Top 7 # Xem Nhiều Nhất Cách Tóm Tắt Văn Bản Bài Làng Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Soạn Bài + Tóm Tắt Văn Bản Làng

1 – Tác giả:

– Tên khai sinh Nguyễn Văn Tài (1920 – 2007), quê Từ Sơn – Bắc Ninh.

– Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Kim Lân chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết văn từ năm 1941.

– Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc cuộc sống nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về đề tài sinh hoạt ở làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

– Một số truyện đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.

– Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê, qua đó góp phần biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân.

– Sau cách mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn và vẫn viết về làng quê Việt Nam – mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc.

– Ngoài hoạt động sáng tác, nhà văn Kim Lân còn tham gia sân khấu và điện ảnh,ông kịch, đóng phim. (Tiêu biểu là vai Lão Hạc trong bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”)

– Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông mất năm 2007, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn.

– Các tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng, Vợ nhặt, Con chó xấu xí, Làng,…

2. Tác phẩm:

– “Làng” được viết và đăng báo trên tạp chí Văn nghệ năm 1948 – giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì này thì người dân nghe theo chính sách của chính phủ: kêu gọi nhân dân ta tản cư, những người dân ở vùng địch tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để chúng ta cùng kháng chiến lâu dài.

– Kim Lân kể lại: “Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán. Trên khu ở mới, có tin đồn làng tôi là làng Việt gian. Mọi người đều nhìn những người dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường. Tôi yêu ngôi làng của tôi và không tin làng tôi lại có thể đi theo giặc Pháp. Tôi viết truyện ngắn “Làng” như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan cho làng tôi”. (Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

– Đoạn 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. – Đoạn 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc. – Đoạn 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông

không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

b. Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”:

– Đó là khi ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo giặc.

a. Trước khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:

– Nhớ làng da diết – muốn về làng, muốn tham gia kháng chiến.

– Mong nắng cho Tây chết.

b. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:

– Khi nghe tin xấu ông Hai sững sờ, xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ, tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

– Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông”cúi gằm mặt mà đi”. Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

– Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”

– Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây, tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn. Quê hương và Tổ quốc, bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Cuối cùng, ông đã quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

c. Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

– Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu. Ông “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”. Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật.

1. Nội dung:

Truyện thể hiện chân thực, sinh động tình cảm yêu làng quê thống nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai.

-Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách.

-Xây dựng cốt truyện tâm lí (đó là chú trọng vào các tình huống bên trong nội tâm nhân vật).

-Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc,tinh tế.

-Ngôn ngữ đặc sắc,sinh động, mang đậm chất khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng

Câu Thơ Lãng Mạn, Mau Don Xin Dat Lang Mo, Mẫu Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đáp án Câu Đố Một Làng Có 5 Góc Mỗi Góc Có 5 ông, Văn Tế Làng, Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Văn Tế Hội Làng, Ngữ Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Ma Làng, Dàn ý Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Đại Học Văn Lang, Mau Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Lang Thi Van Anh, Lang Son, Bài Thơ Ao Làng, Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta, Bài Thơ Im Lặng, Ma Làng Tập 1, Làng, To S Tắt Văn Bản Làng, Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đơn Xin Đất Để Xây Lăng Mộ, Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Làng Quy Lai, Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Vào Lăng Bác, Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Làng, Quy ước Làng Xã, Tóm Tắt Văn Bản Làng 9, Làng Xã Bắc Kỳ, K24 Văn Lang, Quy ước Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Đại Học Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Tóm Tắt Làng, Sổ Tay Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Cây Nữa Lang, Nữa Lang, Quy ước Làng Xóm, Trường Làng Tôi, Mức Học Phí Trường Văn Lang, Tập Đọc Lập Làng Giữ Biển, Kết Quả Xét Tuyển Đợt 1 Đại Học Văn Lang, Tài Liệu 7 Lãng Phí, Hương ước Làng Xã Là Gì, Sách Im Lặng, Quy ước Xây Dựng Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Trường Đại Học Văn Lang, Mức Học Phí Của Trường Đại Học Văn Lang, Quy Định ăn Mặc Vào Lăng Bác, Lặng Yên Dưới Vực Sâu, Lập Làng Giữ Biển, Lịch Học Văn Lang, Mẫu Powerpoint Lãng Mạn, Truyện Ma Làng Quê, Truyện Ma Làng Tôi, Văn Tế Đình Làng, Nguyên Tắc Im Lặng, Nội Dung Bài Làng, Văn Bản Viếng Lăng Bác, Nội Dung Bài Lặng Lẽ Sa Pa, Truyện Ma Làng, Truyện Ma Im Lặng, Văn Tế ở Đình Làng, Xét Tuyển Đợt 2 Đại Học Văn Lang, Luật Im Lặng, Xét Tuyển Đại Học Văn Lang Đợt 3, Luật Im Lặng Pdf, Xét Tuyển Đại Học Văn Lang, Viếng Lăng Bác, Nội Quy Đình Làng, Mẫu Giấy Mời Hội Làng, ôn Tập Bài Hát Bạn ơi Lắng Nghe, 9 Nguyên Tắc Văn Hoá Văn Lang, Chuẩn Đầu Ra Đại Học Văn Lang, Chuẩn Đầu Ra Văn Lang, Dàn Bài Viếng Lăng Bác, Dàn ý Im Lặng Là Vàng, Cây Đinh Lăng, Bai Tap Mai Lang Huong Lop 8, Nôi Dung Đơn Xin Xây Lăng Mộ, Hương ước Và Lệ Làng, Hương ước Lệ Làng, Hương ước Làng Xã, Hương ước Làng Mỹ Khê, Sấy Khoai Lang, Bìa Hương ước Làng, Danh Mục Cá Làng Xã Bắc Kỳ, 9 Nguyên Tắc Văn Lang, Bài Giảng Lặng Lẽ Sa Pa, Lắng Nghe Gió Hát, Bài Tập Làm Văn Viếng Lăng Bác, Lăng Cảnh Phú, Bình Làng, Làng Nghề,

Câu Thơ Lãng Mạn, Mau Don Xin Dat Lang Mo, Mẫu Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đáp án Câu Đố Một Làng Có 5 Góc Mỗi Góc Có 5 ông, Văn Tế Làng, Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Văn Tế Hội Làng, Ngữ Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Ma Làng, Dàn ý Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Đại Học Văn Lang, Mau Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Lang Thi Van Anh, Lang Son, Bài Thơ Ao Làng, Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta, Bài Thơ Im Lặng, Ma Làng Tập 1, Làng, To S Tắt Văn Bản Làng, Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đơn Xin Đất Để Xây Lăng Mộ, Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Làng Quy Lai, Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Vào Lăng Bác, Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Làng, Quy ước Làng Xã, Tóm Tắt Văn Bản Làng 9, Làng Xã Bắc Kỳ, K24 Văn Lang, Quy ước Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Đại Học Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Tóm Tắt Làng, Sổ Tay Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Cây Nữa Lang, Nữa Lang, Quy ước Làng Xóm, Trường Làng Tôi, Mức Học Phí Trường Văn Lang, Tập Đọc Lập Làng Giữ Biển, Kết Quả Xét Tuyển Đợt 1 Đại Học Văn Lang, Tài Liệu 7 Lãng Phí, Hương ước Làng Xã Là Gì,

Tóm Tắt Truyện: Làng Ngắn Nhất (5 Bài).

Tóm tắt truyện: Làng ngắn nhất (5 bài)

Tóm tắt Làng (Bản 1)

Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng.. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

Tóm tắt Làng (Bản 3)

Ông Hai là người dân làng chợ Dầu, trong những ngày tháng giặc Pháp tràn vào làng, ông cùng gia đình tản cư đến nơi khác. Làng của ông bị người ta đồn là làng Việt gian, bán nước, nhưng trong lòng ông vẫn giữ vững niềm tin về làng của mình. Khi đã sống ở nơi tản cư, ông Hai dù không biết đọc, nhưng hằng ngày vẫn đến phòng thông tin để nghe thông tin về kháng chiến, và đặc biệt là hỏi thăm thông tin về làng chợ Dầu của ông. Khi nghe người ở nơi tản cư đồn làng ông bán nước, ông Hai đã đau khổ, bức bối vô cùng, còn có cả suy nghĩ bỏ làng, nơi tản cư cũng không cho dân làng chợ Dầu ở nữa. Nhưng may thay, tới lúc gia đình ông chuẩn bị đi nơi khác thì tin làng ông theo Tây đã được cải chính, ông Hai sung sướng, tự hào vô cùng.

Tóm tắt Làng (Bản 4)

Truyện ngắn Làng của Kim Lân kể về thời gian đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Pháp đầy ác liệt, cam go. Truyện để về ông Hai là một con người buộc phải xa làng vì chiến tranh để đến nơi di tản mới. Trong lòng ông vẫn luôn nhớ da diết ngôi làng của mình.

Trở về làng ông hay tin ngôi làng đã theo giặc Tây, sự xấu hổ, tủi nhục đến nỗi ông không dám đi đâu ra khỏi nhà nhiều ngày liền. Mọi việc càng tệ hơn khi chủ nhà không cho gia đình ông ở vì ông là ngôi của làng Việt gian.

Bỗng ông hãy tin làng Chợ Dầu không hề theo Tây vẫn chiến đấu theo cụ Hồ theo cách mạng, trong lòng ông bỗng vui vẻ trở lại, ông khoe với mọi người khắp nơi rằng Tây đốt sạch làng Chợ Dầu đốt cả nhà của ông trong niềm vui, vui bởi làng vẫn yêu nước, yêu cách mạng. Đó là niềm vui của con người yêu làng, yêu quê hương chân chính.

Tóm tắt Làng (Bản 5)

Truyện ngắn Làng xoay quanh câu truyện về lòng yêu làng, lòng yêu nước của ông Hai – một lão nông rất cần cù, chất phác.

Khi ở nơi tản cư, ông hay nghĩ về làng, ông thấy “nhớ cái làng quá”. Ông nhớ những ngày cùng làm việc với anh em, cùng đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá. Ông phấn chấn, háo hức khi nghe được những tin hay về kháng chiến.

Khi nghe tin làng chợ Dầu theo Tây, ông sững sờ, “cổ ông lão nghẹn ắng lại”, “ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Trên đường về nhà, ông thấy xấu hổ, nhục nhã nên “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông chưa tin nhưng rồi cay đắng nhận ra “ai người ta hơi đâu bịa tạc” rồi “nước mắt ông lão giàn ra”. Ông thấy khổ tâm, nghĩ đến sự khinh bỉ của mọi người dành cho con ông. Ông căm giận dân làng và lo sợ không biết tương lai sinh sống thế nào. Ông cáu gắt với vợ, trằn trọc không ngủ được.

Suốt mấy ngày sau, ông Hai tủi hổ, không dám ra khỏi nhà. Ông u ám, tuyệt vọng, bế tắc và quyết định “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Ông tìm đến nói chuyện với con trai ông để khẳng định tình yêu làng, lòng chung thủy và niềm tin của ông với cách mạng, cụ Hồ.

Khi nghe tin làng Dầu được cải chính, ông Hai vô cùng sung sướng, ông vui mừng đi chia quà cho lũ trẻ và hả hê khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt.

Tham khảo các bài Soạn văn lớp 9 ngắn nhất, hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Tóm Tắt Truyện Làng Của Kim Lân.

Làng Dầu là quê hương bản quán của ông Hai. Là một nông dân nghèo khổ, dưới thời Pháp thuộc, ông Hai đã từng bị bọn hương lí trong làng truất ngồi trừ ngoại, phải xiêu dạt lang thang kiếm sống, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn, mười mấy năm trước mới lần hồi trở về quê quán.

Ông Hai hay làm, không mấy lúc chịu ngơi tay, không đi cày, đi cuốc, gánh phân tát nước thì ông đan rổ rá hay chữa lại cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp.

Ông Hai lại có tính hay khoe cái làng Dầu của ông. Nào là nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. Nào là đường trong làng toàn lát đá xanh… Nào là làng ông có cái sinh phần của viên tổng đốc, cái dinh cơ ấy “lắm lắm là của; vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy”.

Nhưng từ ngày khởi nghĩa, ông Hai không bao giờ đả động đến cái làng ấy nữa, ông thù nó. Xây cái lăng ấy, cả làng phải phục dịch, còn ông thì bị một chồng gạch đổ làm bại một bên hông, đến nay cái chân vẫn còn đi khấp khểnh. Bây giờ khoe làng, ông Hai lại khoe khác. Khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quân sự có các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai. Khoe làng Dầu có nhiều hố, ụ, những giao thông hào. Những công trình ở xóm Khu, ở Ngõ Mái… không để đâu hết. Ông khoe cái làng Dầu có phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre.

Kháng chiến bùng nổ, bà con làng Dầu đi tản cư. Nhưng ông Hai vẫn ở lại làng cùng anh em đào đường, đắp ụ… Trong lúc hữu sự, ông không nỡ bỏ làng ra đi. Nhưng rồi gia cảnh gieo neo, ba đứa con dại, một mình bà Hai xoay xở nơi tản cư, vốn liếng lại không có, ông Hai bất đắc đĩ phải nghe theo lời khẩn khoản của vợ để ra đi. Ông buồn khổ lắm, chỉ biết tự an ủi: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu cũng là kháng chiến”.

Đến nơi tản cư, ông Hai buồn khổ, bực bội vô cùng. Ông trở nên ít nói, ít cười, hay cáu gắt; ông sợ mụ chủ nhà, một người đàn bà lành chanh lành chói, đã lấy đến ba đời chồng, rất tham lam, tinh quái. Ông Hai nhớ làng, ông chỉ còn biết khoe làng với bác Thứ; ông chỉ còn có niềm vui đi đến phòng thông tin nghe đọc báo. Ông giả vờ đứng xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Tin chiến sự đánh Tây, giết Tây làm cho “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”

Nhưng rồi cái tin dữ “cả cái làng Dầu Việt gian theo Tây” từ miệng những người đàn bà tản cư nói ra làm cho ông Hai “nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân, Việt gian từ thằng chủ tịch…. cả làng vác cờ thần ra hoan hô giặc,… thằng chánh Bệu khuân cả tủ chè, đỉnh đồng, đưa vợ con lên vị trí với giặc ở ngoài tỉnh… Ông Hai cay đắng nguyền rủa cái giống Việt gian bán nước. Có lúc ông lại băn khoăn, ngờ ngợ: chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn đến thế… họ toàn là những người có tinh thần cả mà. Nhưng thằng chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi.

Cái tin dữ được cải chính. Ông Hai đi từ chiều mãi đến sẩm tối mới về, ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên, mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy. Ông mua bánh rán đường cho các con. Gặp ai ông cũng nói về cái tin làng Dầu Việt gian theo Tây “toàn là sai sự mục đích cả!” Tối hôm ấy, ông lại sang bên gian nhà bác Thứ, ngồi trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái làng Dầu, chuyện Tây khủng bố, chuyện dân quân, tự vệ làng ông bố trí, cầm cự ra sao, chuyên nhà ông bị Tây đốt…. rành rọt, tỉ mỉ như chính ông vừa dự trận đánh giặc ấy xong thật.

Trích: chúng tôi