật dân sự, thừa kế là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống, tài sản để lại được gọi là di sản.

    – Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản thừa kế của người đã chết cho người còn sống theo sự định đoạt của người đó khu còn sống.

    – Là việc để lại tài sản của người chết cho những người thừa kế không phải theo di chúc, mà theo quy định của pháp luật về thừa kế.

    – Theo quy định Điều 678 Bộ luật dân sự thì việc thừa kế theo luật áp dụng trong các trường hợp sau:

    – Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, không còn ai vào thời điểm mở thừa kế.

    – Những người được chỉ định là người thừa kế theo di chúc mà họ không có quyền hưởng di sản hoặc tự họ từ chối quyền hưởng di sản.

    – Pháp luật thừa kế nước ta chia những người thuộc diện thừa kế theo luật làm 3 hàng sau:

    + Hàng thứ nhất: Vợ, chồng, bố, mẹ(đẻ nuôi), con(đẻ, nuôi)

    + Hàng thứ 2: Ông, bà( nội, ngoại), anh chị em ruột của người chết.

    + Hàng thứ 3: Các anh chị em ruột của bố, mẹ người chết, các con của anh chị em ruột của người chết.

    – Thừa kế thế vị : Theo nguyên tắc thì người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, những pháp luật về thừa kế của nước ta còn quy định trường hợp.

    – Khi con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản thì cháu của người đó được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng (nếu còn sống) nếu cháu cũng bị chết trước người để lại di sản, thì chắt được hưởng phần di sản mà người cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống .

    – Theo hướng dẫn của hội đông thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thì cháu, chắt trở thành người thừa kế thế vị của ông, bà, cụ phải còn sống vào thời điểm ông, bà, cụ của họ chết.

    – Trường hợp cháu chắt sinh ra khi ông bà cụ chết nhưng đã thành thai trước khi ông, bà, cụ chết thì cũng được coi là thừa kế thế vị của ông, bà, cụ của họ.

    – Trước khi chia phần di sản thừa kế những người được thừa kế phải thanh toán những khoản theo thứ tự sau:

    + Tiền chi phí mai táng cho người chết, tiền cấp dưỡng còn thiếu, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ, tiền công lao động, tiền bồi thường thiệt hại, tiền thuế, tiền phạt, các món nợ Nhà nước, các món nợ của công dân, pháp nhân, chi phí cho việc bảo quản di sản.

    * Doanh nghiệp: Là một tổ chức kinh tế có tên gọi riêng tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

    * Kinh doanh: Là việc thực hiện số 1 các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến nơi tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

    * Khái niệm của doanh nghiệp nhà nước:

    – Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, do nhà nước thành lập và quản lý và nhằm mục đích hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội nhà nước giao.

    – Có khả năng hưởng các quyền và chịu các nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động kinh doanh của mình giới hạn vi tài sản do doanh nghiệp quản lý.

    – Doanh nghiệp nhà nước có quyền nâng nhất định đối với tài sản thuộc thẩm quyền quản lý của mình.

    – Doanh nghiệp có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn dó nhà nước giao.

    Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có số vốn lơn hơn hoặc bằng vốn pháp định do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

    – Mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi đều có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân nếu có đủ các điều kiện luật định .

    – Quá trình thành lập đăng ký kinh doanh giải thể thay thế phá sản doanh nghiệp tư nhân tiến hành theo một trình tự nhất định theo luật định.

    – Trong các hoạt động kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân hành động nhân danh doanh nghiệp.

    – Nhưng, khác với các loại hình doanh nghiệp khác doanh nghiệp tư nhân không có tài sản riêng tách ra khỏi tài sản của chủ doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp là nguyên đơn, bị đơn trước tòa án và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình cho những nợ nần của doanh nghiệp.

    – Doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân Việt Nam

    – Là một tổ chức kinh tế có tên gọi riêng tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.

    – Kinh doanh là việc thực hiện số 1 các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến nơi tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

    * Khái niệm hợp tác xã:

    – Hợp tác xã là tổ chức kinh tế do những người lao động có lợi ích kinh tế chung tự nguyện cùng góp vốn góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

    – Tự nguyện gia nhập và ra khỏi hợp tác xã : mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện theo quy định của luật này, tán thành điều lệ hợp tác xã đều có thể trở thành xã viên hợp tác xã, xã viên có quyền ra khỏi hợp tác xã theo quy định của điều lệ hợp tác xã.

    – Quản lý dân chủ và bình đẳng xã viên hợp tác xã có quyền tham gia, quản lý, kiểm tra, giám sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết.

    – Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh dịch vụ tự quyết định và phân phối thu nhập.

    – Chia lãi đảm bảo kết hợp lợi ích xã hội và sự phát triển của hợp tác xã sau khi làm song nghĩa vụ nộp thuế.

    – Hợp tác xã và phát triển cộng đồng: Xã viên phát huy tinh thần tập thể, nâng cao ý thức trong việc phát triển hợp tác xã và trong cộng đồng xã hội hợp tác giữa các hợp tác xã với nhau ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

    – Khác với doanh nghiệp tư nhân khi mà hai hoặc nhiều nhà kinh doanh hợp vốn với nhau cùng kinh doanh với một mục đích chung, công ty là một hình thức tổ chức kinh tế do hai hoặc nhiều cá thể thành lập với nguyên tắc cùng góp vốn, cùng hương lợi và phân chia rủi ro.

    – Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế hàng hóa, xuất hiện nhiều hình thức công ty với hình thức khác nhau.

    – Có hai hình thức công ty đó là công ty đối nhân và công ty đối vốn:

    + Trong công ty đối nhân, yếu tố “hợp sức “của các thành viên là quan trọng.

    + Các thành viên do có sự quen biết tín nhiệm nên liên kết kinh doanh với nhau liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về các hoạt động kinh doanh của công ty.

    + Sự tồn tại của công ty vì thế phụ thuộc vào nhan thân các thành viên, do đó công ty đối nhân thường không có tư cách pháp nhân.

    + Các công ty đối nhân thường gặp là các công ty được lập theo dân luật, công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản.

    – Luật Việt nam hiện hành ghi nhận sự tồn tại của công ty đối nhân dưới hai dạng: nhóm kinh doanh và tổ hợp tác.

    – Khác với công ty đối nhân, công ty đối vốn là loại hình mà sự quen biết tín nhiệm giữa các thành viên không là yếu tố quyết định mà phần vốn góp và sự phân chia lời lãi tương ứng với vốn góp trờ thành một đặc điểm đặc trưng.

    – Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi nhân thân của các thành viên. Một số tổ chức kinh tế mới được hình thành độc lập với các thành viên sáng lập ra nó.

    – Công ty đối vốn có tài sản riêng có cơ quan đại diện riêng trong quan hệ với những bên thứ 3 chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của mình… Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp vào thành lập công ty.

    Câu 20: Trình bày khái niệm, đối tượng, phương pháp điều chỉnh của luật hôn nhân và gia đình. Phân tích những điều kiện kết hôn được quy định tại luật hôn nhân và gia đình.

    – Luật hôn nhân và gia đình là ngành luật trong hệ thống pháp luật tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình về nhân than và tài sản

    – Là những cách thức, biện pháp mà các quy phạm pháp luật hôn nhân gia đình tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó, phù hợp ý chí của nhà nước

    – Thỏa thuận, cưỡng chế giáo dục.

    * Những điều kiện kết hôn được theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình:

    – Kết hôn là việc nam và nữ lấy nhau thành vợ chồng theo quy định của pháp luật.

    – Quan hệ vợ chồng được xác lập dựa trên sự tự nguyện của nam nữ được pháp luật thừa nhận.

    – Các điều kiện của nam và nữ : tuổi của nam từ 20 trở lên, tuổi của nữ từ 18 tuổi trở lên có sự tự nguyện của hai bên khi kết hôn, tuân thủ nguyên tắc một vợ một chồng. Không mắc một số bệnh theo luật định như tâm thần hoa liễu, sida (Điều 7 Luật hôn nhân và gia đình và Pháp lệnh về quan hệ hôn nhân – gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài), không có quan hệ nhân thân thuộc mà luật cấm(những người cùng dòng máu về trực hệ, những người khác có họ tròn phạm vi ba đời, cha mẹ nuôi và con nuôi).

    – Việc kết hôn phải được ủy ban nhân dân cơ sở nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận.

    – Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài do cơ quan đại diện ngoại giao của nước ta ở nước ngoài công nhận.

    – Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài có quy định riêng.

    – Hủy hôn trái pháp luật. Nếu hôn nhân được thực hiện vi phạm các quy định của pháp luật thì theo đúng trình tự luật hôn nhân sẽ không được nhà nước thừa nhận, tòa án sẽ giải quyết các vấn đề pháp lý khác phát inh như vấn đề phân chia tài sản, cấp dưỡng về con cái. Nếu việc kết hôn trái pháp luật có các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Cập nhật bởi minhlong3110 ngày 16/07/2017 10:44:15 CH

    Người đang làm, trời đang nhìn, pháp luật đang điều chỉnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Luật Hiến Pháp Việt Nam Pdf
  • Giáo Trình Luật Hành Chính Việt Nam Pdf
  • Giáo Trình Luật Thuế Việt Nam Pdf
  • Việt Vị Là Gì? Lỗi Việt Vị Trong Bóng Đá
  • Bạn Có Biết Luật Việt Vị Trong Bóng Đá Là Gì Chưa? (Cập Nhật)
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “làng” (Kim Lân)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tích Hợp Liên Môn Chuyên Đề Ôn Tập Văn Bản Làng Kim Lân
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Văn Lớp 9 Bài Làng Của Kim Lân
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Làng
  • Thay Lời Ông Hai Kể Lại Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Bài 25. Trả Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Văn bản: “Làng” của Kim Lân

    I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Kim Lân.

    – Kim Lân (1920-2007), quê tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn.

    – Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

    – Ông là người viết ít nhưng rất thành công, có đóng góp quan trọng vào tiến tình phát triển của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

    2. Tác phẩm:

    a. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

    – Truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    b. Nội dung chính:Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

    – Phần 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Phần 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

    – Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    3. Tóm tắt nội dung:

    Câu chuyện kể về ông Hai Thu, người làng Chợ Dầu. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ Chí Minh, toàn dân tham gia kháng chiến, kể cả hình thức tản cư. Do hoàn cảnh neo đơn, ông Hai đã cùng vợ con lên tản cư ở Bắc Ninh dù rất muốn ở lại làng chiến đấu.

    Ở nơi tản cư, tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ bên cạnh để khoe về làng mình rằng làng ông có nhà cửa san sát, đường thôn ngõ xóm sạch sẽ. Ông khoe cái phòng thông tin, cái chòi phát thanh và phong trào kháng chiến của làng, khi kể về làng ông say mê, háo hức lạ thường.

    Ở đây, ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến, ông vui mừng trước những chiến thắng của quân dân ta. Nhưng rồi một hôm, ở quán nước nọ, ông nghe được câu chuyện của một bà dưới xuôi lên tản cư nói rằng làng Dầu của ông theo giặc. Ông vô cùng đau khổ, xấu hổ, cúi gầm mặt đi thẳng về nhà.

    Suốt ngày chẳng dám đi đâu, chẳng dám nói chuyện với ai, chỉ nơm nớp lo mụ chủ nhà đuổi đi. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai,không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần.

    Buồn khổ quá, ông tâm sự với đứa con út cho khuây khoả. Ông chớm có ý định về làng để xác minh sự thật nhưng lại tự mình phản đối vì nghĩ về làng, làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ bởi làng ông đã theo Tây mất rồi.

    Thế rồi một hôm có ông chủ tịch dưới xã lên chơi cải chính tin làng ông theo giặc. Ông lão sung sướng mùa tay đi khoe khắp làng rằng nhà ông đã bị đốt nhẵn. Tối hôm ấy, ông lại sang nhà bác Thứ kể về làng mình. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Tình huống truyện độc đáo, gây cấn.

    * Tình huống: Ông Hai rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình. Bất gờ, ở nơi tản cư, ông Hai nghe được tin làng Chợ * Dầu theo giặc.

    – Tình huống ấy khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tình yêu nước, mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, thiết tha. Đặt nhân vật vào tình huống gay gắt ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy tình yêu nước, tinh thần kháng chiến lớn rộng bao trùm lên tình yêu làng, nó chi phối và thống nhất, mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến.

    – Tình huống đối nghịch với tình cảm tự hào mãnh liệt về làng Chợ Dầu của ông Hai. Khác với suy nghĩ về một làng quê “Tinh thần cách mạng lắm” của ông. Tình huống ấy có vai trò: tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng,yêu nước ở ông Hai.

    2. Nhân vật ông Hai.

    a. Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe làng mình theo giặc đến kết thúc truyện.

    – Ở nơi tản cư, tình yêu làng của ông hai hoà nhập với tình yêu nước.

    – Xa làng, ở nơi tản cư ông nhớ làng da diết. Nỗi nhớ làng khiến ông thay tâm đổi tính: “Lúc nào ông cũng thấy bực bội, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm, hơi một tí là gắt, hơi một tý là chửi”.

    – Khi được nói chuyện về làng, ông vui náo nức đến lạ thường “Hai con mắt ông sáng hắt lên, cái mặt biến chuyển hoạt động”.

    – Ông quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, đến các tin chiến thắng của quân ta.

    + Tin một em bé trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cầm quốc kỳ trên tháp rùa.

    + Một anh trung đội trưởng sau khi giết được 7 tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng.

    + Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người mua hàng đã bắt sóng được tên quan hai bốt ngay giữa chợ mà “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên”.

    – Yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc kháng chiến của làng. Quan tâm tha thiết, nồng nhiệt đến cuộc kháng chiến. Đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc, là niềm vui mộc mạc của một tấm lòng yêu nước chân thành.

    ⇒ Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó với làng quê và cuộc kháng chiến.

    b. Khi nghe tin làng Dầu theo giặc:

    sững sờ,xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”

    + Nỗi bất hạnh lớn đã đổ sụp xuống đầu ông, ông sững sờ, xấu hổ, uất ức: “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui,niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ

    + Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông,cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

    + Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

    + Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớ, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.

    ⇒ Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    + Khi nghe tin làng Dầu theo giặc, tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai đã có một cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông Hai đã dứt khoát chọn lựa theo cách của ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây thì phải thù”, tình yêu làng nước đã rộng lớn hơn bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù xác định như thế, ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.

    + Khi mụ chủ nhà biết chuyện, có ý muốn đuổi khéo gia đình ông đi, ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây,phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi.Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây , tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn.Quê hương và Tổ quốc,bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.

    + Đau khổ, ông không biết tâm sự cùng ai ngoài đứa con bé bỏng. Yêu làng Dầu, ông muốn khắc sâu vào trái tim bé nhỏ của con tình cảm với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ, đó cũng chính là tấm lòng thuỷ chung “trước sau như một” với cách mạng của ông. Tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước.

    ⇒ Đau khổ tột cùng khi nghe tin làng mình theo giặc nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt với cuộc kháng chiến thì vẫn không hề thay đổi. Tình quê và lòng yêu nước thật sâu nặng và thiêng liêng. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến. Ngần ấy tuổi đầu mà nước mắt ông cứ ròng ròng khi nghĩ về làng. Nỗi đau ấy mới đáng trân trọng làm sao bởi đó là nỗi đau của một con người danh dự của Làng như chính bản thân mình.

    c. Khi tin đồn được cải chính:

    – Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu

    + Thái độ của ông thay đổi hẳn “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Ông lại chạy đi khoe khắp nơi “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.

    – Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân

    – Càng thêm yêu và tự hào về làng. Càng thêm tin tưởng vào cách mạng, tin tưởng vào cụ Hồ và Ủy ban kháng chiến.

    3. Tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến qua cuộc trò chuyện với đứa con út.

    – Trong tâm trọng bị dồn nén và bế tắc, ông Hai chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu sa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.

    – Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai:

    + Tình yêu sâu nặng với cái làng chợ Dầu (Ông muốn đứa con nhỏ, thực chất ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu).

    + Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ (Anh em đồng chí có biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông). Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng (Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).

    ⇒ Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với kháng chiến.Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất,hòa quyện như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    4. Nghệ thuật.

    -Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách. Truyện khắc hoạ thành công nhân vật ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước tha thiết. Đặc biệt, việc đặt nhân vật vào tình huống cụ thể góp phần thể hiện tính cách, diễn biến và chiều sâu tâm trạng nhân vật.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế. Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ.

    + Ngôn ngữ nhân vật lúc đối thoại, lúc độc thoại mang đậm chất nông thôn, nhuần nhuỵ mà đặc sắc, gợi cảm. Chân dung sống động, đẹp đẽ của người nông dân thời kỳ đầu kháng chiến. Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu ở điểm nhìn của nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ của nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.

    * Liên hệ:

    * Tác phẩm viết về tình cảm quê hương:

    – Lòng yêu nước (E-ren-bua)

    – Quê hương (Đỗ Trung Quân)

    – Quê hương (Giang Nam)

    – Quê hương (Tế Hanh)

    – Lao xao (Duy Khán)

    – Buổi học cuối cùng (Đô-đê)

    * Nét chung của các tác phẩm:

    – Tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước.

    – Xây dựng những biểu tượng đẹp, kì vĩ.

    – Những truyện ngắn và thơ trên đều viết về lòng yêu quê hương đất nước nhưng ở đó tình cảm mới đơn thuần là tình yêu, chưa mang tính khái quát, chưa có tình huống rõ ràng để bộc lộ tình yêu ấy.

    – Còn ở truyện ngắn “Làng”, tình yêu làng ở ông Hai đã trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng của mình.

    – Tình yêu làng quê phải được đặt trong tình yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.

    – “Làng” có tình huống được xây dựng hết sức đặc sắc, bất ngờ mà hợp lý. “Làng” là lời khẳng định giai đoạn tìm đường và nhận đường của nền văn hoá mới. Văn hoá kháng chiến chống Pháp trở thành một bộ phận của kháng chiến, tích cực tham gia kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến, cho niềm tin.

    Dàn ý phân tích truyện ngắn :Làng” của Kim lân

    I. Mở bài.

    – Về đề tài quê hương đất nước trong văn học: Đây là một đề tài quen thuộc của văn học nhưng không bao giờ xưa cũ.

    – Giới thiệu về tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân: Một tác phẩm viết về đề tài quen thuộc nhưng vẫn để lại những rung động sâu sắc trong lòng độc giả bởi tình yêu làng yêu nước và tinh thần kháng chiến của nhân vật ông Hai- nhân vật trung tâm của tác phẩm.

    II. Thân bài. 1. Hoàn cảnh đặc biệt của ông Hai:

    + Xuất thân là một người nông dân quanh năm gắn bó với lũy tre làng.

    + Một người yêu làng nhưng phải rời làng đi tản cư.

    2. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư. a. Tình cảm của ông Hai với làng.

    – Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng.

    – Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.

    – Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình.

    b. Tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến.

    – Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến.

    + Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.

    + Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng của quân ta.

    + Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên.

    ⇒ ngôn ngữ quần chúng, độc thoại ⇒ Tự hào, vui sướng, tin tưởng khi nghe tin về cuộc kháng chiến, đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc.

    2. Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc. a. Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    – Khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ:

    +”Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”.

    + Lặng đi không thở được, giọng lạc đi.

    + Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật ⇒ bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã.

    b. Về đến nhà trọ.

    – Nằm vật ra giường, tủi thân, nước mắt giàn ra.

    – Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”

    – Ông nắm chặt tay, rít lên: “chúng bay … mà nhục nhã thế này”.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc.

    c. Những ngày sau đó.

    – Không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà, chột dạ, nơm nớp, lủi ra một góc, nín thít ⇒ Nỗi ám ảnh nặng nề, biến thành sự sợ hái thường xuyên.

    – Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi: ông bế tắc, tuyệt vọng.

    – Ông băn khoăn trước quyết định “hay là về làng” nhưng cuối cùng ông đã gạt bỏ ngay ý nghĩ bởi đối với ông: “làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”.

    – Ông trò chuyện với đứa con út để khẳng định thêm : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.

    3. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính.

    – Thái độ ông Hai thay đổi hẳn:

    + ” cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”.

    + mồm bỏm bẻm nhai trầu, mắt hấp háy.

    + Chạy đi khoe khắp nơi về làng của mình.

    ⇒ Vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, cũng đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai.

    III. Kết bài

    – Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

    – Liên hệ tới lòng yêu làng quê, yêu đất nước hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Truyện Ngắn Làng
  • 10 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long Hay Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Siêu Ngắn
  • Bài 21. Phương Pháp Tả Cảnh
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Của Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: Làng (Kim Lân)

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Thcs Đào Duy Từ Hà Nội
  • Soạn Bài: Trong Lòng Mẹ – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Trong Lòng Mẹ”
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu Của Nguyên Hồng)
  • Văn bản: “Làng” của Kim Lân

    I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Kim Lân.

    – Kim Lân (1920-2007), quê tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn.

    – Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

    – Ông là người viết ít nhưng rất thành công, có đóng góp quan trọng vào tiến tình phát triển của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

    2. Tác phẩm:

    a. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

    – Truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    b. Nội dung chính:Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

    c. Bố cục: 3 phần:

    – Phần 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Phần 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

    – Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    3. Tóm tắt nội dung:

    Câu chuyện kể về ông Hai Thu, người làng Chợ Dầu. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ Chí Minh, toàn dân tham gia kháng chiến, kể cả hình thức tản cư. Do hoàn cảnh neo đơn, ông Hai đã cùng vợ con lên tản cư ở Bắc Ninh dù rất muốn ở lại làng chiến đấu.

    Ở nơi tản cư, tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ bên cạnh để khoe về làng mình rằng làng ông có nhà cửa san sát, đường thôn ngõ xóm sạch sẽ. Ông khoe cái phòng thông tin, cái chòi phát thanh và phong trào kháng chiến của làng, khi kể về làng ông say mê, háo hức lạ thường.

    Ở đây, ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến, ông vui mừng trước những chiến thắng của quân dân ta. Nhưng rồi một hôm, ở quán nước nọ, ông nghe được câu chuyện của một bà dưới xuôi lên tản cư nói rằng làng Dầu của ông theo giặc. Ông vô cùng đau khổ, xấu hổ, cúi gầm mặt đi thẳng về nhà.

    Suốt ngày chẳng dám đi đâu, chẳng dám nói chuyện với ai, chỉ nơm nớp lo mụ chủ nhà đuổi đi. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai,không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần.

    Buồn khổ quá, ông tâm sự với đứa con út cho khuây khoả. Ông chớm có ý định về làng để xác minh sự thật nhưng lại tự mình phản đối vì nghĩ về làng, làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ bởi làng ông đã theo Tây mất rồi.

    Thế rồi một hôm có ông chủ tịch dưới xã lên chơi cải chính tin làng ông theo giặc. Ông lão sung sướng mùa tay đi khoe khắp làng rằng nhà ông đã bị đốt nhẵn. Tối hôm ấy, ông lại sang nhà bác Thứ kể về làng mình. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Tình huống truyện độc đáo, gây cấn.

    * Tình huống: Ông Hai rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình. Bất gờ, ở nơi tản cư, ông Hai nghe được tin làng Chợ * Dầu theo giặc.

    – Tình huống ấy khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tình yêu nước, mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, thiết tha. Đặt nhân vật vào tình huống gay gắt ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy tình yêu nước, tinh thần kháng chiến lớn rộng bao trùm lên tình yêu làng, nó chi phối và thống nhất, mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến.

    – Tình huống đối nghịch với tình cảm tự hào mãnh liệt về làng Chợ Dầu của ông Hai. Khác với suy nghĩ về một làng quê “Tinh thần cách mạng lắm” của ông. Tình huống ấy có vai trò:  tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng,yêu nước ở ông Hai.

    2. Nhân vật ông Hai.

    a. Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe làng mình theo giặc đến kết thúc truyện.

    a. Trước khi nghe tin dữ:

    – Ở nơi tản cư, tình yêu làng của ông hai hoà nhập với tình yêu nước.

    – Xa làng, ở nơi tản cư ông nhớ làng da diết. Nỗi nhớ làng khiến ông thay tâm đổi tính: “Lúc nào ông cũng thấy bực bội, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm, hơi một tí là gắt, hơi một tý là chửi”.

    – Khi được nói chuyện về làng, ông vui náo nức đến lạ thường “Hai con mắt ông sáng hắt lên, cái mặt biến chuyển hoạt động”.

    – Ông quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, đến các tin chiến thắng của quân ta.

    + Tin một em bé trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cầm quốc kỳ trên tháp rùa.

    + Một anh trung đội trưởng sau khi giết được 7 tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng.

    + Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người mua hàng đã bắt sóng được tên quan hai bốt ngay giữa chợ mà “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên”.

    – Yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc kháng chiến của làng. Quan tâm tha thiết, nồng nhiệt đến cuộc kháng chiến. Đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc, là niềm vui mộc mạc của một tấm lòng yêu nước chân thành.

    ⇒ Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó với làng quê và cuộc kháng chiến.

    b. Khi nghe tin làng Dầu theo giặc:

    sững sờ,xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”

    + Nỗi bất hạnh lớn đã đổ sụp xuống đầu ông, ông sững sờ, xấu hổ, uất ức: “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui,niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ

    + Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ  trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông,cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

    + Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ  trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

    + Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớ, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.

    ⇒ Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    + Khi nghe tin làng Dầu theo giặc, tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai đã có một cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông Hai đã dứt khoát chọn lựa theo cách của ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây thì phải thù”, tình yêu làng nước đã rộng lớn hơn bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù xác định như thế, ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.

    + Khi mụ chủ nhà biết chuyện, có ý muốn đuổi khéo gia đình ông đi, ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng  khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây,phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi.Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây , tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn.Quê hương và Tổ quốc,bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.

    + Đau khổ, ông không biết tâm sự cùng ai ngoài đứa con bé bỏng. Yêu làng Dầu, ông muốn khắc sâu vào trái tim bé nhỏ của con tình cảm với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ, đó cũng chính là tấm lòng thuỷ chung “trước sau như một” với cách mạng của ông. Tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước.

    ⇒ Đau khổ tột cùng khi nghe tin làng mình theo giặc nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt với cuộc kháng chiến thì vẫn không hề thay đổi. Tình quê và lòng yêu nước thật sâu nặng và thiêng liêng. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến. Ngần ấy tuổi đầu mà nước mắt ông cứ ròng ròng khi nghĩ về làng. Nỗi đau ấy mới đáng trân trọng làm sao bởi đó là nỗi đau của một con người danh dự của Làng như chính bản thân mình.

    c. Khi tin đồn được cải chính:

    – Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu

    + Thái độ của ông thay đổi hẳn “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Ông lại chạy đi khoe khắp nơi “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.

    – Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân

    – Càng thêm yêu và tự hào về làng. Càng thêm tin tưởng vào cách mạng, tin tưởng vào cụ Hồ và Ủy ban kháng chiến.

    3. Tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến qua cuộc trò chuyện với đứa con út.

    – Trong tâm trọng bị dồn nén và bế tắc, ông Hai chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ.

    “… Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:

    – Là con thầy mấy lại con u.

    – Thế nhà con ở đâu?

    – Nhà ta ở làng Chợ Dầu.

    – Thế con có thích về làng chợ Dầu không ?

    Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:

    – Có.

    Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:

    Thằng bé dơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:

    – Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

    Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:

    Anh em đồng chí có biết cho bố con ông.

    Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.

    Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai…”.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu sa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.

    – Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai:

    + Tình yêu sâu nặng với cái làng chợ Dầu (Ông muốn đứa con nhỏ, thực chất ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu).

    + Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ (Anh em đồng chí có biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông). Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng (Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).

    ⇒ Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với kháng chiến.Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất,hòa quyện như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    4. Nghệ thuật.

    -Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách. Truyện khắc hoạ thành công nhân vật ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước tha thiết. Đặc biệt, việc đặt nhân vật vào tình huống cụ thể góp phần thể hiện tính cách, diễn biến và chiều sâu tâm trạng nhân vật.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế. Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ.

    + Ngôn ngữ nhân vật lúc đối thoại, lúc độc thoại mang đậm chất nông thôn, nhuần nhuỵ mà đặc sắc, gợi cảm. Chân dung sống động, đẹp đẽ của người nông dân thời kỳ đầu kháng chiến. Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu ở điểm nhìn của nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ của nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.

    * Liên hệ:

    * Tác phẩm viết về tình cảm quê hương:

    – Lòng yêu nước (E-ren-bua)

    – Quê hương (Đỗ Trung Quân)

    – Quê hương (Giang Nam)

    – Quê hương (Tế Hanh)

    – Lao xao (Duy Khán)

    – Buổi học cuối cùng (Đô-đê)

    * Nét chung của các tác phẩm:

    – Tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước.

    – Xây dựng những biểu tượng đẹp, kì vĩ.

    * Nét riêng của “Làng”:

    – Những truyện ngắn và thơ trên đều viết về lòng yêu quê hương đất nước nhưng ở đó tình cảm mới đơn thuần là tình yêu, chưa mang tính khái quát, chưa có tình huống rõ ràng để bộc lộ tình yêu ấy.

    – Còn ở truyện ngắn “Làng”, tình yêu làng ở ông Hai đã trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng của mình.

    – Tình yêu làng quê phải được đặt trong tình yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.

    – “Làng” có tình huống được xây dựng hết sức đặc sắc, bất ngờ mà hợp lý. “Làng” là lời khẳng định giai đoạn tìm đường và nhận đường của nền văn hoá mới. Văn hoá kháng chiến chống Pháp trở thành một bộ phận của kháng chiến, tích cực tham gia kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến, cho niềm tin.

    Dàn ý phân tích truyện ngắn :Làng” của Kim lân

    I. Mở bài.

    – Về đề tài quê hương đất nước trong văn học: Đây là một đề tài quen thuộc của văn học nhưng không bao giờ xưa cũ.

    – Giới thiệu về tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân: Một tác phẩm viết về đề tài quen thuộc nhưng vẫn để lại những rung động sâu sắc trong lòng độc giả bởi tình yêu làng yêu nước và tinh thần kháng chiến của nhân vật ông Hai- nhân vật trung tâm của tác phẩm.

    II. Thân bài.

    1. Hoàn cảnh đặc biệt của ông Hai:

    + Xuất thân là một người nông dân quanh năm gắn bó với lũy tre làng.

    + Một người yêu làng nhưng phải rời làng đi tản cư.

    2. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư.

    a. Tình cảm của ông Hai với làng.

    – Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng.

    – Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.

    – Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình.

    b. Tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến.

    – Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến.

    + Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.

    + Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng của quân ta.

    + Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên.

    ⇒ ngôn ngữ quần chúng, độc thoại ⇒ Tự hào, vui sướng, tin tưởng khi nghe tin về cuộc kháng chiến, đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc.

    2. Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc.

    a. Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    – Khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ:

    +“Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”.

    + Lặng đi không thở được, giọng lạc đi.

    + Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật ⇒ bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã.

    b. Về đến nhà trọ.

    – Nằm vật ra giường, tủi thân, nước mắt giàn ra.

    – Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”

    – Ông nắm chặt tay, rít lên: “chúng bay … mà nhục nhã thế này”.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc.

    c. Những ngày sau đó.

    – Không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà, chột dạ, nơm nớp, lủi ra một góc, nín thít ⇒ Nỗi ám ảnh nặng nề, biến thành sự sợ hái thường xuyên.

    – Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi: ông bế tắc, tuyệt vọng.

    – Ông băn khoăn trước quyết định “hay là về làng” nhưng cuối cùng ông đã gạt bỏ ngay ý nghĩ bởi đối với ông: “làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”.

    – Ông trò chuyện với đứa con út để khẳng định thêm : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.

    3. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính.

    – Thái độ ông Hai thay đổi hẳn:

    + “ cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”.

    + mồm bỏm bẻm nhai trầu, mắt hấp háy.

    + Chạy đi khoe khắp nơi về làng của mình.

    ⇒ Vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, cũng đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai.

    III. Kết bài

    – Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

    – Liên hệ tới lòng yêu làng quê, yêu đất nước hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Truyện Ngữ Văn (Phần 1
  • Tình Huống Truyện Độc Đáo Của Truyện Ngắn Làng
  • Đề Đọc Hiểu: Sống Sao Trong Thời Đại Số + Hương Làng
  • Đề Đọc Hiểu Có Đáp Án: Hạt Gạo Làng Ta
  • Bộ Đề Thi Thử Môn Văn Có Đáp Án, Đề Số 94
  • Bộ Câu Hỏi Ôn Tập Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Cái Hay Của Hồi Mười Bốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngô Gia Văn Phái
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Hình Ảnh Hai Cây Phong Trong Đoạn Trích Hai Cây Phong
  • Giáo Án Dạy Học Ngữ Văn 8 Tiết 33, 34: Hai Cây Phong (Trích ”người Thầy Đầu Tiên”) (Ai
  • Bài Văn: Soạn Bài: Hai Cây Phong
  • Phân tích vẻ đẹp của người anh hùng Nguyễn Huệ trong Hồi thứ mười bốn của Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Theo em, nguồn cảm hứng nào đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng này?

    Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn lịch sử chương hồi của một số tác giả trong Ngô gia văn phái. Tác phẩm đã khái quát một giai đoạn lịch sử với bao biến cố dữ dội đẫm máu từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa đến khi Gia Long chiếm Bắc Hà (1868 – 1802) như: loạn kiêu binh, triều Lê Trịnh sụp đổ, Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn…

    Chuyện vua Quang Trung đại phá quân Thanh, ngày nay, hẳn chẳng mấy ai còn không biết. Người dân Việt từ lâu đã từng thân thiết và tự hào với những cái tên Hà Nội, Ngọc Hồi, Khương Thượng, Đống Đa … Nhưng hình như không phải ai cũng biết rằng, phần lớn những gì vẫn được truyền tụng về chiến công oai hung đó lại không được lấy trực tiếp từ chính sử. Phải đâu ai cũng tỏ tường rằng những hiểu biết lâu nay về sự kiện đại phá quân Thanh chính ra lại chứa đựng nhiều nhất trong một tác phẩm vẫn được coi là tiểu thuyết, cuốn sách mang tên Hoàng Lê Nhất Thống Chí của dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai (nay thuộc về Hà Nội, chứ không phải Hà Tây như nhiều sách đã ghi lầm). Quả thế, nếu muốn được thở hít lại bầu không khí như của những tháng ngày có chiến thắng tưng bừng đó thì không gì hơn là cùng đọc lại Hồi thứ mười bốn trong thiên tiểu thuyết lịch sử của văn phái họ Ngô.

    Em có suy nghĩ gì về lời phủ dụ của vua Quang Trung trước quân lính trong buổi duyệt binh ở Nghệ An?

    Lời phủ dụ của vua Quang Trung trước quân lính trong cuộc duyệ binh ở Nghệ An  ngày 29 tháng chạp năm 1789 được ghi lại trong tác phẩm để lại dấu ấn sâu đậm trong người đọc. Lời phủ dụ ( khuyên răn, nhắc nhở, dạy bảo ) của vua Quang Trung hoàng đế khác nào lời hịch truyền của núi song. Trong lời phủ dụ của mình, vua Quang Trung đã truyền cho quân lính niềm tự hào dân tộc, nêu cao ý thức độc lập tư tưởng, nêu cao cảnh giác, nhận ra dã tâm xâm lược của giặc. Đặc biệt, qua lời nói ấy, ta cũng thấy được ý chí cứu nước, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng của vị hoàng đế trẻ tuổi này. Những lời nói đó cũng tiêu biểu cho ý chí, khí phách của dân tộc và nó đã có tác dụng khích lệ to lớn với tướng sĩ.

    Tìm hiểu sự khác nhau trong đoạn văn miêu tả cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và đoạn miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống

    Các đoạn văn đó đều là tả thực, với những chi tiết cụ thể nhưng âm hưởng lại khác nhau. Đoạn tả cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh nhịp điệu nhanh mạnh, hối hả, chứa vẻ hả hê, sung sướng. Đoạn tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống nhịp chậm hơn, âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót, gửi gắm chút cảm xúc riêng của người bề tôi cũ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vài Nét Cơ Bản Về Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Đồng Tháp
  • Văn Bản Hợp Nhất 03/vbhn
  • Chất Lượng Ban Hành Văn Bản Hành Chính Tại Ubnd Cấp Xã Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Câu Hỏi Ôn Tập Trắc Nghiệm Về Hội Nghị Ianta

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Hội Nghị Ianta Và Liên Hợp Quốc Có Đáp Án
  • Bài 1. Sự Hình Thành Trật Tự Thế Giới Mới Sau Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai (1945
  • Quyết Định Cá Biệt Là Gì
  • Quyết Định Hành Chính Cá Biệt Là Gì
  • Quyết Định Dẫn Giải Người Làm Chứng
  • Bài viết cung cấp một số câu hỏi trắc nghiệm thường gặp về nội dung Hội nghị Ianta, mỗi câu hỏi đều có lời giải chi tiết cho các em hiểu vấn đề hơn, nhớ lâu hơn

    CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM VỀ HỘI NGHỊ IANTA

    Câu 1: Nội dung gây nhiều tranh cãi nhất giữa ba cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh tại Hội nghị Ianta (2/1945) là:

    A. Kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai để tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.

    B. Thành lập tổ chức Liên hợp quốc.

    C. Phân chia khu vực chiếm đóng và phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc thắng trận

    D. Giải quyết các hậu quả chiến tranh, phân chia chiến lợi phẩm.

    – Thống nhất mục tiêu chung là tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Để nhanh chóng kết thúc chiến tranh, từ 2 đến 3 tháng sau khi đánh bại nước Đức phát xít, Liên Xô sẽ tham gia chống Nhật Bản tại châu Á.

    – Thành lập tổ chức liên hợp quốc nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

    – Thảo thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á.

    Câu hỏi 2. Trật tự hai cực Ianta được hình thành trên cơ sở thỏa thuận của những cường quốc nào?

    A. Liên Xô, Anh, Pháp. B. Liên Xô, Mĩ, Anh

    C. Liên Xô, Anh, Trung Quốc D. Anh, Pháp, Mĩ

    Hội nghị Iantađược triệu tập tại Ianta (Liên Xô) từ ngày 4 đến ngày 12 tháng 2 năm 1945 với sự tham gia của nguyên thủ 3 cường quốc là Xtalin (Liên Xô), Rudơven (Mỹ) và Sớcsin (Anh)- đại diện của ba cường quốc trụ cột trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít. Sau này lịch sử gọi đây là trật tự Ianta vì nó diễn ra tại Ianta (Liên Xô).

    Câu hỏi 3: Hội nghị Ianta diễn ra trong bối cảnh nào?

    A. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc

    B. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ

    C. Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra ác liệt

    D. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc

    – Đầu năm 1945, khi cục diện chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc trên thế giới diễn ra nhiều mâu thuẫn , tranh chấp trên thế giới . Cụ thể là giữa các nước đồng minh với các nước phát xít đã nổi lên. Lúc này các nước tham gia có tiếng nói trong cuộc chiến tranh thế giới đặt ra vấn đề là cần phải đi đến một hội nghị để giải quyết các vấn đề bức xúc mà trong đó nổi bật là 3 vấn đề:

    – Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít, kết thúc chiến tranh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

    – Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, thiết lập một trật tự mới, một nền hòa bình trên thế giới.

    – Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận sau chiến tranh. Tức là giữa các nước tham gia vào việc tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít họ đòi phải có một quyền lợi của riêng mình. Trong 3 vấn đề được đưa ra đây được xem là vấn đề lớn nhất cần được giải quyết.

    Trong bối cảnh đó một hội nghị quốc tế đã được triệu tập tại Ianta ( Liên Xô) từ ngày 4 đến ngày 12 tháng 2 năm 1945 với sự tham gia của nguyên thủ 3 cường quốc là Xtalin ( Liên Xô), Rudơven ( Mỹ) và Sớcsin- đại diện của ba cường quốc trụ cột trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít. Sau này lịch sử gọi đây là trật tự Ianta vì nó diễn ra tại Ianta ( Liên Xô).

    Câu hỏi 4. Những vấn đề quan trọng và cấp bách cần giải quyết buộc phe Đồng minh phải triệu tập Hội nghị Ianta (2 – 1945) là:

    A. tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận.

    B. nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít, tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận.

    C. nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít, tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.

    D. phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận.

    Đầu năm 1945, khi cục diện chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc trên thế giới diễn ra nhiều mâu thuẫn , tranh chấp trên thế giới . Cụ thể là giữa các nước đồng minh với các nước phát xít đã nổi lên. Lúc này các nước tham gia có tiếng nói trong cuộc chiến tranh thế giới đặt ra vấn đề là cần phải đi đến một hội nghị để giải quyết các vấn đề bức xúc mà trong đó nổi bật là 3 vấn đề:

    – Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn các nước phát xít, kết thúc chiến tranh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

    – Tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, thiết lập một trật tự mới, một nền hòa bình trên thế giới.

    – Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận sau chiến tranh. Tức là giữa các nước tham gia vào việc tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít họ đòi phải có một quyền lợi của riêng mình. Trong 3 vấn đề được đưa ra đây được xem là vấn đề lớn nhất cần được giải quyết.

    Câu hỏi 5. Theo quyết định của Hội nghị Ianta vùng Đông Đức, Đông Âu, miền Bắc Triều Tiên thuộc phạm vi ảnh hưởng của

    A. Mĩ B. Liên Xô C. Pháp D. Anh

    Lời giải chi tiết: Ở châu Âu được chia làm 4 phần: quân đội Liên Xô sẽ chiếm đóng ở Đông Đức, Đông Béc-lin và các nước Đông Âu.Quân đội Mỹ, Anh và Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức , Tây Béc-lin và các nước Tây Âu. Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập.

    Thực hện: Bùi Thị Thu Hoài

    Ban chuyên môn chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hủy Quyết Định Cá Biệt Trái Pháp Luật Của Cơ Quan, Tổ Chức
  • Thẩm Quyền Của Tòa Án Đối Với Quyết Định Cá Biệt Của Cơ Quan, Tổ Chức
  • Ban Hành Quyết Định Cá Biệt Của Uỷ Ban Nhân Dân Xã
  • Phân Loại Quyết Định Hành Chính
  • Thẩm Quyền Của Tòa Án Về Yêu Cầu Hủy Quyết Định Cá Biệt Trong Vụ Án Dân Sự
  • Câu Hỏi Ôn Tập Luật Hôn Nhân Và Gia Đình

    --- Bài mới hơn ---

  • Ôn Tập Môn Luật Hôn Nhân Gia Đình
  • Ôn Tập Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
  • Câu Hỏi Ôn Tập Luật Hôn Nhân & Gia Đình (Có Đáp Án)
  • Câu Hỏi Ôn Tập Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Dạng Trắc Nghiệm Đúng
  • Tài Liệu Ôn Tập Luật Hôn Nhân Gia Đình
  • 2364

    1. Nêu khái niệm và các đặc điểm của hôn nhân, gia đình theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.
    2. Nêu khái niệm và đặc điểm của quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.
    3. So sánh quan hệ hôn nhân và gia đình với quan hệ pháp luật dân sự? Cho ví dụ?
    4. Biện pháp xử lý đối với trường hợp nam, nữ kết hôn nhưng vi phạm một trong các điều kiện kết hôn?
    5. Nêu đường lối giải quyết trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
    6. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là gì? Nêu hậu quả pháp lý của hủy việc kết hôn trái pháp luật.
    7. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản nào? Nêu quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung.
    8. Nêu lý do, phương thức và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
    9. Nêu các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng. Nêu điểm khác nhau giữa các trường hợp chia tài sản chung đó.
    10. Những tài sản nào được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng? Tại sao Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng?
    11. Quyền thừa kế tài sản của vợ, chồng khi một bên chết được pháp luật quy định như thế nào?
    12. Tại sao cần phải chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trước? Nêu nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này.
    13. Ly hôn là gì? Khi giải quyết ly hôn phải dựa trên các căn cứ pháp lý nào?
    14. Nêu các trường hợp ly hôn và đường lối giải quyết các trường hợp ly hôn theo pháp luật hiện hành. Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cần tuân thủ các nguyên tắc nào?

    Bài tập 1:

    BÀI TẬP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

    Anh M và chị N được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán từ ngày 1/12/1987 (không có đăng ký kết hôn). Trong lễ cưới, cha mẹ anh M tuyên bố cho chị N một sợi dây chuyền (4 chỉ vàng). Hai năm sau, cha mẹ anh M cho vợ chồng MN mảnh đất 150m2 để làm nhà và hai người đã cùng đứng tên chủ quyền mảnh đất này. Cuộc sống gia đình hạnh phúc, hai anh chị đã có các con chung là cháu X (1989) và cháu Y (1993). Đến năm 2006, giữa hai người phát sinh mâu thuẫn. Ngày 10/11/2008, anh M đã làm đơn xin ly hôn gửi đến Toà án (Toà đã thụ lý). Trong thời gian chờ giải quyết vụ việc, ngày 18/11/2008, anh M đã kết hôn với chị K (có đăng ký kết hôn).

    – Hỏi Toà án sẽ giải quyết vụ việc như thế nào (chia tài sản và con chung)? Tại sao?

    – Chị N có đơn yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật giữa anh M và chị K. Toà án sẽ xử lý yêu cầu này ra sao?

    Bài tập 3:

    A và B là vợ chồng hợp pháp, trước khi kết hôn A có 1 căn nhà, sau khi kết hôn vì hai vợ chồng không có công ăn việc làm ổn định nên đã dùng tầng 1 căn nhà đó cho thuê mỗi tháng là 2 triệu đồng để có thêm thu nhập. Sau 5 năm A đã bán căn nhà đó mà không cho B biết. B biết chuyện đã yêu cầu toà án xác định hợp đồng mua bán đó bị vô hiệu. Hỏi toà án sẽ giải quyết như thế nào?

    Năm 1988, anh L và chị S tự nguyện sống chung với nhau được hai bên gia đình tổ chức đám cưới, tuy không vi phạm các điều kiện kết hôn nhưng hai người chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. năm 1994, anh chị nảy sinh mâu thuẫn do anh L có quan hệ ngoại tình. Năm 2001 hai anh chị bất đồng nghiêm trọng. ngày 24/12/2002, chị thu gửi đơn xin ly hôn lên tòa án in ly hôn và toàn án đã mở phiên toà xét xử vào thời điểm năm 2003. Anh (chị) hãy giải quyết trường hợp trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mang Luật Hôn Nhân Gia Đình Việt Nam Đi “rung” Ở Hoa Kỳ
  • Whitney Houston Qua Đời Ngay Trước Đêm Trao Giải Grammy Award
  • Giá Trị Văn Hóa, Đạo Đức Của Hôn Nhân Và Gia Đình Công Giáo Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Ảnh Hưởng Của Giáo Lý Công Giáo Đối Với Vấn Đề Hôn Nhân Gia Đình Ở Việt Nam
  • Chế Định Hôn Nhân Và Ly Hôn
  • Câu Hỏi Ôn Tập Thi Viên Chức Y Tế 2014

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Hay Luật Hành Nghề Y?
  • Các Hành Vi Bị Cấm Trong Luật Khám Chữa Bệnh
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000
  • Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2000
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010
  • Published on

    1. 1. Câu hỏi ÔN THI VIÊN CHỨC NGÀNH Y TẾ NĂM 2014 1. LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH & 12 ĐIỀU Y ĐỨC Câu 1. Trình bày nội dung Nguyên tắc hành nghề quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Câu 2. Trình bày nội dung Các hành vi bị cấm quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Câu 3. Nêu các Quyền và nghĩa vụ của người bệnh được quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Câu 4. Trình bày nội dung Quyền được từ chối khám bệnh, chữa bệnh và quyền được bảo đảm an toàn khi hành nghề của người hành nghề được quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Câu 5. Trình bày nội dung Nghĩa vụ của người hành nghề đối với người bệnh và đối với đồng nghiệp quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Câu 6. Trình bày nội dung điều 3 và điều 4 trong Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế (12 điều y đức). Câu 7. Trình bày nội dung điều 7, điều 8, điều 9 và điều 10 trong Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế (12 điều y đức). 2. LUẬT DƯỢC VÀ 10 ĐIỀU DƯỢC ĐỨC Câu 1. Hãy nêu phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật dược số 34/2005/QH11 được Quốc Hội khóa 11 Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005. Câu 2. Hãy nêu những hành vi bị nghiêm cấm theo quy định trong Luật dược số 34/2005/QH11 được Quốc Hội khóa 11 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005. Câu 3. Theo quy định của Luật dược số 34/2005/QH11 được Quốc Hội khóa 11 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005, người được cấp Chứng chỉ hành nghề dược phải có các điều kiện nào? Câu 4. Nêu các hình thức tổ chức cơ sở bán lẻ thuốc được quy định trong Luật dược số 34/2005/QH11 được Quốc Hội khóa 11 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005. Câu 5. Trình bày nội dung đầy đủ của một nhãn thuốc lưu hành trên thị trường được quy định trong Luật dược số 34/2005/QH11 được Quốc Hội khóa 11 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005. 1
    2. 2. Câu 6. Hãy nêu nội dung số 5 và số 6 trong Đạo đức hành nghề dược được Ban hành kèm theo Quyết định số 2397/1999/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 10 tháng 8 năm 1999. 3. LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ Câu 1: Anh (chị) hãy nêu các nguyên tắc bảo hiểm y tế. Câu 2: Hãy trình bày các chính sách của Nhà nước về bảo hiểm y tế? Câu 3: Hãy nêu các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế và tổ chức của bảo hiểm y tế? Câu 4: Hãy nêu các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động bảo hiểm y tế? Câu 5: Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế được quy định như thế nào? Câu 6: Quyền của người tham gia bảo hiểm y tế gồm những gì? Câu 7: Hãy nêu các nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế? 4. LUẬT PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM Câu 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm? Câu 2. Nêu nguyên tắc phòng, chống bệnh truyền nhiễm? Câu 3. Nêu những hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm? Câu 4. Nêu các nội dung vệ sinh phòng bệnh truyền nhiễm? Câu 5. Nêu các biện pháp chống dịch? 5. CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ NÂNG CAO SỨC KHỎE NHÂN DÂN GIAI ĐOẠN 2011-2020, TẦM NHÌN ĐẾN 2030 Câu 1: Căn cứ Chiến lược quốc gia Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 của Chính phủ, trình bày nội dung quan điểm về “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế Việt Nam” và bổn phận “Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” ? Câu 2: Căn cứ Chiến lược quốc gia Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 của Chính phủ, trình bày nội dung “Mục tiêu chung” và “Mục tiêu định hướng đến năm 2030”? 2
    3. 3. Câu 3: Căn cứ Chiến lược quốc gia Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 của Chính phủ, trình bày nội dung “Mục tiêu cụ thể” về Y tế dự phòng, Khám chữa bệnh? Câu 4: Căn cứ Chiến lược quốc gia Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 của Chính phủ, trình bày nội dung “Mục tiêu cụ thể” về Nhân lực Y tế, Tài chính Y tế? Câu 5: Căn cứ Chiến lược quốc gia Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 của Chính phủ, trình bày “Các giải pháp chủ yếu” để thực hiện Chiến lược? CÂU HỎI Thông tư 07/2014/TT-BYT ngày 25/2/2014 Quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế. Câu 1: Anh (chị) hãy nêu phạm vi điều chỉnh & đối tượng áp dụng theo Thông tư 07/2014/TT-BYT ngày 25/2/2014 của Bộ Y tế Quy định về Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế. Câu 2: Anh (chị) hãy cho biết nội dung của Thông tư 07/TT-BYT quy định bao nhiêu chương, điều và nêu tóm tắt các điều trong chương nội dung Quy tắc ứng xử. Câu 3: Nếu anh (chị) là công chức, viên chức y tế khi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao cần phải làm gì và không được làm gì? Câu 4: Anh (chị) hãy nêu những việc phải làm của công chức, viên chức y tế đối với người đến khám bệnh và đối với người bệnh ra viện hoặc chuyển tuyến trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Câu 5: Để thực hiện tốt văn minh giao tiếp ứng xử trong bệnh viện, cán bộ nhân viên y tế cần phải làm gì? Câu 6: Anh (chị) hãy nêu những tiêu chí cụ thể về chuẩn mực đạo đức theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh của ngành Y tế? LUẬT VIÊN CHỨC, NGHỊ ĐỊNH 29, QĐ 2327 Câu 1. Theo Luật viên chức do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 15/11/2010, thì viên chức được định nghĩa như thế nào? Câu 2. Viên chức có bao nhiêu nghĩa vụ chung, nêu rõ nội dung các nghĩa vụ đó? Câu 3. Khi đã là viên chức của đơn vị sự nghiệp công lập, thì vên chức không được làm những việc gì? 3
    4. 5. − Điều 4. Nguyên tắc xử lý tham nhũng − Điều 37. Những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm − Điều 38. Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng − Điều 40. Việc tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức 3. Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 44/2013/QH13 ngày 26/11/2013: − Điều 4. Nguyên tắc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí − Điều 8. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức PHẦN 2. NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ ĐƯỜNG LỐI,CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG , PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN NGÀNH Y TẾ 1. Quy tắc ứng xử của cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp y tế (Ban hành kèm theo Quyết định số 29/2008/QĐ-BYT ngày 18/08/ 2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Điều 1. Quy tắc ứng xử chung Điều 2. Quy tắc ứng xử với người bệnh và gia đình người bệnh 2. Luật Khám bệnh, chữa bệnh số: 40/2009/QH12. Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Điều 4. Chính sách của Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh Điều 6. Các hành vi bị cấm Điều 52. Quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Điều 53. Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh 3. Luật Bảo hiểm y tế số: 25/2008/QH12, ngày 14 tháng 11 năm 2008. Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Điều 3. Nguyên tắc bảo hiểm y tế Điều 4. Chính sách của Nhà nước về bảo hiểm y tế Điều 11. Các hành vi bị nghiêm cấm Điều 36. Quyền của người tham gia bảo hiểm y tế Điều 37. Nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm y tế 5
    5. 9. Chỉ huy trưởng Tổng số bài gửi: 167 Join date: 09/11/2010 Age: 45 Đến từ: Bệnh viện GTVT Tháp Chàm 1. Chảy máu đường tiêu hóa: Chẩn đoán và hướng xử trí? 2. Viêm cầu thận cấp: Nguyên nhân, chẩn đoán, biến chứng và hướng điều trị? 3. Sốt xuất huyết Dengue: Chẩn đoán, biến chứng, hướng điều trị? 4. Đái tháo đường type2: Chẩn đoán và điều trị? 5. Bệnh viêm dạ dày: Chẩn đoán, biến chứng và hướng điều trị? 6. Định nghĩa, chẩn đoán, biến chứng và hướng điều trị hen phế quản? 7. Định nghĩa, phân loại, chẩn đoán và hướng điều trị tăng huyết áp? 8. Chẩn đoán, biến chứng và hướng điều trị viêm phổi thùy? 9. Chẩn đoán, biến chứng và hướng điều trị tràn dịch và tràn khí màng phổi? 10. Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán, hướng điều trị viêm phế quản cấp? 11. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, biến chứng và cách xử trí ban đầu của gãy thân xương đùi? 12. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, biến chứng và cách xử trí ban đầu của gãy hai xương cẳng chân? 13. Triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, biến chứng và cách xử trí ban đầu của gãy hai xương cẳng tay? 14. Vết thương nhiễm trùng: Chẩn đoán, biến chứng và hướng xử trí? 15. Cách khám các dấu hiệu màng não, thần kinh khu trú và cơ lực? ĐỀ CƯƠNG THI TUYỂN VIÊN CHỨC NĂM 2012: Ngạch Y sĩ YHCT on Tue Oct 02, 2012 7:53 am Bs Kinh Thi Chỉ huy trưởng 9
    6. 10. Tổng số bài gửi: 167 Join date: 09/11/2010 Age: 45 Đến từ: Bệnh viện GTVT Tháp Chàm 1. Trong chẩn đoán học tứ chẩn là gì và nêu rõ các chẩn đoán đó. 2. Bát cương là gì? Phân tích chứng Biểu-Lý, Hư chứng-Thực chứng, nêu biểu hiện Hàn chứng và Nhiệt chứng? 3. Thế nào là bổ Âm, bổ Dương? Nêu những thuốc thường dùng để bổ: Âm-Dương-Khí-Huyết? 4. Nêu nguyên nhân, tính chất, điều trị bệnh Hư và bệnh Thực? Nêu những bài thuốc chữa trị bệnh Hư và bệnh Thực? 5. Anh/chị hãy mô tả hệ thống kinh mạch. 6. Lục phủ, Ngũ tạng: biểu hiện bệnh lý, dường kinh. 7. Anh/chị hãy cho biết nguyên tắc kê đơn thuốc Đông y theo Quân thần tá sứ. 8. Anh/chị hãy cho biết thành phần, cách dùng, công dụng chủ trị và phân tích bài thuốc Bổ trung ích khí, Tứ vật thang, Bát trân thang? 8. So sánh đặc điểm giống, khác nhau thể Tỳ thận dương hư và thể Tỳ vị hư hàn của viêm đại tràng mạn tính? 9. Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh theo y học cổ truyền và phương pháp điều trị: Trúng phong/Đau thần kinh tọa/Cảm mạo/Phong hàn 10. Anh/chị hãy nêu các giai đoạn và yêu cầu của chế biến dược liệu theo quy định của Bộ Y tế. 11. Anh/chị hãy nêu quan điểm Ngũ Hành trong chẩn đoán, điều trị Đông y 12. Anh chị hãy cho biết Học thuyết Thiên Nhân Hợp Nhất 10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Triển Khai Các Thông Tư Về Giá Dịch Vụ Khám, Chữa Bệnh
  • Mở Thông Tuyến Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế Từ Ngày 01/01/2016
  • Dự Thảo Thông Tư Quy Định Về Trích Chuyển Dữ Liệu Yêu Cầu Thanh Toán Bảo Hiểm Y Tế Giữa Cơ Sở Khám, Chữa Bệnh Và Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Do Bộ Trưởng Bộ Y Tế Ban Hành
  • Tải Về Luật Khám Chữa Bệnh Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Tải Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Năm 2009
  • Câu Hỏi Nhận Định Ôn Tập Luật Hình Sự 1

    --- Bài mới hơn ---

  • 15 Câu Trắc Nghiệm Tìm Hiểu Bộ Luật Hình Sự 2022 Sửa Đổi Bổ Sung 2022
  • Bộ Luật Hình Sự Hàn Quốc
  • Những Loại Hình Tội Phạm Phổ Biến Ở Hàn Quốc Và Những Hành Vi Cần Tránh ” Hàn Quốc Kia Rồi
  • Nhiệm Vụ Của Bộ Luật Hình Sự Là Gì?
  • 9 Điểm Nổi Bật Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • 16239

    Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích rõ tại sao?

    1. Những quan hệ xã hội được quy định tại khoản 1 điều 8 Bộ luật hình sự năm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2022) chính là đối tượng điều chỉnh của Luật hình sự Việt Nam?

    Chương 1. Luật hình sự

    Trích khoản 1 điều 8 Bộ luật hình sự năm 2022: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.”.

    1. Bộ luật hình sự không phải là Đạo luật hình sự? 2. Người nước ngoài phạm tội ở nước ngoài có thể phải chịu Trách nhiệm hình sự theo qui định của Bộ luật hình sự Việt Nam.

    Chương 2. Đạo luật hình sự

    – Lãnh thổ cố định gồm: vùng đất, nước, vùng trời, lòng đất

    – Lãnh thổ di động: phương tiện máy bay, tàu biển Việt Nam.

    5. Mọi hành vi nguy hiểm cho xã hôị do chủ thể thực hiện trước 00 giờ ngày 01 tháng 07 năm 2022 thì không bị áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 2022 (sửa đổi, bổ sung 2022)

    Vậy, hành vi trên bị coi là phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.

    CSPL: Khoản 1 Điều 7 Bộ luật hình sự 2022.

    1. Tính trái pháp luật hình sự của tội phạm không phải là đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất của tội phạm? 2. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm ngây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức hình phạt cao nhất của tội ấy là đến ba năm tù? 3. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có hình phạt cao nhất đến bảy năm tự.

    Chương 3. Tội phạm

    5. A là người canh giữ B (người bị giam về tội cố ý gây thương tích). Vì thiếu trách nhiệm, A đã để B bỏ trốn.

    Theo Điều 93 Bộ luật hình sự, người nào giết người thuộc một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1, thì bị phạt tự từ mười hai năm đến hai mươi năm, tự chung thân hoặc tử hình.

    Trường hợp này A có thể bị xét xử theo khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự năm 1999.

    Theo khoản 2 Điều 301 của Bộ luật hình sự năm 1999 như sau: “Phạm tội đề người bị giam gữ về tội nghiêm trọng, rất nghiêm rọng thì bị phtạ tự từ 2 năm đêna 7 năm”.

    Tội phạm ít nghiêm trọng mức khung hình phạt cao nhất là đến 3 năm ù.

    7. A bị Toà án xử phạt ba năm tự không có nghĩa là Ađã phạm tội ít nghiêm trọng.

    Tội phạm nghiêm trọng mức khung hình phạt cao nhất là 7 năm tự (trên 3 năm tự).

    a, Đã bị kết tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.

    9. A là người có quyền truy tố bị can trước Toà án bafng bản cáo trạng. A biết rõ B là người phạm tội trộm cắp tài sản và có đủ cơ sở pháp lí để truy cứu trách nhiệm hình sự của B. Trường hợp này A không bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 294 Bộ luật hình sự năm 1999.

    b, Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.”

    Theo mục b khoản 2 Điều 49 thì người này bị coi là tái phạm nguy hiểm.

    Theo khoản 2 Điều 294 Bộ luật hình sự “Phạm tội thuộc 1 trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tự từ 2 năm đến 7 năm tự:

    A, Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc cá tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

    B, gây hậu quả nghiêm trọng.”

    A không xâm phạm ANQG và cũng không gây hậu quả nghiêm trọng. A không bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại khoản 2 điều 294 Bộ luật hình sự”

    Chương 4. Cấu thành tội phạm

    1. Chỉ các dấu hiệu sau đây mới bắt buộc phải có trong mọi hành vi cấu thành tội phạm: hành vi, lỗi và năng lực trách nhiệm hình sự.

    Những dấu hệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội phạm là:

    – Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố khách quan của tội phạm.

    – Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm.

    – Dấu hiệu năng lực TNHS và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm.

    Chương 5. Khách thể

    1. Tội bức tử là tội phạm cấu thành vật chất.

    Chương 6. Mặt khách quan

    Hành vi tự sát ở đây có thể gây hậu quả chết người cũng có thể không. Hậu quả của việc tự sát là dấu hiệu bắt buộc của CTTP không kể việc tự sát của nạn nhân có dẫn đến cái chết hay không.

    1. Người đủ 14 tuổi có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

    Chương 7. Chủ thể

    Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự quy định: “Người đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Về TP rất nghiêm trọng do cố ý hoặc TP đặc biệt nghiêm trọng”.

    Theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự quy định: ” Nười đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phậm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”

    3. Dấu hiệu quan hệ gia đình không thể là dấu hiệu của chủ thể đặc biệt về tội phạm.

    Theo khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự qquy định: ” Người chưa thành niên phạm tội

    Chương 8. Mặt chủ quan

    1. Lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp khác nhau ở chỗ người phạm tội đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra hậu quả.

    2. Mục đích phạm tội có trong trường hợp người pham tội mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả mà họ thấy trước xảy ra.

    3. Mục đích phạm tội chỉ không có trong trường hợp vô ý.

    4. Hậu quả của tội phạm có thể phù hợp với mục đích của người phạm tội.

    Chương 9. Các giai đoạn phạm tội

    1. Người 15 tuổi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    3. Người chuẩn bị phạm tội đưa hối lộ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    4. Người chuẩn bị phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    5. Người chuẩn bị phạm tội trốn khỏi nơi giam có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

    6. Tội phạm cấu thành hình thức không có giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành.

    7. Tội phạm do người khác thực hiện đã hoàn thành thì không được phép phòng vệ.

    Chương 10. Đồng phạm

    1. Trong vụ đồng phạm giản đơn của tội hiếp dâm không đòi hỏi tất cả những người đồng phạm đều phải có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt.

    2. Mọi trường hợp đồng phạm hiếp dâm (dưới hình thức đồng phạm đơn giản) đều bị xét xử theo điểm c khoản 2 Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999.

    3. Đồng phạm phức tạp không phải là phạm tội có tổ chức.

    Chương 11. Tình tiết loại trừ

    1. Sự tấn công trong phòng vệ chính đáng có thể xuất phát từ trẻ em.

    2. Hành vi phòng vệ chính đáng không đòi hỏi phải là biện pháp cuối cùng.

    3. Hành vi phòng vệ chính đáng không được gây thiệt hại lớn hơn thiệt hại mà người tấn công gây ra hoặc có thể gây ra.

    4. Phạm tội do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được miễn trách nhiệm hình sự.

    5. Phòng vệ quá sớm không phải chịu trách nhiệm hình sự.

    6. Hành vi phòng vệ chính đáng dự gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

    7. Vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết không bắt buộc phải gây thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần năn nừa thì mới bị coi la tội phạm.

    Chương 12. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, hệ thống hình phạt và biện pháp tư pháp

    1. Người được miễn trách nhiệm hình sự thì đương nhiên được xoá án tích.

    2. Người phạm tội luôn phải chịu hình phạt trên thực tế.

    3. Hình phạt cảnh cáo chỉ áp dụng đối với tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến ba năm tự.

    4. Mỗi tội phạm chỉ bị tuyên một hình phạt chính.

    5. Đối với mỗi người phạm tội có thể được tuyên nhiều hình phạt chính.

    6. Đối với một người phạm tội chỉ được tuyên một hình phạt chính và có thể kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung.

    Chương 13. Quyết định hình phạt

    1. Khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Toà án cũng có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

    2. Nười phạm tội hiếp dâm trẻ em sẽ không bị áp dụng thêm tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với trẻ em”.

    3. Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi các tình tiết khác không được quy định trong Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    4. Khi quyết định hình phạt, Toà án có thể coi các tình tiết khác không được quy định trong Bộ luật hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Chương 14. Chấp hành hình phạt

    1. Người được miễn chấp hành hình phạt không thể là người đã chấp hành một phần hình phạt đã tuyên.

    2. án treo là hình phạt nhẹ hơn hình phạt tự.

    3. án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện.

    4. án treo chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng.

    5. án treo không chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng.

    6. Người phạm tội nghiêm trọng không được hưởng án treo.

    7. Người phạm tội rất nghiêm trọng không được hưởng án treo.

    8. Người phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thuộc khoản 3 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 có thể hưởng án treo.

    9. Người phạm tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia thuộc khoản 2 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1999 không được hưởng án treo.

    10. Người phạm tội đánh tháo người bị giam thuộc khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự năm 1999 không được hưởng án treo.

    11. án treo chỉ áp dụng đối với người chưa có tiền án, tiền sự.

    12. Người có tiền án cũng có thể hưởng án treo

    13. Người được hưởng án treo không được miễn thời gian thử thách.

    14. Người được hưởng án treo không bao giờ được giam thời gian thử thách.

    15. Người được miễn hình phạt thì đương nhiên được xoá án tích.

    Chương 15. Trách nhiệm hình sự người chưa thành niên

    1. An đã tuyên với người chưa thành niên phạm tội thì không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

    2. Hình phạt tiền có thể được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.

    Tài liệu còn nhiều thiếu xót, mong các bạn góp ý thêm, xin trân thành cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Tình Huống Luật Hình Sự
  • Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Luật Hình Sự ( Câu Hỏi Thi Tn) Luathinhsu Doc
  • 26 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Luật Hình Sự Có Đáp Án
  • Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Hình Sự Phần Các Tội Phạm
  • Tích Hợp Liên Môn Chuyên Đề Ôn Tập Văn Bản Làng Kim Lân

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Văn Lớp 9 Bài Làng Của Kim Lân
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Làng
  • Thay Lời Ông Hai Kể Lại Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Bài 25. Trả Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Tóm Tắt Truyện: Làng Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Phụ lục I

    Phiếu thông tin về giáo viên (hoặc nhóm giáo viên) dự thi

    – Sở giáo dục và đào tạo thành phố Hà Nội

    – Phòng giáo dục và đào tạo quận Tây Hồ

    – Trường THCS Đông Thái

    – Địa chỉ: 149 Trích Sài – Phường Bưởi – Quận Tây Hồ – Hà Nội

    Điện thoại:………………………; Email: [email protected]

    – Thông tin về giáo viên (hoặc nhóm không quá 03 giáo viên):

    1. Họ và tên: Bùi Huy Dũng

    Ngày sinh 1/9/1976

    Môn: Ngữ Văn

    Điện thoại: 0906221976

    2. Họ và tên: Phạm Thị Kim Lan

    Ngày sinh: 21/11/1968

    Môn : Ngữ Văn

    Điện thoại: 0983640619

    3. Họ và tên: Phạm Thị Hậu

    Ngày sinh: 17/3/1970

    Điện thoại: 0974499470

    Môn : Ngữ Văn

    Phụ lục II

    Phiếu mô tả hồ sơ dạy học dự thi của giáo viên

    6. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học

    CHUYÊN ĐỀ:

    ÔN TẬP VĂN BẢN “LÀNG” CỦA KIM LÂN

    (Có tích hợp liên môn)

    LÀNG

    Tác giả

    – Tên khai sinh là Nguyễn Văn

    Tài. Sinh năm1920 mất ngày

    20/7/2007.

    – Quê ở Bắc Ninh.

    – Sở trường về truyện ngắn.

    – Am hiểu sâu sắc về nông

    thôn và người nông dân.

    Tác phẩm

    Sáng tác năm 1948, thời kỳ đầu

    kháng chiến chống Pháp.

    Kim Lân

    Em hãy trình bày ngắn gọn hiểu biết của em về

    bối cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm “Làng”?

    Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19/12/1946

    Hình ảnh về những ngày đầu của

    cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954)

    Lược đồ căn cứ địa Việt Bắc

    TRÒ CHƠI Ô SỐ MAY MẮN

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    v

    Chủ đề của truyện ngắn “Làng” là gì ?

    ĐÁP ÁN:

    Truyện viết về tình yêu làng quê, đất nước, tinh thần

    đi theo cuộc kháng chiến của người nông dân trong

    những năm đầu chống thực dân Pháp trở lại xâm

    lược.

    Chủ đề của truyện ngắn “Làng” là gì ?

    ĐÁP ÁN:

    Truyện viết về tình yêu làng quê, đất nước, tinh thần

    đi theo cuộc kháng chiến của người nông dân trong

    những năm đầu chống thực dân Pháp trở lại xâm

    lược.

    Tóm tắt nội dung chính của truyện ngắn “Làng”.

    ĐÁP ÁN:

    Truyện ngắn Làng thể hiện chân thực, sinh động một

    tình cảm bền chặt và sâu sắc là tình yêu làng thống

    nhất với tình yêu nước, tinh thần kháng chiến của

    người nông dân mà điển hình là nhân vật ông Hai.

    Những nét nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn

    “Làng” là gì ?

    ĐÁP ÁN:

    – Truyện xây dựng cốt truyện tâm lí, tình huống thử

    thách nội tâm nhân vật.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc và tinh

    tế.

    – Ngôn ngữ sinh động, giàu tính khẩu ngữ, cách trần

    thuật linh hoạt.

    Tại sao trong truyện lại chỉ nói tới làng Chợ Dầu

    nhưng nhan đề của truyện lại đặt tên là “Làng” ?

    ĐÁP ÁN:

    Tại vì tác giả muốn điển hình hóa, khái quát hóa từ

    một làng quê cụ thể, từ một người nông dân cụ thể

    để qua đó nói lên hoàn cảnh chung của đất nước Việt

    Nam. Vì làng quê chính là hình ảnh của đất nước thu

    nhỏ.

    CHÚC MỪNG BẠN!

    BẠN ĐÃ CHỌN Ô SỐ MAY MẮN

    Tình yêu quê hương là một đề tài rất quen thuộc

    trong văn học. Hãy chỉ ra nét riêng đặc sắc của truyện

    ngắn “Làng” khi khai thác đề tài này?

    ĐÁP ÁN:

    Nét riêng, đặc sắc của truyện ngắn này là đã nêu được

    mối quan hệ giữa tình cảm làng quê và tình yêu nước trong

    hoàn cảnh chiến tranh. Bằng cách tạo ra một tình huống có sự

    xung đột giữa hai tình cảm ấy, truyện đã cho thấy lòng yêu

    nước là tình cảm lớn lao bao trùm trong con người kháng

    chiến, chi phối các tình cảm khác. Tình yêu làng quê dù có sâu

    nặng đến đâu cũng phải nằm trong tình yêu nước, không thể

    đi ngược lại với lòng yêu nước, với quyền lợi của cả dân tộc.

    Một số hình ảnh về phường Bưởi

    Bản đồ phường Bưởi

    Trách nhiệm của bản thân em và mọi

    người trong việc xây dựng phường Bưởi

    thành phường Văn hóa?

    Phường Văn hóa là sự phát huy và phát

    triển những giá trị của văn hóa làng xã trong

    thời đại mới. Văn hóa chính là nền tảng để

    chúng ta xây dựng phường Văn hóa một cách

    vững chắc trong bối cảnh hiện nay. Thực tế đã

    chứng minh, trong quá khứ lịch sử cũng như

    hiện tại và tương lai, làng, xã (phường) luôn

    giữ một vị trí hết sức quan trọng trong đấu

    tranh dựng nước và giữ nước, là nơi lưu giữ

    trường tồn những giá trị vật chất, tinh thần và

    bản sắc văn hóa dân tộc…

    Khá : 35% Trung bình 30%

    Phụ lục III

    Trang bìa của hồ sơ dạy học

    HỒ SƠ DỰ THI DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “làng” (Kim Lân)
  • Sơ Đồ Tư Duy Truyện Ngắn Làng
  • 10 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long Hay Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Siêu Ngắn
  • Bài 21. Phương Pháp Tả Cảnh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100