Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới Nhất Năm 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Bfsc Law Firm_Bản Tin Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành Tháng 6, 7, 8 Năm 2022
  • Đề Cương Tuyên Truyền Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2022
  • Bản Tin Văn Bản Pháp Luật Mới Áp Dụng Từ T7/2018
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022 Số 80/2015/qh13
  • Quy Định Về Bổ Nhiệm Công Chứng Viên Theo Pháp Luật
  • Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới nhất năm 2022 số 80/2015/QH13 do Quốc hội ban hành ngày ngày 22 tháng 06 năm 2022 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2022, thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 với nhiều quy định mới về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nội dung văn bản quy phạm pháp luật; các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng văn bản, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hiệu lực của văn bản, quy trình giải thích, giám sát, kiểm tra, hợp nhất nhiều văn bản quy phạm pháp luật.

    LUẬT

    BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

    Luật này không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.

    Điều 2. Văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.

    Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.

    1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
    2. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.
    3. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật.

    Cụ thể một số nội dung quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 như:

    – Quy định về việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật sau khi công bố hoặc ký ban hành: Trong thời hạn 03 ngày, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai văn bản pháp luật đó.

    – Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực. Cụ thể tại Điều 154 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 quy định:

    Điều 154. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lựcVăn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đâyHết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.

    – Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật:

    Điều 151 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật:

    + Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương;

    + 10 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

    + 07 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.

    + Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.

    Việc áp dụng các quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật giúp ích rất nhiều cho tất cả những cá nhân đang hành nghề luật, được áp dụng cho cả chủ thể của các cơ quan tư pháp như Tòa án, Viện kiểm sát, đến các cơ quan đơn vị hành chính như Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân dân. Đối với Luật sư, người đang theo học nghề luật, thậm chí là một công dân bất kỳ nếu biết chính xác trình tự, thẩm quyền ban hành, thủ tục ban hành, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật sẽ giúp người đọc văn bản quy phạm đó biết cách áp dụng và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ một cách công bằng, minh bạch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Đấu Thầu: 09 Điểm Nổi Bật Nhất Năm 2022
  • Văn Bản Pháp Luật Hiệu Lực Về Lĩnh Vực Đất Đai.
  • Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai
  • Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai
  • Văn Bản Pháp Luật Mới Về Môi Trường
  • Bfsc Law Firm_Bản Tin Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành Tháng 6, 7, 8 Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Tuyên Truyền Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2022
  • Bản Tin Văn Bản Pháp Luật Mới Áp Dụng Từ T7/2018
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022 Số 80/2015/qh13
  • Quy Định Về Bổ Nhiệm Công Chứng Viên Theo Pháp Luật
  • 13 Điểm Mới Quan Trọng Tại Thông Tư 04/2020/tt
  • BFSC Law Firm_Bản tin văn bản pháp luật mới ban hành tháng 6, 7, 8 năm 2022

    BFSC Law Firm tổng hợp và giới thiệu danh sách các văn bản mới ban hành trong các tháng 6, 7 và 8 năm 2022. Trong số này, quý khách hàng của BFSC lưu ý đến các văn bản quan trọng mới được ban hành bao gồm: Luật Doanh nghiệp mới; Luật đầu tư mới; Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư ban hành lần đầu; Luật sửa đổi bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xây dựng; Nghị định 81/2020/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 63/2018/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Nếu Quý khách hàng có yêu cầu nhận bản gốc văn bản, vui lòng liên hệ với chúng tôi. Để đăng ký nhận các bản tin văn bản pháp luật mới ban hành và đăng ký nhận các tin tức mới cập nhật từ website của BFSC Law Firm, quý khách vui lòng thực hiện thao tác nhập email đăng ký tại góc dưới cùng bên phải của trang tin.

    DOANH NGHIỆP & MUA BÁN SÁP NHẬP (1) Doanh nghiệp 59/2020/QH14

    Luật Doanh nghiệp của Quốc hội, số 59/2020/QH14

    (2) Đầu tư 61/2020/QH14

    Luật Đầu tư của Quốc hội, số 61/2020/QH14

    64/2020/QH14

    Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư của Quốc hội, số 64/2020/QH14

    80/2020/NĐ-CP

    Nghị định 80/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc quản lý và sử dụng viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam

    113/2020/QH14

    Nghị quyết 113/2020/QH14 của Quốc hội về việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp đầu tư theo Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một bên là Liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu

    103/2020/QH14

    Nghị quyết 103/2020/QH14 của Quốc hội về việc phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa một bên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và một bên là Liên minh Châu Âu và các nước thành viên Liên minh Châu Âu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2022
  • Luật Đấu Thầu: 09 Điểm Nổi Bật Nhất Năm 2022
  • Văn Bản Pháp Luật Hiệu Lực Về Lĩnh Vực Đất Đai.
  • Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai
  • Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022, Luật Mới Nhất 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2008 17/2008/qh12
  • Bình Luận Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2008
  • Bình Luận Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2008
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2008
  • Công Văn Trích Dẫn Các Điều Luật Và Văn Bản Pháp Quy Xử Lý Vi Phạm Lưu Thông Trái Phép Quặng Quý Hiếm, Vàng Và Đá Quý Khai Thác Từ Lòng Đất
  • 1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

    2. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.

    3. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật.

    Điều 4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

    2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.

    3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

    5. Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).

    10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    11. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    12. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).

    13. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

    15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

    Điều 5. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

    1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.

    2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.

    4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.

    5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

    1. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn bản do mình trình.

    2. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành văn bản về tiến độ soạn thảo, chất lượng dự án, dự thảo văn bản được phân công soạn thảo.

    3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến.

    4. Cơ quan thẩm định chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

    Cơ quan thẩm tra chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

    5. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và cơ quan khác, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành.

    6. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

    7. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết có nội dung ngoài phạm vi được giao quy định chi tiết.

    Điều 8. Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật

    1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.

    Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

    2. Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác.

    3. Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.

    4. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

    Chính phủ quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, người có thẩm quyền khác được quy định trong Luật này.

    Điều 9. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài

    Văn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài; bản dịch có giá trị tham khảo.

    Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    Điều 10. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật

    1. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện rõ số thứ tự, năm ban hành, loại văn bản, cơ quan ban hành văn bản.

    2. Việc đánh số thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn bản và năm ban hành. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm kỳ của Quốc hội.

    3. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp như sau:

    a) Số, ký hiệu của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;

    b) Số, ký hiệu của pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;

    c) Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: “số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản – tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản”.

    2. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp.

    Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.

    3. Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, trừ trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau.

    Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết.

    2. Hồ sơ dự án, dự thảo và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

    Điều 14. Những hành vi bị nghiêm cấm

    1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

    2. Ban hành văn bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4 của Luật này nhưng có chứa quy phạm pháp luật.

    3. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật này.

    4. Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.

    CHƯƠNG II

    THẨM QUYỀN BAN HÀNH, NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Điều 15. Luật, nghị quyết của Quốc hội

    1. Quốc hội ban hành luật để quy định:

    a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

    b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;

    c) Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

    d) Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;

    đ) Quốc phòng, an ninh quốc gia;

    e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

    g) Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

    h) Chính sách cơ bản về đối ngoại;

    k) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;

    l) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:

    a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;

    b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;

    c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;

    d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;

    e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

    Điều 16. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được Quốc hội giao.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:

    a) Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

    b) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội;

    c) Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;

    d) Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

    đ) Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;

    e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 17. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

    Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để quy định:

    1. Tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được;

    2. Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.

    Điều 19. Nghị định của Chính phủ

    Chính phủ ban hành nghị định để quy định:

    1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

    3. Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 20. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ

    Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định để quy định:

    1. Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ;

    2. Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    Điều 21. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

    Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử.

    Điều 24. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:

    1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

    2. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.

    Điều 26. Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước

    Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.

    Điều 27. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

    Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:

    1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;

    2. Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;

    3. Biện pháp nhằm phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;

    4. Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:

    1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;

    2. Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;

    3. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.

    Điều 30. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

    Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.

    Mục 1

    LẬP CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH Điều 31. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng hằng năm trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

    2. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại kỳ họp thứ nhất của năm trước.

    Điều 32. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức

    1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội thì có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải dựa trên các căn cứ sau đây:

    a) Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    c) Yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh;

    2. Đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh được lập theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này.

    3. Đại biểu Quốc hội có quyền tự mình hoặc đề nghị Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp hỗ trợ trong việc lập văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

    4. Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để đại biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    Điều 34. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trong việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Trước khi lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội tiến hành hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các hoạt động sau đây:

    c) Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đánh giá tác động của chính sách;

    d) Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.

    2. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật này.

    4. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình thì cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh còn có trách nhiệm lấy ý kiến của Chính phủ và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Chính phủ.

    Điều 35. Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì cơ quan đề xuất chính sách đó có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách.

    2. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu có).

    3. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, soạn thảo dự thảo báo cáo đánh giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo; tiếp thu, chỉnh lý dự thảo báo cáo.

    4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    Điều 36. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm sau đây:

    a) Đăng tải báo cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là 30 ngày;

    c) Tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên cổng thông tin điện tử quy định tại khoản này.

    Điều 37. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh

    1. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm:

    a) Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh;

    b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và ý kiến của các cơ quan, tổ chức khác; bản chụp ý kiến góp ý;

    2. Văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, mục đích, yêu cầu ban hành, quan điểm, chính sách, nội dung chính của luật, pháp lệnh.

    Điều 38. Trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình

    1. Đối với các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo phân công của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    2. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các hoạt động quy định tại Điều 34 của Luật này.

    2. Các bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến Bộ Tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này.

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh;

    b) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật và tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Bộ Tư pháp về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến của Bộ Tư pháp về việc đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.

    5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến bộ, cơ quan ngang bộ đã lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và đồng thời gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được chỉnh lý kèm theo báo cáo giải trình, tiếp thu cho Bộ Tư pháp khi trình Chính phủ.

    Điều 40. Trình Chính phủ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình

    1. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm trình Chính phủ hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 20 ngày trước ngày tổ chức phiên họp của Chính phủ.

    2. Hồ sơ trình Chính phủ bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;

    b) Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    Điều 41. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình

    Chính phủ tổ chức phiên họp để xem xét các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    1. Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    2. Đại diện Bộ Tư pháp trình bày Báo cáo thẩm định;

    3. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    5. Chính phủ ra nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính sách đã được thông qua.

    Điều 43. Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được Chính phủ thông qua.

    a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

    b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    d) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.

    Điều 44. Chính phủ cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh

    1. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh thì trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh quy định tại Điều 37 của Luật này để Chính phủ cho ý kiến.

    Chính phủ có trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, văn bản kiến nghị.

    a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo ý kiến của Chính phủ;

    b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    d) Thủ tướng Chính phủ kết luận.

    4. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chỉnh lý dự thảo ý kiến của Chính phủ trên cơ sở kết luận của Thủ tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Điều 45. Trách nhiệm lập và xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình

    1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận chỉ đạo việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; phân công cơ quan, đơn vị chủ trì lập đề nghị.

    2. Cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các hoạt động quy định tại Điều 34 của Luật này.

    Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đơn vị được phân công lập đề nghị có trách nhiệm lấy ý kiến của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao trước khi báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    3. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức phiên họp để xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    b) Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức khác tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    4. Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    a) Cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo cáo Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    b) Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    5. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ để lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; trường hợp đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ thì đại biểu Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    a) Cơ quan hỗ trợ đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo cáo đại biểu Quốc hội về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

    b) Đại biểu Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

    Điều 46. Thời hạn và hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh

    1. Chậm nhất vào ngày 01 tháng 3 của năm trước, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh phải được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời được gửi đến Ủy ban pháp luật của Quốc hội để thẩm tra.

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định sau đây:

    a) Đối với đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, hồ sơ gồm tờ trình của Chính phủ; dự kiến chương trình và bản điện tử các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;

    b) Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội, hồ sơ gồm tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 của Luật này và ý kiến của Chính phủ về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản điện tử các tài liệu còn lại quy định tại Điều 37 của Luật này.

    Đối với kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì tài liệu gồm văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh và ý kiến của Chính phủ về kiến nghị về luật, pháp lệnh.

    Điều 47. Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh 1. Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

    Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, chính sách cơ bản của văn bản, tính thống nhất, tính khả thi, thứ tự ưu tiên, thời điểm trình, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản. Điều 48. Lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện Chính phủ trình bày tờ trình đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, kiến nghị về luật, pháp lệnh.

    Đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có thể được mời phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của mình;

    b) Đại diện Ủy ban pháp luật trình bày báo cáo thẩm tra;

    c) Đại biểu tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    đ) Đại diện Chính phủ, đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trình bày bổ sung những vấn đề được nêu ra tại phiên họp;

    e) Chủ tọa phiên họp kết luận.

    2. Căn cứ vào đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Ủy ban pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội xem xét, quyết định.

    Hồ sơ dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gồm tờ trình và dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản điện tử hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này. Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.

    Điều 49. Trình tự xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

    đ) Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

    2. Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ tên dự án luật, pháp lệnh và thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án đó.

    Điều 50. Triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo và triển khai việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thông qua các hoạt động sau đây:

    a) Phân công cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

    Trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội thì Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc thành lập Ủy ban lâm thời để thẩm tra.

    Trong trường hợp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra;

    b) Thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật này;

    c) Quyết định tiến độ xây dựng dự án luật, pháp lệnh và các biện pháp cụ thể để bảo đảm việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

    2. Ủy ban pháp luật có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

    3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ trình.

    Điều 51. Điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong các trường hợp sau đây:

    a) Đưa ra khỏi chương trình các dự án luật, pháp lệnh không cần thiết phải ban hành do có sự thay đổi về tình hình kinh tế – xã hội hoặc điều chỉnh thời điểm trình trong trường hợp cần thiết;

    b) Bổ sung vào chương trình các dự án luật, pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu cấp thiết phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tính mạng, tài sản của Nhân dân; các dự án luật, pháp lệnh cần sửa đổi theo các văn bản mới được ban hành để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật hoặc để thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Việc bổ sung vào chương trình được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 32 đến Điều 42, các điều 44, 45, 47 và khoản 1 Điều 48 của Luật này.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

    Mục 2

    SOẠN THẢO LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT Điều 52. Thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo trong những trường hợp sau đây:

    b) Dự án luật, dự thảo nghị quyết do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình;

    c) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do đại biểu Quốc hội trình, thành phần Ban soạn thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của đại biểu Quốc hội.

    2. Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì Thủ tướng Chính phủ giao cho một bộ hoặc cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

    3. Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do cơ quan khác, tổ chức trình thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo và chủ trì soạn thảo, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.

    Điều 54. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo, Trưởng Ban soạn thảo, thành viên Ban soạn thảo

    1. Ban soạn thảo có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.

    2. Ban soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:

    a) Xem xét, thông qua đề cương chi tiết dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;

    c) Bảo đảm các quy định của dự thảo phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của văn bản.

    3. Trưởng Ban soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:

    a) Thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo và chỉ đạo Tổ biên tập biên soạn và chỉnh lý dự thảo văn bản;

    b) Tổ chức các cuộc họp và các hoạt động khác của Ban soạn thảo;

    c) Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Ban soạn thảo.

    4. Thành viên Ban soạn thảo có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các cuộc họp của Ban soạn thảo, chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, tính khả thi của các nội dung được phân công trong dự thảo văn bản và tiến độ xây dựng dự thảo văn bản; trường hợp vì lý do khách quan mà không tham dự được thì phải có ý kiến góp ý bằng văn bản.

    Điều 55. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết

    1. Tổ chức xây dựng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách đã được xây dựng trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức trình dự án, dự thảo.

    4. Nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc ý kiến tham gia của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình.

    5. Chuẩn bị báo cáo giải trình về những chính sách mới phát sinh cần bổ sung vào dự án, dự thảo để trình cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có thẩm quyền trình xem xét, quyết định.

    6. Dự kiến những nội dung cần được giao quy định chi tiết trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; kiến nghị phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các điều, khoản, điểm của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.

    7. Đối với dự án, dự thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình và dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội tự mình soạn thảo thì cơ quan được Ủy ban thường vụ Quốc hội giao chủ trì soạn thảo, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo với Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo với Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

    Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nếu có sự thay đổi lớn về chính sách so với chính sách đã được Chính phủ thông qua thì bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    Điều 56. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có các nhiệm vụ sau đây:

    b) Xem xét, quyết định việc trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án, dự thảo; trường hợp đặc biệt chưa thể trình dự án, dự thảo theo đúng tiến độ thì phải kịp thời báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định và nêu rõ lý do.

    2. Trường hợp dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình thì chậm nhất là 40 ngày trước ngày khai mạc phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự án, dự thảo đến Chính phủ để Chính phủ cho ý kiến.

    2. Ngoài đăng tải để lấy ý kiến theo quy định tại khoản 1 Điều này, việc lấy ý kiến có thể thông qua hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo, tọa đàm, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.

    3. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý và đăng tải nội dung giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức mình để Nhân dân biết.

    4. Đối với dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội soạn thảo, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến theo quy định tại Điều này.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo;

    c) Bản đánh giá thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn bản, nếu trong dự án, dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính;

    e) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được thông qua;

    c) Sự cần thiết, tính hợp lý và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính;

    d) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Trong trường hợp Bộ Tư pháp kết luận dự án, dự thảo chưa đủ điều kiện trình Chính phủ thì trả lại hồ sơ cho cơ quan chủ trì soạn thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo và đồng thời gửi báo cáo giải trình tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.

    Điều 59. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Chính phủ

    1. Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo.

    2. Dự thảo văn bản.

    4. Bản đánh giá thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có thủ tục hành chính.

    6. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý.

    7. Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    a) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo; việc giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định;

    b) Đại diện cơ quan thẩm định phát biểu ý kiến về việc cơ quan chủ trì soạn thảo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Đại diện Văn phòng Chính phủ trình bày những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về dự án, dự thảo;

    đ) Chính phủ biểu quyết về việc trình dự án, dự thảo.

    2. Trong trường hợp Chính phủ không thông qua việc trình dự án, dự thảo thì Thủ tướng Chính phủ ấn định thời gian xem xét lại dự án, dự thảo.

    Điều 62. Chính phủ cho ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình

    1. Đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình, thì trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết phải gửi các tài liệu sau đây để Chính phủ cho ý kiến:

    a) Tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Chính phủ có trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị và thể hiện rõ ý kiến của Chính phủ về dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    3. Bộ, cơ quan ngang bộ được Thủ tướng Chính phủ phân công chuẩn bị ý kiến, chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp dự kiến những nội dung cần cho ý kiến, trình Chính phủ xem xét, quyết định.

    Điều 64. Hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để thẩm tra

    1. Hồ sơ dự án, dự thảo để thẩm tra bao gồm:

    a) Tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;

    c) Báo cáo thẩm định đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình; ý kiến của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý;

    e) Dự thảo văn bản quy định chi tiết và tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.

    Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội thì chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.

    3. Cơ quan thẩm tra không tiến hành thẩm tra dự án, dự thảo khi chưa đủ các tài liệu trong hồ sơ hoặc hồ sơ gửi không đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

    Điều 65. Nội dung thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây:

    1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản;

    2. Nội dung của dự thảo văn bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; việc giao và chuẩn bị văn bản quy định chi tiết (nếu có);

    4. Tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản;

    5. Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật;

    Điều 66. Phương thức thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    1. Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra; đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban để thẩm tra sơ bộ.

    2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời cơ quan tham gia thẩm tra hoặc Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra.

    Điều 67. Báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    1. Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại Điều 65 của Luật này, đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.

    2. Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra về nội dung dự án, dự thảo; về việc dự án, dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội.

    Trong trường hợp cơ quan chủ trì thẩm tra có ý kiến dự án, dự thảo chưa đủ điều kiện trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội thì báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình dự án, dự thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo.

    Điều 68. Trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật

    1. Ủy ban pháp luật có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật.

    2. Ủy ban pháp luật tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

    3. Nội dung thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật bao gồm:

    a) Sự phù hợp của quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với quy định của Hiến pháp; sự phù hợp của quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

    b) Sự thống nhất về nội dung giữa quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với luật, nghị quyết của Quốc hội; giữa quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giữa các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; sự thống nhất về kỹ thuật văn bản.

    2. Ủy ban về các vấn đề xã hội tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

    3. Nội dung thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm:

    a) Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo;

    b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

    c) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;

    d) Tính khả thi của các quy định trong dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới.

    Điều 71. Trình tự Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội

    1. Tuỳ theo tính chất và nội dung của dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến một lần hoặc nhiều lần.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về nội dung cơ bản của dự án, dự thảo.

    Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về dự án, dự thảo không do Chính phủ trình;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    đ) Chủ tọa phiên họp kết luận.

    Điều 72. Tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội theo ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội

    1. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự án, dự thảo.

    Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền trình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự án, dự thảo, trừ trường hợp cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    2. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có ý kiến khác với ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

    Điều 73. Xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    1. Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội; trường hợp dự án luật lớn, nhiều điều, khoản có tính chất phức tạp thì Quốc hội có thể xem xét, thông qua tại ba kỳ họp.

    Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo trình Quốc hội phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải được gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    3. Hồ sơ dự án, dự thảo trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo.

    Tờ trình, dự thảo văn bản và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Dự thảo đã được chỉnh lý.

    Điều 79. Ngày thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

    Ngày thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là ngày Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết đó.

    Mục 6

    CÔNG BỐ LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT Điều 80. Công bố luật, pháp lệnh, nghị quyết

    1. Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.

    Đối với pháp lệnh đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Hiến pháp thì chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, Chủ tịch nước gửi văn bản đến Ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến tại phiên họp gần nhất. Sau khi pháp lệnh được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết, thông qua lại thì Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua lại. Trong trường hợp Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.

    Đối với luật, pháp lệnh được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.

    2. Tổng thư ký Quốc hội công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.

    Đối với nghị quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì Tổng thư ký Quốc hội công bố nghị quyết chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.

    CHƯƠNG IV

    XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC Điều 81. Xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước

    1. Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định cơ quan soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức soạn thảo lệnh, quyết định.

    4. Tùy theo nội dung của dự thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo. Việc đăng tải dự thảo lệnh, quyết định phải bảo đảm thời gian ít nhất là 60 ngày, trừ trường hợp văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước.

    6. Chủ tịch nước xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định.

    Điều 83. Triển khai xây dựng văn bản quy định chi tiết

    1. Bộ Tư pháp theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; định kỳ hằng quý và hằng năm báo cáo Chính phủ.

    Mục 2

    XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH Điều 84. Đề nghị xây dựng nghị định

    1. Đề nghị xây dựng nghị định được áp dụng đối với việc xây dựng, ban hành nghị định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.

    2. Bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chuẩn bị đề nghị xây dựng nghị định thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

    3. Đề nghị xây dựng nghị định được xây dựng trên các căn cứ sau đây:

    a) Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    b) Chương trình hành động của Chính phủ; yêu cầu quản lý, điều hành của Chính phủ cần phải điều chỉnh bằng nghị định;

    c) Kết quả nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn;

    3. Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định; đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị định sau khi được Chính phủ thông qua.

    4. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định theo quy định tại Điều 87 của Luật này.

    Điều 86. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng nghị định

    Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm sau đây:

    2. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có thể tổ chức lấy ý kiến trực tiếp, tổ chức hội thảo, tọa đàm để lấy ý kiến về các chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng nghị định;

    3. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định.

    2. Hồ sơ thẩm định gửi đến Bộ Tư pháp gồm các tài liệu quy định tại Điều 87 của Luật này.

    Tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 của Luật này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định đề nghị xây dựng nghị định trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Sự cần thiết ban hành nghị định; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị định;

    b) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật, tính khả thi của nội dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng nghị định;

    e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng nghị định.

    4. Bộ Tư pháp kết luận về việc hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định đủ điều kiện trình Chính phủ, hồ sơ cần tiếp tục hoàn thiện, hồ sơ không đủ điều kiện trình Chính phủ.

    5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Chính phủ.

    Điều 89. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định Điều 90. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định

    1. Cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định chịu trách nhiệm trước Chính phủ về nội dung, chất lượng và tiến độ soạn thảo nghị định.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định có nhiệm vụ sau đây:

    c) Tổ chức lấy ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và đăng tải các tài liệu này trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự thảo nghị định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị định.

    5. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    6. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Chính phủ dự thảo nghị định.

    Điều 95. Xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc ban hành nghị định

    1. Đối với nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này, trước khi ban hành, Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.

    2. Hồ sơ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm:

    a) Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành nghị định, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành; các chính sách cơ bản và nội dung chính của dự thảo; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản; những vấn đề cần xin ý kiến và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

    đ) Báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    e)Tài liệu khác (nếu có).

    3. Dự thảo nghị định phải được Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến.

    4. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến, quyết định việc cho phép ban hành nghị định.

    5. Chính phủ có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 96. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị định

    Chính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị định theo trình tự sau đây:

    1. Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự thảo nghị định;

    2. Đại diện Bộ Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    4. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    6. Chính phủ biểu quyết thông qua dự thảo nghị định.

    Trong trường hợp dự thảo nghị định chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo những vấn đề cần phải chỉnh lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua;

    7. Thủ tướng Chính phủ ký nghị định.

    Mục 3

    XÂY DỰNG, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Điều 97. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

    1. Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ.

    2. Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:

    b) Đánh giá tác động của từng chính sách trong dự thảo quyết định, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu có);

    đ) Tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo quyết định;

    đ) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo quyết định; sự cần thiết ban hành quyết định đối với quyết định quy định tại Điều 20 của Luật này;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo quyết định với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    đ) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành quyết định;

    e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

    4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự thảo quyết định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo quyết định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo quyết định.

    5. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 1 Điều này và ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Thủ tướng Chính phủ.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    6. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định.

    Điều 99. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Thủ tướng Chính phủ

    1. Tờ trình về dự thảo quyết định.

    2. Dự thảo quyết định đã được chỉnh lý sau khi có ý kiến thẩm định.

    3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

    4. Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong dự thảo quyết định.

    5. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    6. Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành quyết định.

    2. Trong quá trình soạn thảo thông tư, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ trong thời gian ít nhất là 60 ngày.

    Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo thông tư, bộ, cơ quan ngang bộ có thể lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ khác, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức khác, các chuyên gia, nhà khoa học. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình về dự thảo thông tư;

    c) Bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo; bản chụp ý kiến góp ý;

    d) Báo cáo đánh giá tác động; bản đánh giá thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao quy định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có);

    đ) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào những vấn đề sau đây:

    a) Sự cần thiết ban hành thông tư; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của thông tư;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo thông tư với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    đ) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để thi hành thông tư;

    e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của tổ chức pháp chế về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến đơn vị chủ trì soạn thảo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    Điều 103. Hồ sơ dự thảo thông tư trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ

    1. Tờ trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về dự thảo thông tư.

    3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

    4. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo.

    5. Báo cáo đánh giá tác động; bản đánh giá thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao quy định thủ tục hành chính; báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có).

    6. Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ xem xét, ký ban hành thông tư.

    CHƯƠNG VI

    XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO, TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC Điều 105. Xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

    3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo nghị quyết.

    6. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp để thông qua dự thảo nghị quyết.

    Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì có quyền báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại phiên họp gần nhất.

    7. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Điều 106. Xây dựng, ban hành thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

    1. Dự thảo thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

    4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.

    Điều 107. Xây dựng, ban hành thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    1. Dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

    4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.

    Điều 108. Xây dựng, ban hành quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước

    1. Dự thảo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước do Tổng Kiểm toán nhà nước tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.

    2. Dự thảo quyết định được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Kiểm toán nhà nước trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.

    4. Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành quyết định.

    Điều 109. Xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch Điều 110. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch CHƯƠNG VIII

    XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH Điều 111. Đề nghị xây dựng nghị quyết

    1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu Hội đồng nhân dân, có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân để quy định chi tiết vấn đề được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

    2. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân để xem xét, quyết định.

    3. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này thì trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân phải thực hiện theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116 của Luật này.

    3. Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết; đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua.

    4. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định tại Điều 114 của Luật này.

    3. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.

    Điều 114. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết

    1. Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết; mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; mục tiêu, nội dung chính sách trong dự thảo nghị quyết và các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.

    2. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu ban hành chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do lựa chọn; xác định vấn đề giới và tác động giới của chính sách.

    4. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp; bản chụp ý kiến góp ý.

    6. Tài liệu khác (nếu có).

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết gửi để thẩm định gồm các tài liệu theo quy định tại Điều 114 của Luật này.

    Tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 114 của Luật này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Thời hạn thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định. Nội dung thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật này.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Sở Tư pháp về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và về đề nghị xây dựng nghị quyết đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.

    5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý đề nghị xây dựng nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo đề nghị xây dựng nghị quyết đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết.

    2. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác quy định tại Điều 111 của Luật này đề nghị thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thông qua các chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết.

    Điều 117. Trình đề nghị xây dựng nghị quyết

    1. Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật này trình Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết.

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này bao gồm:

    3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này bao gồm:

    Điều 118. Phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị quyết

    Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét đề nghị xây dựng nghị quyết; nếu chấp thuận thì phân công cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết và quyết định thời hạn trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết; cơ quan, tổ chức trình phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo nghị quyết.

    Điều 119. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị quyết

    2. Tổ chức lấy ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và các tài liệu khác; đăng tải các tài liệu này trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

    Điều 120. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.

    3. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản.

    Điều 121. Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Điều 122. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về dự thảo nghị quyết;

    c) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    đ) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các điểm a, b và c khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ủy ban nhân dân để chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp.

    Điều 124. Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân.

    2. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra để thẩm tra. Hồ sơ gửi thẩm tra bao gồm:

    a) Tờ trình Hội đồng nhân dân về dự thảo nghị quyết;

    c) Báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân trình; ý kiến của Ủy ban nhân dân và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của Ủy ban nhân dân đối với dự thảo do Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình;

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;

    đ) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các điểm a, b và c khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Nội dung của dự thảo nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với tình hình, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;

    d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật.

    4. Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 3 Điều này và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

    Báo cáo thẩm tra phải được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.

    Điều 125. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

    1. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân. Hồ sơ dự thảo nghị quyết bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 124 của Luật này;

    c) Ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác trình;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 124 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    2. Hồ sơ dự thảo nghị quyết phải được gửi đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.

    Điều 126. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

    1. Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết thuyết trình dự thảo nghị quyết;

    b) Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

    d) Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra chủ trì, phối hợp cơ quan, tổ chức trình, Sở Tư pháp giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;

    2. Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

    3. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.

    CHƯƠNG IX

    XÂY DỰNG, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH Điều 127. Đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    2. Đề nghị xây dựng quyết định phải nêu rõ tên gọi, sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung chính của quyết định, dự kiến thời gian ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo. Đối với quyết định quy định những vấn đề được giao quy định chi tiết, cơ quan đề xuất phải rà soát văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước trung ương và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp để xác định rõ nội dung, phạm vi giao quy định cụ thể.

    3. Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xem xét kiểm tra việc đề nghị ban hành quyết định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

    Điều 128. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:

    b) Xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo quyết định;

    c) Đánh giá tác động văn bản trong trường hợp dự thảo quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đánh giá tác động của thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao, đánh giá tác động về giới (nếu có);

    d) Tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo quyết định.

    Điều 130. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thời hạn, hồ sơ, nội dung thẩm định, báo cáo thẩm định được thực hiện theo quy định tại Điều 121 của Luật này.

    Điều 132. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

    1. Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định. Trong trường hợp dự thảo quyết định được xem xét, thông qua tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình dự thảo quyết định;

    b) Đại diện Sở Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình bày ý kiến;

    2. Dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biểu quyết tán thành.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký quyết định.

    Điều 133. Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện do Ủy ban nhân dân cùng cấp trình. Căn cứ vào tính chất và nội dung của nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện phân công cơ quan chủ trì soạn thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo nghị quyết.

    Điều 134. Thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

    1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    Chậm nhất là 10 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện đến Phòng Tư pháp để thẩm định.

    2. Thời hạn, hồ sơ, nội dung thẩm định và báo cáo thẩm định thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 121 của Luật này.

    Điều 137. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện

    1. Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;

    b) Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

    2. Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

    3. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.

    Điều 138. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện

    1. Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phân công và trực tiếp chỉ đạo cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân soạn thảo. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo quyết định.

    Điều 139. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện Điều 140. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân cấp huyện

    1. Cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Ủy ban nhân dân cấp huyện chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp để chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân.

    2. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 139 của Luật này;

    b) Báo cáo thẩm định.

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 139 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    Điều 141. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện

    1. Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định. Trong trường hợp xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp Ủy ban nhân dân thì được tiến thành theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan soạn thảo trình bày dự thảo quyết định;

    b) Đại diện Phòng Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    2. Dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành quyết định.

    Điều 142. Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã do Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức soạn thảo và trình Hội đồng nhân dân.

    2. Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;

    b) Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

    3. Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

    4. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.

    Điều 144. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã

    1. Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức, chỉ đạo việc soạn thảo.

    2. Việc xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã được tiến hành theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện tổ chức, cá nhân được phân công soạn thảo trình bày dự thảo quyết định;

    3. Dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã biểu quyết tán thành.

    4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký ban hành quyết định.

    Điều 146. Các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn Điều 147. Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trình Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội.

    2. Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

    4. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Điều 149. Hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn

    1. Hồ sơ trình xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn được quy định như sau:

    a) Hồ sơ trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm tra;

    b) Hồ sơ trình dự thảo lệnh, dự thảo quyết định của Chủ tịch nước bao gồm tờ trình, dự thảo;

    c) Hồ sơ trình dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định.

    2. Trình tự xem xét, thông qua:

    a) Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 74 của Luật này;

    b) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật này;

    c) Chủ tịch nước xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định ngay sau khi nhận được dự thảo lệnh, quyết định theo trình tự quy định tại Điều 81 của Luật này;

    d) Chính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị định tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 96 của Luật này;

    e) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 126 của Luật này;

    g) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 132 của Luật này.

    Điều 150. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan ở trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

    2. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh.

    3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phải được niêm yết công khai và phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương. Thời gian và địa điểm niêm yết công khai do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.

    4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai.

    Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là 15 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành, 07 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt ban hành kể từ ngày nhận được văn bản.

    5. Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện tử là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc.

    6. Chính phủ quy định về Công báo và niêm yết văn bản quy phạm pháp luật.

    Điều 151. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật Điều 152. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật

    1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước.

    2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

    a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

    b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

    3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước.

    Điều 153. Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp sau đây:

    2. Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    3. Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.

    Điều 154. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực

    Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:

    1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản;

    2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó;

    3. Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

    4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.

    Điều 155. Hiệu lực về không gian

    1. Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

    2. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn bản đó.

    Trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính thì hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được xác định như sau:

    a) Trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được chia vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính mới cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế;

    b) Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được nhập vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế;

    c) Trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính được điều chỉnh về một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận và bộ phận dân cư được điều chỉnh.

    Điều 156. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

    2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

    4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.

    Điều 157. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành phải được đăng tải toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước.

    Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng chính thức.

    CHƯƠNG XIV

    GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP, LUẬT, PHÁP LỆNH Điều 158. Các trường hợp và nguyên tắc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

    1. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thực hiện trong trường hợp quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh có cách hiểu khác nhau trong việc thi hành.

    2. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

    a) Đúng với tinh thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

    b) Phù hợp với nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

    c) Không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới.

    Điều 159. Thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

    1. Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

    Điều 160. Trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

    1. Tùy theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh với tinh thần và nội dung của văn bản được giải thích.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;

    b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;

    đ) Chủ tọa phiên họp kết luận;

    e) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết;

    g) Chủ tịch Quốc hội ký nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

    Điều 161. Đăng Công báo, đăng tải và đưa tin nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

    1. Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải được đăng Công báo theo quy định tại Điều 150 của Luật này, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội và đăng tải, đưa tin theo quy định tại Điều 157 của Luật này.

    2. Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được áp dụng cùng với văn bản được giải thích.

    CHƯƠNG XV

    GIÁM SÁT, KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Điều 162. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo quy định của pháp luật.

    2. Việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản trái pháp luật.

    Điều 163. Nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật

    1. Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

    2. Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó.

    3. Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản.

    4. Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan.

    Điều 164. Giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

    1. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát văn bản quy phạm pháp luật.

    2. Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

    3. Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

    4. Hội đồng nhân dân bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trái với nghị quyết của mình, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

    5. Trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

    Điều 165. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

    1. Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

    2. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

    4. Chính phủ quy định chi tiết về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành.

    2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có quyền đề nghị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.

    3. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật không được xử lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.

    Điều 167. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật

    1. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp trên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới ban hành.

    Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.

    2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bãi bỏ.

    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp xã và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp huyện bãi bỏ.

    3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp dưới.

    CHƯƠNG XVI

    HỢP NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, PHÁP ĐIỂN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT, RÀ SOÁT, HỆ THỐNG HÓA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT Điều 168. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

    2. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 169. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật

    1. Cơ quan nhà nước sắp xếp các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển.

    2. Việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 170. Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật

    1. Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật.

    Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật.

    2. Hoạt động rà soát văn bản phải được tiến hành thường xuyên, ngay khi có căn cứ rà soát văn bản. Hoạt động hệ thống hóa văn bản phải được tiến hành định kỳ, kịp thời công bố Tập hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực.

    3. Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các cơ quan nhà nước quyết định rà soát theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước.

    4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    CHƯƠNG XVII

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 171. Bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

    Nhà nước có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy định tại Luật này; hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt động xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

    Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    Điều 172. Hiệu lực thi hành

    1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022.

    2. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.

    3. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

    4. Những quy định về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật

    này được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

    CHỦ TỊCH QUỐC HỘI (Đã ký) Nguyễn Sinh Hùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Quy Định Về Ưu Đãi Đầu Tư?
  • Soạn Thảo Văn Bản Soan Thao Van Ban Doc
  • Khái Niệm Soạn Thảo Văn Bản
  • Quy Định Tách Thửa: ‘siết’ Đầu Nậu Đất, ‘treo’ Cả Quyền Lợi Của Người Dân
  • Nhan Nhản Quy Hoạch Treo: Thu Hồi Dự Án Chậm Tiến Độ, Xử Lý Cán Bộ Gây Ách Tắc
  • Văn Bản Pháp Luật Mới Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Điểm Mới 10 Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua
  • Tam Đường: Tuyên Truyền, Phổ Biến Các Văn Bản Luật Mới Được Quốc Hội Thông Qua
  • Điểm Mới Của Các Văn Bản Luật Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Ngày 26/11/2014
  • Quy Định “hộ Gia Đình” Trong Các Luật Và Cách Xác Định Thành Viên
  • Quy Định Mới Năm 2022 Về Tạm Hoãn, Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Văn bản pháp luật mới năm 2022

    Nghị định này quy định việc thực hiện thí điểm về quản lý lao động, xây dựng thang lương, bảng lương; tiền lương, tiền thưởng của người lao động và Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; tiền lương, thù lao, tiền thưởng của Thành viên Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên năm 2022 tại tập đoàn, tổng công ty sau:

    1. Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

    2. Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng không Việt Nam – CTCP.

    3. Công ty mẹ – Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam.

    – Lĩnh vực sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và kinh doanh dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng ô tô;

    – Lĩnh vực điện lực;

    – Lĩnh vực hóa chất;

    – Lĩnh vực kinh doanh thực phẩm;

    – Lĩnh vực kinh doanh khoáng sản;

    – Lĩnh vực kinh doanh khí;

    – Lĩnh vực kinh doanh rượu;

    – Lĩnh vực kinh doanh thuốc lá;

    Nghị định này thay thế cho nghị định số 86/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô.

    Nghị định này quy định về kinh doanh, điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô và việc cấp, thu hồi Giấy phép kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, phù hiệu, biển hiệu; quy định về công bố bến xe.

    Sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 139/2016/nđ-cp ngày 04 tháng 10 năm 2022 của chính phủ quy định về lệ phí môn bài

    – Ngày ban hành: 24/02/2020

    – Ngày có hiệu lực: 25/02/2020

    Nghị định mới bổ sung đối tượng được miễn lệ phí môn bài trong năm đầu thành lập hoặc ra hoạt động sản xuất, kinh doanh (từ 1/1 đến 31/12); bao gồm: tổ chức thành lập mới (được cấp mã số thuế mới, mã số doanh nghiệp mới); hộ gia đình, cá nhân, nhóm cá nhân lần đầu ra hoạt động sản xuất, kinh doanh; chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh do 2 đối tượng trên thành lập.

    Doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh được miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Trường hợp kết thúc trong 6 tháng đầu năm thì nộp mức lệ phí môn bài cả năm; trường hợp kết thúc trong 6 tháng cuối năm nộp 50% mức lệ phí môn bài cả năm.

    Theo quy định mới, hộ gia đình, cá nhân, nhóm sản xuất, kinh doanh đã giải thể có hoạt động sản xuất kinh doanh trở lại trong 6 tháng đầu năm nộp mức lệ phí môn bài cả năm, trong thời gian 6 tháng cuối năm nộp 50% mức lệ phí môn bài cả năm.

    Người nộp lệ phí đang hoạt động có văn bản gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp về việc tạm ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong năm dương lịch không phải nộp lệ phí môn bài năm tạm ngừng kinh doanh với điều kiện: Văn bản xin tạm ngừng sản xuất, kinh doanh gửi cơ quan thuế trước thời hạn nộp lệ phí theo quy định (30/1 hàng năm) và chưa nộp lệ phí môn bài của năm xin tạm ngừng”

    – Ngày ban hành: 13/06/2019

    – Ngày có hiệu lực: 01/01/2020

    Có hiệu lực từ ngày 1/1/2020, Luật Đầu tư công năm 2022 có một số điểm mới, cụ thể như sau:

    Thứ nhất là, thống nhất về nguồn vốn đầu tư công (nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn thu hợp pháp của các cơ quan tổ chức dành cho đầu tư).

    Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp trong việc xem xét quyết định các phê duyệt chủ trương đầu tư; đặc biệt là phân cấp thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn.

    Ba là, đẩy mạnh phân cấp cho các địa phương trong việc quyết định các dự án đầu tư công, trong đó cả các dự án nhóm A.

    Bốn là, đổi mới mạnh mẽ phương thức kế hoạch hóa; nhằm đáp ứng tốt hơn đối với thực tiễn vận hành của nền kinh tế, khắc phục được vướng mắc lớn nhất về đầu tư công trước đây; đó là vấn đề “có vốn trước hay có dự án trước”.

    Năm là, tăng cường hơn tính cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công, Luật bổ sung quy định về Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư công.

    Nghị định bổ sung thêm các quy định về đánh giá hiệu quả đầu tư chương trình đầu tư công; dự án đầu tư công (bao gồm phương pháp đánh giá và tiêu chí đánh giá); và nội dung giám sát của người có thẩm quyền phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi,

    Nghị định này thay thế Nghị định 30/2015/NĐ-CP nhưng có nhiều điểm mới, trong đó quy định: việc giao đất cho nhà đầu tư trúng đấu thầu sẽ được triển khai ngay sau khi hoàn thành bồi thường, hỗ trợ tái định cư khu đất thực hiện dự án.

    Thông tư này thay thế cho Thông tư số 06/2011/TT-BTTTT; quy định về lập và quản lý chi phí dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng kinh phí chi đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm: tổng mức đầu tư, dự toán, định mức chi phí, đơn giá ứng dụng công nghệ thông tin.

    Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24a/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2022 của Chính phủ về quản lý vật liệu xây dựng

    – Ngày ban hành: 16/12/2019

    – Ngày có hiệu lực: 10/02/2020

    Văn bản này quy định các hoạt động trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, bao gồm: Hoạt động đầu tư; sản xuất vật liệu xây dựng; quản lý chất lượng, kinh doanh vật liệu xây dựng; chính sách phát triển vật liệu xây dựng tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường. Riêng đối với vật liệu xây dựng kim loại, vật liệu xây dựng không có nguồn gốc từ khoáng sản; Nghị định này chỉ điều chỉnh về quản lý chất lượng và kinh doanh.

    Nghị định sửa đổi, bổ sung,bãi bỏ một số điều trong Nghị định số 24a/2016/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng và yêu cầu đối với dự án đầu tư sản xuất vật liệu xây dựng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hỏi Về Văn Bản Kỷ Luật Lao Động
  • Văn Bản Hướng Dẫn Xử Lý Kỷ Luật Viên Chức
  • Văn Bản Hướng Dẫn Kỷ Luật Viên Chức
  • Thông Tư Hướng Dẫn Luật Khiếu Nại Tố Cáo
  • Luật Khiếu Nại Tố Cáo Và Văn Bản Hướng Dẫn Năm 2022
  • Kế Hoạch Tổ Chức Triển Khai Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành Đợt 1 Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Liên Quan Đến Hà Nội
  • Mẫu Lập Kế Hoạch Cho Bản Thân? 5 Cách Giúp Sức Kế Hoạch
  • Soạn Bài Lập Kế Hoạch Cá Nhân
  • Hướng Dẫn Lập Kế Hoạch Nội Dung Cho Người Mới Chưa Biết Gì (Có Case Study Cụ Thể, Dễ Hiểu)
  • Mẫu Văn Bản Lập Kế Hoạch Công Việc
  • Thực hiện Kế hoạch của Phòng GD&ĐT Đức Huệ về Kế hoạch tổ chức triển khai văn bản pháp luật mới ban hành đợt 1 năm 2022 ngành GD&ĐT huyện Đức Huệ;

    Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, trường mầm non Tuổi Thơ tổ chức triển khai văn bản pháp luật mới ban hành đợt 1 năm 2022 cụ thể như sau:

    Tổ chức triển khai, phổ biến, kịp thời các văn bản pháp luật mới ban hành để quán triệt đầy đủ những tư tưởng, quan điểm chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các lĩnh vực mà văn bản pháp luật mới điều chỉnh đối với cho đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ này làm tốt công tác tuyên truyền, PBGDPL trong nhà trường. Qua đó, góp phần nâng cao sự nhận thức và ý thức tự giác chấp hành pháp luật đối với đội ngũ CB, GV, NV trong toàn trường.

    Tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật mới ban hành phải được tiến hành sâu, rộng trong đội ngũ có trọng tâm, trọng điểm. Qua đó, góp phần nâng cao sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật đối với đội ngũ CB, GV, NV trong toàn trường.

    Tiếp tục tuyên truyền, quán triệt đến toàn thể đội ngũ CB, GV, NV trong toàn trường các văn bản sau:

    Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về việc tăng cường công tác triển khai thi hành Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành;

    Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 08/3/2018 của UBND tỉnh Long An về Tổ chức triển khai văn bản pháp luật mới ban hành đợt 1 năm 2022;

    Kế hoạch tổ chức triển khai văn bản pháp luật mới ban hành đợt 1 năm 2022 ngành GD&ĐT tỉnh Long An.

    Bao gồm các văn bản mới ban hành cụ thể như sau:

    – Luật Quản lý nợ công (sửa đổi);

    – Luật Lâm nghiệp;

    – Luật Thủy sản (sửa đổi);

    – Luật Quy hoạch;

    – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;

    – Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng;

    – Nghị quyết số 51/2017/QH14, ngày 21/11/2017 về việc điều chỉnh lộ trình thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo Nghị quyết 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;

    – Nghị quyết 52/2017/QH14, ngày 22/11/2017 về chủ trương đầu tư dự án xây dựng đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2022-2020;

    – Nghị quyết số 56/2017/QH14, ngày 24/11/2017 về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    Việc triển khai các văn bản mới thông qua hình thức “Ngày pháp luật”, sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt đoàn thể và một số hoạt động khác…

    Việc tuyên truyền cần có sự chuẩn bị kỹ về nội dung, hình thức phù hợp giúp đội ngũ CB, GV, NV nắm được các nội dung trọng tâm, trọng điểm.

    – Trong tháng 4/2018 – 5/2018: xây dựng kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện về kinh phí, tiếp nhận tài liệu, phân công nhân sự, cử công chức, viên chức tham dự tập huấn, phối hợp thực hiện công tác chuẩn bị, công tác tuyên truyền;

    – Từ 01/06/2018 đến 31/10/2018 tập trung triển khai các văn bản nêu trên đến đội ngũ CB, GV, NV trong toàn trường.

    Nhận tài liệu phổ biến giáo dục pháp luật tại Phòng GD&ĐT Đức Huệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Triển Khai Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Năm 2022
  • Mẫu Kế Hoạch Truyền Thông Sự Kiện Dễ Lập Và Dễ Triển Khai Nhất (Có Ví Dụ Minh Hoạ)
  • Biên Bản Họp Triển Khai Và Tổ Chức Thực Hiện Kế Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Năm Học 2014
  • Kế Hoạch Phổ Cập 5 Tuổi
  • Văn Bản Của Phòng Giáo Dục
  • Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Bảo Mật, An Toàn Và An Ninh Mạng Ban Hành Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Công An Giải Đáp Thắc Mắc Về Việc Kiểm Soát Cá Nhân Trên Mạng
  • Toàn Văn Luật An Ninh Mạng Trình Quốc Hội Thông Qua
  • Chính Phủ Sẽ Sớm Ban Hành Nghị Định Hướng Dẫn Chi Tiết Luật An Ninh Mạng
  • Luật Sư Chuyên Giải Quyết Xúc Phạm Danh Dự Nhân Phẩm Trên Mạng
  • Luật Sư Tư Vấn Hành Vi Xúc Phạm Nhân Phẩm, Danh Dự Trên Mạng Xã Hội
  • Năm 2022, tình hình mất an toàn, an ninh thông tin và lộ, lọt dữ liệu, bí mật nhà nước tiếp tục diễn ra phức tạp, khó lường. Trên không gian mạng, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng quyết tâm triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử các cấp. Trong đó, nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin được Chính phủ hết sức đề cao. Để thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực bảo mật, an toàn và an ninh mạng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng như: Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Luật An ninh mạng… Bài báo này giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo mật, an toàn và an ninh mạng được ban hành năm 2022.

    Trên cơ sở kế thừa và luật hóa những quy định còn phù hợp của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000; sửa đổi, bổ sung những quy định còn thiếu, chưa đảm bảo tính khả thi của Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành, phù hợp với thực tiễn bảo vệ bí mật nhà nước trong tình hình hiện nay.

    Theo đó, Luật quy định, bí mật nhà nước là thông tin quan trọng, do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia dân tộc. Luật cũng quy định hình thức chứa đựng bí mật nhà nước bao gồm tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác.

    Luật quy định về thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước, gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước. Đây là quy định mới vì Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 và các văn bản trước Pháp lệnh đều không quy định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước. Luật quy định thời hạn bảo vệ đối với bí mật nhà nước độ Tuyệt mật là 30 năm, độ Tối mật là 20 năm, độ Mật là 10 năm. Đây được cho là một quy định tiến bộ của Luật nhằm đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của công dân.

    Thông tin về quốc phòng, an ninh, cơ yếu là một trong 15 lĩnh vực thuộc phạm vi Bí mật nhà nước. Căn cứ vào tính chất quan trọng của nội dung thông tin, mức độ nguy hại nếu bị lộ, bị mất thì thông tin bí mật thuộc lĩnh vực Cơ yếu được phân loại thành 03 độ mật là: Tuyệt mật, Tối mật và Mật (Điều 8).

    2. Luật An ninh mạng

    Luật An ninh mạng được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2018, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Luật gồm 07 chương, 43 điều quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

    Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã dành 01 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

    Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dư, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh.

    Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.

    Chương V Luật An ninh mạng đã quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng đuợc bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các Bộ, ngành chức năng, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đồng bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

    Luật An ninh mạng cũng quy định cụ thể cơ chế phối hợp phòng, chống tấn công mạng của các Bộ, ngành chức năng, xác định trách nhiệm cụ thể của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ trong phòng, chống tấn công mạng.

    Chương VI của Luật quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong đó, Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm (Điều 39): Tham mưu, đề xuất Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch về mật mã để bảo vệ an ninh mạng thuộc phạm vi Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý; Bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ và sản phẩm mật mã do Ban Cơ yếu Chính phủ cung cấp theo quy định của Luật này; Thống nhất quản lý nghiên cứu khoa học, công nghệ mật mã; sản xuất, sử dụng, cung cấp sản phẩm mật mã để bảo vệ thông tin thuộc bí mật nhà nước được lưu trữ, trao đổi trên không gian mạng.

    3. Nghị định số 130/2018/NĐ-CP

    Ngày 27/9/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 130/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2018.

    Nghị định 130/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số; Nghị định số 106/2011/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP và Nghị định số 170/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 26/2007/NĐ-CP và Nghị định số 106/2011/NĐ-CP.

    Nghị định có một chương (Chương VII) quy định vai trò, trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ trong việc tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ cho các cơ quan Đảng và Nhà nước. Theo đó, Ban Cơ yếu Chính phủ có trách nhiệm quản lý, duy trì, vận hành hệ thống kỹ thuật để cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ cho các cơ quan Đảng và Nhà nước; tự cấp chứng thư số cho mình; xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức hướng dẫn quy trình nghiệp vụ về việc cung cấp, quản lý, sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ.

    4. Nghị định số 53/2018/NĐ-CP

    Ngày 16/4/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký và ban hành Nghị định số 53/2018/NĐ-CP (Nghị định 53) sửa đổi, bổ sung Nghị định 58/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ (Nghị định 58) quy định chi tiết về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ mật mã dân sự và xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm mật mã dân sự. Chính phủ đã quyết định thay thế Phụ lục II -“Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép tại Nghị định 58” bằng Phụ lục II – “Danh mục sản phẩm mật mã dân sự xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép kèm theo Nghị định 53”.

    5. Chỉ thị số 14/CT-TTg

    Ngày 25/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ đã ký Chỉ thị số 14/CT-TTg về việc nâng cao năng lực phòng chống phần mềm độc hại.

    Thời gian vừa qua, công nghệ thông tin đã và đang được ứng dụng vào mọi mặt đời sống, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong xu hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sẽ ngày càng có nhiều thiết bị thông minh được kết nối mạng. Những thiết bị này khi bị lây nhiễm các loại phần mềm độc hại sẽ gây mất an toàn thông tin, tiềm ẩn nguy cơ khó lường.

    Để nâng cao năng lực phòng, chống phần mềm độc hại, cải thiện mức độ tin cậy của quốc gia trong hoạt động giao dịch điện tử, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị về: một số giải pháp để các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện; phân công trách nhiệm của Bộ Thông tin – Truyền thông, Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA); Bộ Công an chủ trì thực hiện điều tra, xác minh, đấu tranh, xử lý tội phạm phát tán hoặc thực hiện các cuộc tấn công mạng bằng mã độc; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương, các cổng/trang thông tin điện tử của bộ, ngành, địa phương phát động tuyên truyền, phổ biến về tác hại và phương thức phòng, chống mã độc.

    Về trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành trong tổ chức thực hiện việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước. Trong đó, Điều 18 quy định trách nhiệm của Ban Cơ yếu Chính phủ:

    – Bảo đảm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng thư số cho các Bộ, ngành, địa phương, cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử theo lộ trình quy định tại Điều 21 của Quyết định này.

    – Nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền rút ngắn quy trình cấp mới; cấp đổi, cấp lại chứng thư số; triển khai giải pháp ký số, xác thực chữ ký số trên các thiết bị di động để thuận tiện cho việc sử dụng của cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước.

    – Hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương về giải pháp tích hợp chữ ký số và xác thực chữ ký số trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

    7. Quyết định số 1017/QĐ-TTg

    Ngày 14/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1017/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Đề án giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ chính phủ điện tử đến năm 2022, định hướng đến năm 2025 (Đề án).

    Mục tiêu của Đề án là định hướng đến năm 2025, mở rộng phạm vi, nâng cao năng lực giám sát an toàn mạng, an toàn hệ thống thông tin cho Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia tại Trung tâm Ứng cứu Khẩn cấp Máy tính Việt Nam (VNCERT) và các Bộ, cơ quan ngang bộ, tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, các nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng mạng Internet (ISP).

    Việc này sẽ giúp tăng cường khả năng phát hiện sớm, cảnh báo kịp thời, chính xác về các sự cố, các dấu hiệu, mã độc, các lỗ hổng có khả năng gây mất an toàn thông tin mạng đối với các hệ thống thông tin, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ Chính phủ điện tử.

    Với các nhiệm vụ và giải pháp đề án đặt ra gồm: Xây dựng, hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ trong triển khai giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ Chính phủ điện tử; Nâng cao năng lực Trung tâm giám sát an toàn thông tin mạng quốc gia phục vụ Chính phủ điện tử; Thiết lập và nâng cao hiệu quả hoạt động các hệ thống quan trắc cơ sở và giám sát an toàn mạng cơ sở của các bộ, ngành, địa phương; Đẩy mạnh hoạt động giám sát an toàn thông tin mạng của các nhà mạng ISP và doanh nghiệp cung cấp hệ thống, dịch vụ phục vụ Chính phủ điện tử; Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực giám sát, bảo đảm an toàn thông tin mạng quốc gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật An Ninh Mạng Được Thông Qua
  • * Nếu Thông Qua Dự Thảo Luật An Ninh Mạng?
  • Những Hành Vi Nào Bị Cấm Khi Luật An Ninh Mạng Được Thông Qua?
  • Facebook, Google Chưa Có Ý Kiến Gì Về Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng: Việt Nam Có Nên Áp Dụng Giống Trung Quốc?
  • Triển Khai Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Các Văn Bản Về Thuế Tncn
  • Một Số Câu Hỏi Về Ưu Đãi Người Có Công
  • Danh Sách Văn Bản Pháp Quy Của Ubnd Tỉnh
  • Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Vào Nghiên Cứu, Phát Triển Sáng Tạo Lý Luận Ở Việt Nam Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Một Số Bài Học Về Đấu Tranh Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng Trong Thời Kỳ Hội Nhập Quốc Tế
  • BHG – Sáng 1.4, UBND tỉnh tổ chức hội nghị trực tuyến 3 cấp triển khai văn bản pháp luật mới ban hành. Dự hội nghị tại điểm cầu của tỉnh có đồng chí Trần Đức Quý, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; các báo cáo viên của Bộ Công an, Bộ Tư pháp; lãnh đạo các sở, ngành, tổ chức chính trị – xã hội của tỉnh.

    Toàn cảnh hội nghị

    Phát biểu khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Đức Quý nhấn mạnh: Việc triển khai các văn bản pháp luật mới ban hành có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm phổ biến kịp thời các luật và nghị định có hiệu lực thi hành đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh biết, thực hiện. Góp phần xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2022 trên địa bàn tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Đức Quý yêu cầu các đại biểu tập trung nghiên cứu tài liệu, lắng nghe và trao đổi thông tin với các báo cáo viên. Sau hội nghị, các cấp, các ngành, đoàn thể tập trung tuyên truyền, phổ biến, tập huấn chuyên sâu các luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành; có kế hoạch triển khai phù hợp với từng cấp, từng ngành, địa phương; triển khai  thực hiện đúng thời điểm các luật có hiệu lực thi hành và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan, đơn vị góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển KT – XH, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

    Trong thời gian 2 ngày, từ 1 – 2.4, các đại biểu được nghe báo cáo viên của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Công an tỉnh và Cục thuế tỉnh triển khai các văn bản luật: Luật Cư trú năm 2022; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2022; Luật Thi hành án hình sự năm 2022; Luật Quản lý thuế năm 2022; Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 1.7.2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ; Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19.10.2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý thuế; Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19.10.2020 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về thuế, hóa đơn; Nghị định số 32/2020/NĐ-CP ngày 5.3.2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 59/2012/NĐ-CP ngày 23.7.2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật; Nghị định số 19/2020/NĐ-CP ngày 12.2.2020 của Chính phủ quy định kiểm tra, xử lý kỷ luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

    Tin, ảnh: BIỆN LUÂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Các Văn Bản Về Thuế Gtgt
  • Văn Bản Pháp Quy Về Thuế – Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Khởi Nghiệp
  • Chứng Từ Điện Tử Là Gì? Tổng Hợp Quy Định Về Chứng Từ Điện Tử Theo Nghị Định 123/2020/nđ
  • Văn Bản Pháp Luật Về Thẩm Định Giá
  • Một Số Ý Kiến Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Thư Viện Và Hoạt Động Quản Lý Nhà Nước Về Thư Viện Ở Việt Nam
  • Đề Cương Tuyên Truyền Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Tin Văn Bản Pháp Luật Mới Áp Dụng Từ T7/2018
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022 Số 80/2015/qh13
  • Quy Định Về Bổ Nhiệm Công Chứng Viên Theo Pháp Luật
  • 13 Điểm Mới Quan Trọng Tại Thông Tư 04/2020/tt
  • Hội Nghị Triển Khai Các Văn Bản Pháp Luật Mới
  • Thực hiện Chương trình Kỳ họp thứ 9 Quốc hội Khóa XIV, ngày 18/6/2020, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 với với 92,96% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

    Qua hơn 03 năm thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 (sau đây gọi là Luật năm 2022) với nhiều quy định mới, có thể khẳng định công tác xây dựng pháp luật ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Chẳng hạn, chỉ tính riêng số lượng luật, pháp lệnh, từ ngày 01/7/2016 (ngày Luật năm 2022 có hiệu lực) đến ngày 30/6/2019 đã có 44 luật và 01 pháp lệnh được ban hành theo quy trình quy định của Luật năm 2022; nhiều văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Các bộ, ngành, địa phương đã nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của pháp luật, tập trung hơn nguồn lực và thời gian chuẩn bị, nhờ đó chất lượng VBQPPL đã được nâng lên, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    Tuy nhiên, quá trình thi hành Luật năm 2022 trong thời gian qua cũng đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục xử lý, cụ thể như sau:

    Thứ nhất, về tiếp tục cụ thể hóa một số nội dung bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, ban hành VBQPPL:

    Luật năm 2022 đã có các quy định về cơ chế để bảo đảm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước được thể chế hóa thành quy định pháp luật và bảo đảm các quy định pháp luật phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, Luật năm 2022 vẫn cần được bổ sung một số quy định cụ thể hơn nữa về sự lãnh đạo của Đảng để bảo đảm đầy đủ, thống nhất với các quy định khác của Luật.

    Thứ hai, về tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết:

    Theo quy định của Luật năm 2022 thì trách nhiệm chủ trì tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết được giao cho Hội đồng Dân tộc hoặc các Ủy ban của Quốc hội đã thẩm tra dự án, dự thảo, còn chủ thể trình có trách nhiệm phối hợp chỉnh lý. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy còn một số tồn tại, hạn chế trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý một số dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nhất là khi nội dung dự thảo đã được chỉnh lý có sự thay đổi nhiều so với các chính sách và nội dung trong dự thảo trình ban đầu, khó xác định trách nhiệm khi xảy ra sai sót và ảnh hưởng đến tính khả thi của văn bản sau khi được ban hành.

    Thứ ba, về một số khó khăn, vướng mắc khác trong thi hành Luật năm 2022:

    Ngoài những vấn đề nêu trên, quá trình thi hành Luật năm 2022 vừa qua cho thấy còn một số khó khăn, vướng mắc khác cần tiếp tục xử lý như: hình thức VBQPPL; việc lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách đối với một số loại nghị định của Chính phủ và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (HĐND); xây dựng, ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn; ban hành thủ tục hành chính trong VBQPPL; áp dụng VBQPPL.

    Tại Thông báo số 26-TB/TW ngày 19/4/2017 về Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Bí thư yêu cầu Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy trình xây dựng pháp luật theo hướng nâng cao trách nhiệm, chất lượng công tác và sự phân công hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua, ban hành luật; thống nhất đề xuất cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng pháp luật.

    (Xem hướng dẫn thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật mới nhất)

    Để khắc phục khó khăn, vướng mắc nêu trên và thực hiện ý kiến Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong tình hình mới, việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật năm 2022 là cần thiết.

    II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

    – Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về ban hành VBQPPL nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng pháp luật, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

    – Tăng cường trách nhiệm của từng cơ quan và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL, nhất là trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh.

    – Tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện Luật năm 2022 thời gian qua.

    – Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật năm 2022 cho hợp lý, sát thực tế, cụ thể hơn về hình thức VBQPPL; lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách đối với một số loại VBQPPL; xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn; ban hành thủ tục hành chính trong VBQPPL để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh đối với bộ, ngành, địa phương trong thực tiễn xây dựng pháp luật thời gian qua.

    Liên hệ mail [email protected] để tải slide bài giảng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2022

    III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT SỬA ĐỔI NĂM 2022 1.1. Tiếp tục khẳng định và quy định cụ thể hơn cơ chế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, ban hành VBQPPL: 1.2. Quy định rõ hơn trách nhiệm phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL:

    Luật năm 2022 đã sửa 06 điều của Luật năm 2022 (Điều 47, 58, 92, 121, 130 và 139), trong đó bổ sung nội dung thẩm định, thẩm tra phải bảo đảm “Sự phù hợp của chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản và nội dung dự thảo văn bản với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước”.

    1.3. Nâng cao trách nhiệm và tăng cường sự phối hợp của các cơ quan trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết:

    Luật năm 2022 bổ sung vào Điều 6 của Luật năm 2022 quy định về phản biện xã hội của MTTQVN trong quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL. Cụ thể, khoản 2 Điều 6 quy định phản biện xã hội được thực hiện trong giai đoạn tổ chức lấy ý kiến về dự thảo VBQPPL và trường hợp dự thảo VBQPPL đã được phản biện xã hội thì hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội. Các nội dung khác về phản biện xã hội được thực hiện theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Thứ nhất, bổ sung quy định Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó nêu rõ vấn đề có ý kiến khác với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và đề xuất phương án để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội” (điểm b khoản 7 Điều 74, điểm b khoản 2 Điều 75, điểm e khoản 1 Điều 77).

    Thứ hai, bổ sung quy định “Đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung vào dự thảo luật thì trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan trình dự án có trách nhiệm tổ chức đánh giá tác động của chính sách để báo cáo Quốc hội” (điểm a khoản 2 Điều 75, điểm b khoản 2 Điều 76).

    Thứ tư, bổ sung quy định Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo” (khoản 6 Điều 74, điểm c khoản 3 Điều 75).

    1.4. Bổ sung một số hình thức VBQPPL:

    Thứ năm, quy định rõ hơn trách nhiệm phối hợp của Bộ Tư pháp trong suốt quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, nghị quyết giữa 2 kỳ họp của Quốc hội. Theo đó, Luật năm 2022 đã bổ sung trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và Thường trực Ủy ban Pháp luật để nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội (điểm đ khoản 2 Điều 75).

    Một là, bổ sung Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Nghị quyết liên tịch 03 bên) để phù hợp với quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2022 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2022 (khoản 3 Điều 4). Đồng thời, bổ sung nội dung ban hành nghị quyết liên tịch để “hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dântại Điều 18 của Luật năm 2022.

    1.5. Về lập đề nghị xây dựng VBQPPL:

    Hai là, Luật năm 2022 bổ sung hình thức thông tư liên tịch giữa Tổng Kiểm toán nhà nước với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (khoản 8a Điều 4). Cụ thể, bổ sung thẩm quyền của Tổng Kiểm toán nhà nước tham gia ban hành thông tư liên tịch với các chủ thể hiện có để thống nhất với Luật Kiểm toán nhà nước, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, bổ sung nội dung ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp trong việc “phòng, chống tham nhũng” để bảo đảm thống nhất với Luật Phòng, chống tham nhũng (Điều 25 của Luật năm 2022).

    Để xác định lại cho hợp lý, sát thực tế hơn các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết phải lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách, Luật năm 2022 đã bỏ yêu cầu lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách đối với nghị định của Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 19 và nghị quyết của HĐND cấp tỉnh tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật năm 2022. Đồng thời, Luật năm 2022 đã sửa đổi, bổ sung các Điều 84, 85, 87, 88, 89, 90, 92, 93, 111, 117, 119, 121 và Điều 122 của Luật năm 2022 để quy định cụ thể trình tự, thủ tục đề nghị xây dựng và soạn thảo các nghị định và nghị quyết nêu trên.

    1.6. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn:

    Quy định mới này của Luật năm 2022 giúp Chính phủ và chính quyền địa phương rút ngắn thời gian ban hành văn bản để nâng cao khả năng phản ứng nhanh trong quản lý, điều hành kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, để bảo đảm chặt chẽ trong việc ban hành các văn bản này, Luật năm 2022 đã chuyển việc đánh giá tác động trong giai đoạn lập đề nghị sang giai đoạn soạn thảo (Điều 90 và Điều 119). Mục đích của quy định này nhằm bảo đảm chất lượng của dự thảo văn bản và tính khả thi của văn bản sau khi ban hành.

    Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 147 của Luật năm 2022 để bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết định cho phép áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành trong trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn quy định tại khoản 1 Điều 146 của Luật năm 2022. Đối với trường hợp này, để kiểm soát chặt chẽ việc ban hành thông tư theo trình tự, thủ tục rút gọn, Luật năm 2022 quy định “Văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư này phải kèm theo ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp”.

    1.7. Về quy định thủ tục hành chính trong VBQPPL:

    Thứ ba, bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 147 của Luật năm 2022 quy định về thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.

    Để khắc phục khó khăn, vướng mắc cho bộ, ngành, địa phương trong việc sửa đổi, bổ sung quy định về thủ tục hành chính trong các thông tư và VBQPPL của chính quyền địa phương đã được ban hành trước ngày Luật năm 2022 có hiệu lực (01/7/2016) và quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của HĐND cấp tỉnh về biện pháp đặc thù của địa phương quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật năm 2022, Luật năm 2022 đã sửa đổi, bổ sung Điều 14 và Điều 172 của Luật năm 2022 như sau:

    – Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 (Các hành vi bị nghiêm cấm) để cho phép HĐND cấp tỉnh quy định thủ tục hành chính trong trường hợp cần thiết phải quy định thủ tục hành chính trong nghị quyết của HĐND cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật.

    – Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 172 (Hiệu lực thi hành) của Luật năm 2022 để cho phép sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hành chính đã ban hành trước ngày Luật năm 2022 có hiệu lực với điều kiện không được làm phát sinh thủ tục hành chính mới hoặc quy định thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng thời gian giải quyết thủ tục hành chính đang áp dụng.

    1.8. Nâng cao trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh:

    Thực tế cho thấy, ngoài luật thì nghị quyết của Quốc hội cũng có thể giao các chủ thể có thẩm quyền quy định thủ tục hành chính, do đó, ngoài trường hợp “được luật giao” theo quy định của Luật năm 2022, Luật năm 2022 bổ sung quy định cho phép quy định thủ tục hành chính trong thông tư, thông tư liên tịch, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND, VBQPPL của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt trong trường hợp nghị quyết của Quốc hội giao (khoản 4 Điều 14).

    1.9. Về thẩm quyền ban hành VBQPPL của cấp huyện, cấp xã:

    Đối với chính sách dân tộc, để thống nhất với quy định của Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức Chính phủ, Luật bổ sung 01 điều (Điều 68a) quy định giao Hội đồng Dân tộc thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Quốc hội, UBTVQH.

    Luật năm 2022 sửa đổi, bổ sung Điều 30 của Luật năm 2022 như sau:

    Thứ nhất, mở rộng phạm vi loại văn bản có thể giao cho cấp huyện, cấp xã ban hành VBQPPL, theo đó, ngoài trường hợp được ban hành VBQPPL để quy định những vấn đề được luật giao như quy định của Luật hiện hành, Luật năm 2022 đã bổ sung trường hợp HĐND, UBND cấp huyện cấp xã ban hành VBQPPL để quy định những vấn đề được “nghị quyết của Quốc hội giao”.

    1.10. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan lập đề nghị, chủ trì soạn thảo, cơ quan có thẩm quyền ban hành VBQPPL trong xây dựng, ban hành văn bản:

    Thứ hai, mở rộng nội dung ban hành VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 13 về phân cấp của Luật Tổ chức chính quyền địa phương (việc thực hiện phân cấp phải được thể hiện bằng VBQPPL), Luật năm 2022 đã bổ sung quy định HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện ban hành quyết định để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

    Thứ nhất, để khắc phục tình trạng xung đột, mâu thuẫn có thể xảy ra giữa các VBQPPL, Luật năm 2022 bổ sung vào khoản 2 Điều 12 quy định: Trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong văn bản mới đó”.

    Khoản 2 Điều 12 của Luật năm 2022 cũng đã được sửa đổi để quy định linh hoạt hơn đối với việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản đã ban hành trái với quy định của văn bản mới. Theo đó, “Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới đó…” thay vì yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ ngay trong văn bản mới đó như quy định của Luật năm 2022.

    Thứ ba, nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết của HĐND cấp tỉnh trong việc chuẩn bị hồ sơ đề nghị, Luật năm 2022 đã thay cụm từ “Đề cương” bằng cụm từ “Dự kiến đề cương chi tiết” (tại các Điều 37, 87 và Điều 114 của Luật năm 2022).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bfsc Law Firm_Bản Tin Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành Tháng 6, 7, 8 Năm 2022
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Năm 2022
  • Luật Đấu Thầu: 09 Điểm Nổi Bật Nhất Năm 2022
  • Văn Bản Pháp Luật Hiệu Lực Về Lĩnh Vực Đất Đai.
  • Văn Bản Pháp Luật Về Đất Đai
  • Hệ Thống Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Mới Nhất Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Đại Hội Vii: Chủ Nghĩa Mác
  • Bài 1 : Chủ Nghĩa Mác
  • Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Của Dân, Do Dân Và Vì Dân
  • Kiên Định Chủ Nghĩa Mác
  • Thông tư 95/2016/TT-BTC quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thuế; thay đổi thông tin đăng ký thuế; chấm dứt hiệu lực mã số thuế, khôi phục mã số thuế, tạm ngừng kinh doanh; đăng ký thuế đối với trường hợp tổ chức lại, chuyển đổi mô hình hoạt động của tổ chức; trách nhiệm quản lý và sử dụng mã số thuế.

    Thông tư 39/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP và 04/2014/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

    – Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi Thông tư 156/2013/TT-BTC , 111/2013/TT-BTC , 219/2013/TT-BTC , 08/2013/TT-BTC , 85/2011/TT-BTC , 39/2014/TT-BTC và 78/2014/TT-BTC để cải cách, đơn giản thủ tục hành chính về thuế.

    Thông tư 10/2014/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 02/03/2014) hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn. (hướng dẫn chi tiết về các hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn, hình thức xử phạt, mức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính về hóa đơn quy định tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP)

    Nghị định 49/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 109/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn, theo đó, sửa đổi quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực quản lý giá, vi phạm hành chính về phí, lệ phí và xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý hóa đơn. (có hiệu lực từ ngày 01/08/2016)

    Ngày ban hành: 20/07/2016

    Ngày hợp nhất: 20/07/2016

    Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP .

    – Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi Thông tư 156/2013/TT-BTC , 111/2013/TT-BTC , 219/2013/TT-BTC , 08/2013/TT-BTC , 85/2011/TT-BTC , 39/2014/TT-BTC và 78/2014/TT-BTC để cải cách, đơn giản thủ tục hành chính về thuế.

    – Thông tư 151/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định quy định về thuế.

    – Hướng dẫn mới về hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT): Theo Thông tư 99/2016/TT-BTC (có hiệu lực từ ngày 13/8/2016)

    Thông tư 130/2016/TT-BTC hướng dẫn mới về thuế GTGT, TTĐB

    Ngày 12/8/2016, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 130/2016/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 100/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và sửa đổi một số điều tại các Thông tư về thuế.

    Thông tư 130/2016/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 (Riêng Điều 4 áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2022).

    Thông tư 173/2016/TT-BTC (HL: 15/12/2016) sửa đổi khổ thứ nhất khoản 3 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành về thuế giá trị gia tăng (đã được sửa đổi theo Thông tư 119/2014, Thông tư 151/2014 và Thông tư 26/2015 của Bộ tài chính).

    Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP .

    – Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi Thông tư 156/2013/TT-BTC , 111/2013/TT-BTC , 219/2013/TT-BTC , 08/2013/TT-BTC , 85/2011/TT-BTC , 39/2014/TT-BTC và 78/2014/TT-BTC để cải cách, đơn giản thủ tục hành chính về thuế.

    – Thông tư 151/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định quy định về thuế.

    – Thông tư 92/2015/TT-BTC về việc Hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế.

    Thông tư 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

    – Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa đổi Thông tư 156/2013/TT-BTC , 111/2013/TT-BTC , 219/2013/TT-BTC , 08/2013/TT-BTC , 85/2011/TT-BTC , 39/2014/TT-BTC và 78/2014/TT-BTC để cải cách, đơn giản thủ tục hành chính về thuế.

    – Thông tư 151/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định quy định về thuế.

    Thông tư của Bộ Tài chính số 42/2003/TT-BTC hướng dẫn bổ sung, sửa đổi Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ tài chính

    Sang năm 2022 sẽ thực hiện theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP ban hành ngày 04/10/2016có hiệu lực ngày 01/01/2017. Theo đó sẽ tăng mức đóng thuế Môn Bài.

    Thông tư số 156/2013/TT-BTC để hướng dẫn luật quản lý thuế sửa đổi bổ sung, thay thế Thông tư 28/2011/TT-BTC.

    – Được sửa đổi bổ sung tại các thông tư sau:

    + Thông tư 119/2014/TT-BTC.

    + Thông tư 151/2014/TT-BTC

    + Thông tư 26/2015/TT-BTC

    – Xử phạt vi phạm hành chính về thuế (Kê khai sai, thiếu, nộp chậm, không nộp…tờ khai báo cáo thuế): Thông tư 166/2013/TT-BTC quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế.có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.

    Phạt nộp chậm tiền thuế: Tại Khoản 3 Điều 3 Luật số 106/2016/QH13, Và được hướng dẫn cụ thể tại khoản 3 điều 3 của Thông tư 130/2016/TT-BTC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Năm 2022
  • Văn Bản Pháp Luật 2022
  • Văn Bản Pháp Luật Mới 2022
  • Luật Các Tổ Chức Tín Dụng: 9 Điểm Cần Lưu Ý
  • Tất Tần Tật Các Văn Bản Liên Quan Đến Hợp Đồng
  • Những Điểm Mới Nổi Bật Của Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật (Vbqppl) Sửa Đổi Năm 2022.

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Đảng Ta Ban Hành Nghị Quyết Này?
  • Làm Rõ Sự Cần Thiết Ban Hành Các Nghị Quyết
  • Các Nghị Quyết Của Tổ Chức Liên Chính Phủ Có Ý Nghĩa Quan Trọng Trong Quá Trình Hình Thành Cũng Như Viện Dẫn, Áp Dụng Quy Phạm Tập Quán Và Quy Phạm Điều Ước
  • Hồ Sơ Đoàn Viên Khi Bị Mất, Hỏng, Thất Lạc Có Được Cấp Lại Không?
  • Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 15
  • Ngày 18 tháng 6 năm 2022, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) sửa đổi năm 2022, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 với những điểm mới nổi bật như sau:

    1. Bổ sung thêm VBQPPL vào hệ thống VBQPPL

    Cụ thể, Luật Ban hanh VBQPPL sửa đổi 2022 bổ sung thêm hai loại

    VBQPPL sau:

    – Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

    Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ

    quốc Việt Nam;

    – Thông tư liên tịch giữa Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

    bộ. Không ban hành Thông tư liên

    tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

    2. Sửa quy định về thời điểm có hiệu lực của VBQPPL

    – Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần

    VBQPPL được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn:

    + 45 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương.

    + 10 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh.

     (Hiện hành quy định không sớm hơn 10 ngày

    kể từ ngày ký ban hành đối với

    VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh).

    + 07 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã.

    (Hiện hành quy định không sớm hơn 07 ngày kể từ

    ngày ký ban hành đối với

    VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã).

    – VBQPPL ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn

    có thể có hiệu lực kể từ ngày thông

    qua/ký ban hành, đồng thời phải được:

    + Đăng ngay trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành.

    + Đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.

    + Đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam chậm nhất là 03 ngày kể từ

    ngày công bố/ký ban

    hành với VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương;

    Hoặc đăng công báo tỉnh, thành phố trực thuộc

    trung ương chậm nhất là 03 ngày kể từ

    ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh.

    (Hiện hành quy định đăng Công báo nước Cộng

    hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo

    tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau

    03 ngày kể từ ngày công bố/ký ban hành).

    3. Mở rộng thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND, UBND

    cấp huyện/xã

    Theo đó, HĐND, UBND cấp huyện/xã có thẩm quyền

    ban hành VBQPPL như sau:

    – HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện ban

    hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết

    của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho

    chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo

    quy định.

    – HĐND cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp xã

    ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị

    quyết của Quốc hội giao.

    (Hiện hành quy định HĐND cấp huyện, cấp xã ban

    hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban

    hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao).

    4. Bổ sung trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL

    theo thủ tục rút gọn

    Cụ thể, bổ sung thêm 03 trường hợp xây dựng, ban

    hành VBQPPL theo thủ tục rút gọn sau:

    – Trường hợp cần ban hành ngay VBQPPL để thực hiện điều ước

    hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    – Trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ VBQPPL

    trái pháp luật hoặc không còn phù

    hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội.

    – Trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng

    toàn bộ hoặc một phần của VBQPPL trong một thời hạn nhất định

    để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn.

    5. VBQPPL có

    thể bị đình chỉ, bãi bỏ bằng văn bản

    của cơ quan nhà nước khác

    VBQPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng

    VBQPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban

    hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi

    hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan

    nhà nước, người có thẩm quyền.

    (Hiện hành quy định việc đình chỉ việc thi hành

    hoặc bãi bỏ VBQPPL phải bằng văn bản của cơ quan

    nhà nước cấp trên có thẩm quyền).

    6. VBQPPL đã ban hành vẫn có thể tiếp tục

    áp dụng dù quy định khác với VBQPPL mới

    Cụ thể, trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản,

    điểm của VBQPPL hiện hành có quy định khác với

    VBQPPL mới, do cùng một cơ quan ban hành, cần tiếp tục

    được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong VBQPPL

    mới đó.

    7. Bổ sung trách nhiệm của hội đồng dân tộc trong

    thẩm tra một số dự án luật, pháp lệnh, dự thảo

    nghị quyết

    Cụ thể, Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham gia

    thẩm tra dự án, dự thảo do Ủy ban của Quốc hội chủ trì

    thẩm tra để bảo đảm chính sách dân tộc khi dự

    án, dự thảo đó có quy định liên

    quan đến dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số,

    miền núi.

    8. Không làm phát sinh thủ tục hành

    chính mới khi sửa VBQPPL đã ban hành trước

    ngày 01/7/2016

    Theo đó, những quy định về thủ tục hành chính

    trong VBQPPL do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

    quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành VBQPPL 2022 được ban

    hành trước ngày 01/7/2016 thì tiếp tục được

    áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác

    hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

    Trường hợp sửa đổi, bổ sung VBQPPL có quy định thủ tục

    hành chính được ban hành trước ngày

    01/7/2016 thì không được làm

    phát sinh thủ tục hành chính mới hoặc quy định

    thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng

    thời gian giải quyết thủ tục hành chính đang áp dụng.

     

    là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành

    văn bản quy phạm pháp luật:

     

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam;

    Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

    Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13.

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành

    văn bản quy phạm pháp luật

    1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

    “3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với

    Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị

    quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính

    phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 8 và bổ sung khoản 8a vào sau

    khoản 8 như sau:

    “8. Thông tư của Chánh án Tòa

    án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm

    toán nhà nước.

    8a. Thông tư liên tịch giữa Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không

    ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ

    trưởng cơ quan ngang bộ.”.

    2. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

    “Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây

    dựng văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện phản biện

    xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

    1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và

    Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên

    khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức

    khác, cá nhân có quyền và được tạo

    điều kiện tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng

    văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm

    pháp luật.

    2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối

    với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật

    này và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Phản biện xã hội được thực hiện trong thời gian cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý

    kiến về dự thảo văn bản. Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp

    luật đã được phản biện xã hội thì hồ sơ dự

    án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan

    có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội.

    3. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm

    pháp luật, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì

    có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ

    chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề

    nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản

    quy phạm pháp luật, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản

    biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;

    tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực

    tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

    4. Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm

    pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và

    ý kiến phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm

    pháp luật phải được nghiên cứu, giải trình, tiếp

    thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.”.

    3. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:

    “Điều 12. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc

    đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay

    thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của

    chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản

    đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi

    bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm

    quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc

    đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải

    xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu

    mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế,

    bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

    Văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật phải được

    đăng Công báo, niêm yết theo quy định.

    2. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban

    hành văn bản phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn

    bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy

    phạm pháp luật do mình đã ban hành

    trái với quy định của văn bản mới đó; trường hợp chưa

    thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ

    khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình

    đã ban hành trái với quy định của văn bản quy

    phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa

    đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có

    hiệu lực.

    Trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm

    của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban

    hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần

    tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong

    văn bản mới đó.

    3. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban

    hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội

    dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng cơ

    quan ban hành trong các trường hợp sau đây:

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

    thành viên;

    b) Nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ có

    thống nhất với văn bản mới được ban hành;

    c) Để thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục

    hành chính đã được phê duyệt”.

    4. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 như sau:

    “4. Quy định thủ tục hành chính trong thông

    tư, thông tư liên tịch, quyết định của Tổng Kiểm

    toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân

    dân, quyết định của Ủy ban nhân dân, văn bản quy

    phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị

    hành chính – kinh tế đặc biệt, trừ trường hợp được luật,

    nghị quyết của Quốc hội giao hoặc trường hợp cần thiết phải quy định

    thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng

    nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật này.”.

    5. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:

    “Điều 18. Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường

    vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung

    ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy

    ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết

    liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc

    hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử

    đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.”.

    6. Sửa đổi, bổ sung Điều 25 như sau:

    “Điều 25. Thông tư liên tịch giữa

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ ban hành thông tư liên tịch để quy định về

    việc phối hợp của các cơ quan này trong việc thực hiện

    trình tự, thủ tục tố tụng và phòng, chống tham nhũng.”.

    7. Sửa đổi, bổ sung Điều 30 như sau:

    “Điều 30. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân,

    quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

    1. Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành nghị

    quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết

    định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao

    hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa

    phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật tổ

    chức chính quyền địa phương.

    2. Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị

    quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết

    định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.”.

    8. Sửa đổi, bổ sung Điều 47 như sau:

    “Điều 47. Thẩm tra đề nghị xây dựng luật,

    pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh

    1. Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra

    đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật,

    pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

    2. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách

    nhiệm thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến

    nghị về luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực do mình phụ

    trách, gửi văn bản thẩm tra đến Ủy ban pháp luật

    và cử đại diện tham dự phiên họp thẩm tra của Ủy ban

    pháp luật.

    3. Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban

    hành; đối tượng, phạm vi điều chỉnh; chính sách

    trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về

    luật, pháp lệnh; sự phù hợp của nội dung chính

    sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính

    sách của Nhà nước; tính thống nhất, tính

    khả thi, thứ tự ưu tiên, thời điểm trình, điều kiện bảo

    đảm để xây dựng và thi hành văn bản.”.

    9. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 55 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

    “2. Chuẩn bị dự thảo, tờ trình và các

    Tờ trình dự án, dự thảo phải nêu rõ sự cần

    thiết ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; mục

    đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh, nghị

    quyết; quá trình xây dựng dự án, dự thảo;

    bố cục, nội dung cơ bản của dự thảo văn bản; tính thống nhất

    của dự thảo văn bản với các văn bản quy phạm pháp luật

    trong cùng lĩnh vực và các lĩnh vực có

    thích của dự thảo văn bản với điều ước quốc tế có

    Nam là thành viên.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:

    “7. Đối với dự án, dự thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội

    hoặc cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 3 Điều 52 của Luật này

    trình và dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội tự

    mình soạn thảo thì cơ quan, tổ chức được giao chủ

    trì soạn thảo, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm

    gửi báo cáo tiến độ soạn thảo đến Thường trực Ủy ban

    pháp luật để tổng hợp, báo cáo Ủy ban thường vụ

    Quốc hội.

    Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình

    thì bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo

    có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo

    với Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính

    phủ; đồng thời gửi Thường trực Ủy ban pháp luật để tổng hợp,

    báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật,

    pháp lệnh, nghị quyết, nếu có sự thay đổi lớn về

    chính sách so với chính sách đã

    được Chính phủ thông qua thì bộ, cơ quan ngang bộ

    chủ trì soạn thảo có trách nhiệm kịp thời

    báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem

    xét, quyết định.”.

    10. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 58 như sau:

    a) Bổ sung điểm b1 vào sau điểm b khoản 2 như sau:

    “b1) Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo;”;

    b) Bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 2 như sau:

    “đ1) Nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng

    luật, pháp lệnh, nghị quyết;”;

    c) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 3 như sau:

    “b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường

    lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà

    nước; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính

    thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật;

    tính tương thích của dự thảo văn bản với điều ước quốc

    chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;”.

    11. Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 59 như sau:

    “3a. Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo.”.

    12. Bổ sung điểm b1 vào sau điểm b khoản 1 Điều 62 như sau:

    “b1) Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo;”.

    13. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 63 như sau:

    “1. Dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội, Ủy

    dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra (sau đây gọi chung

    là cơ quan thẩm tra).

    Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách

    nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực do

    mình phụ trách và dự án, dự thảo

    khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao.

    Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách

    nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác

    đến lĩnh vực do mình phụ trách, gửi văn bản tham gia

    thẩm tra đến cơ quan chủ trì thẩm tra và cử đại diện

    tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

    2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời

    đại diện cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để

    phát biểu ý kiến về những nội dung của dự án, dự

    trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự

    án, dự thảo.”.

    14. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 64 như sau:

    a) Bổ sung điểm d1 vào sau điểm d khoản 1 như sau:

    “d1) Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo;”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

    “2. Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ

    Quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày trước

    ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ

    quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo

    phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ

    trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân tộc,

    Ủy ban về các vấn đề xã hội và các Ủy ban

    khác để tiến hành thẩm tra, tham gia thẩm tra.

    Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội thì chậm

    nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc

    hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan

    chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân

    tộc, Ủy ban về các vấn đề xã hội và các Ủy

    ban khác để tiến hành thẩm tra, tham gia thẩm tra.”.

    15. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 65 như sau:

    “6. Việc bảo đảm chính sách dân tộc, lồng

    ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu dự

    tộc, bình đẳng giới;”.

    16. Bổ sung Điều 68a vào sau Điều 68 như sau:

    “Điều 68a. Trách nhiệm của Hội đồng dân tộc

    trong thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc

    trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    1. Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham gia thẩm

    tra dự án, dự thảo do Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm

    tra để bảo đảm chính sách dân tộc khi dự

    dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

    2. Hội đồng dân tộc tổ chức phiên họp Thường trực Hội

    đồng hoặc phiên họp toàn thể để chuẩn bị ý kiến

    tham gia thẩm tra và cử đại diện Hội đồng tham dự phiên

    họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

    3. Nội dung thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân

    tộc bao gồm:

    sách dân tộc;

    b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình

    đẳng dân tộc và tạo điều kiện để các dân tộc

    thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với

    đất nước;

    c) Tác động và tính khả thi của các quy

    định trong dự án, dự thảo để bảo đảm chính sách

    dân tộc.”.

    17. Sửa đổi, bổ sung các điều 74, 75, 76 và 77 như sau:

    “Điều 74. Trình tự xem xét, thông

    qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hội

    Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo

    nghị quyết tại một kỳ họp theo trình tự sau đây:

    1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

    2. Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày

    báo cáo thẩm tra;

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo giải

    mà đại biểu Quốc hội nêu;

    5. Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án, dự

    thảo còn có ý kiến khác nhau thì

    Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ

    Quốc hội.

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp

    với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có

    vấn đề trình Quốc hội biểu quyết;

    6. Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại

    biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban

    thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ

    quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo;

    7. Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu,

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình

    tự sau đây:

    a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và

    xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp

    thu, chỉnh lý trình Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    b) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ vấn đề có ý kiến khác với dự

    thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    c) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu

    quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban

    pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ

    thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    8. Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

    Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo có ý kiến khác hoặc

    Chính phủ có ý kiến khác đối với dự

    án, dự thảo không do Chính phủ trình

    thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;

    9. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự

    thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau

    thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

    10. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội;

    11. Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được

    thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết

    định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ

    họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 75. Trình tự xem xét, thông qua dự

    án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp Quốc hội

    Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo

    nghị quyết tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:

    án, dự thảo được thực hiện theo quy định tại các khoản

    1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 74 của Luật này;

    2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ

    đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý dự thảo theo trình tự sau đây:

    a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và

    xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp

    thu, chỉnh lý.

    Đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội đề

    nghị bổ sung vào dự thảo thì trong trường hợp cần thiết,

    theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức,

    đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức

    đánh giá tác động của chính sách để

    báo cáo Quốc hội;

    b) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác

    với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý

    và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc tổ chức Hội nghị đại

    ý kiến đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn

    có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo;

    gửi dự thảo văn bản đã được chỉnh lý và dự thảo

    báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đến

    Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và

    các Ủy ban của Quốc hội chậm nhất là 45 ngày

    trước ngày khai mạc kỳ họp.

    Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc,

    Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức

    cáo tổng hợp ý kiến đến cơ quan chủ trì thẩm tra

    chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp;

    đ) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp ý kiến

    của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng

    dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; chủ

    trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội

    trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp

    luật, Bộ Tư pháp nghiên cứu, giải trình, tiếp thu,

    chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện dự thảo báo

    cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý trình

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    3. Tại kỳ họp thứ hai:

    a) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo ý

    kiến của đại biểu Quốc hội từ kỳ họp trước.

    Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo có ý kiến khác hoặc

    Chính phủ có ý kiến khác đối với dự

    án, dự thảo không do Chính phủ trình

    thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;

    kiến khác nhau;

    c) Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại

    biểu Quốc hội để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội

    và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức, đại

    biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu,

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    đ) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu

    quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban

    pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ

    thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    e) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    g) Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự

    thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau

    thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

    h) Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội;

    4. Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được

    thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết

    định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ

    họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 76. Trình tự xem xét, thông qua dự

    án luật tại ba kỳ họp Quốc hội

    Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ

    họp theo trình tự sau đây:

    án luật được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2,

    3, 4, 5 và 6 Điều 74 của Luật này;

    2. Trong thời gian giữa kỳ họp thứ nhất và kỳ họp thứ hai,

    việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự

    thảo luật được thực hiện theo trình tự sau đây:

    a) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật

    chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm

    tra, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và

    xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp

    thu, chỉnh lý dự thảo luật;

    b) Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo luật

    theo quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội (nếu có).

    Đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội,

    Nhân dân đề nghị bổ sung vào dự thảo thì

    trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ

    Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án luật tổ chức đánh giá tác động của

    chính sách để báo cáo Quốc hội;

    c) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức thẩm tra dự án luật

    đã được chỉnh lý;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về

    việc chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự quy định tại

    Điều 71 của Luật này. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban

    thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình

    dự án luật có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp

    thu để chỉnh lý dự thảo luật theo quy định tại Điều 72 của Luật này;

    3. Tại kỳ họp thứ hai:

    a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án luật trình bày báo cáo giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật; kết quả lấy

    ý kiến Nhân dân về dự án luật (nếu có);

    b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày

    báo cáo thẩm tra dự án luật đã được chỉnh lý;

    đại biểu Quốc hội trình dự án luật có

    đến dự án mà đại biểu Quốc hội nêu;

    d) Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án luật

    còn có ý kiến khác nhau thì Quốc

    hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp

    với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án

    luật, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có

    vấn đề trình Quốc hội biểu quyết;

    đ) Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại

    biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban

    thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ

    quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật;

    4. Trong thời gian giữa kỳ họp thứ hai và kỳ họp thứ ba, Ủy

    ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật theo trình

    tự quy định tại khoản 2 Điều 75 của Luật này;

    5. Tại kỳ họp thứ ba, trình tự xem xét, thông qua

    dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 75 của Luật này;

    6. Trong trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới

    được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét,

    quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 77. Trình tự xem xét, thông qua dự

    án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ

    Quốc hội

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự

    án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một phiên họp

    theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

    b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày

    báo cáo thẩm tra;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự

    phiên họp phát biểu ý kiến;

    đ) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    e) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác

    với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    g) Trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua, dự

    thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà

    soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    h) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý dự thảo;

    i) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo.

    Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến

    khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về

    vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi

    biểu quyết thông qua dự thảo;

    k) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự

    án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại hai phiên họp

    theo trình tự sau đây:

    a) Tại phiên họp thứ nhất, việc trình và thảo

    luận được thực hiện thẹo trình tự quy định tại các điểm

    a, b, c và d Khoản 1 Điều này. Ủy ban thường vụ Quốc hội

    án, dự thảo theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra để

    làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

    b) Trong thời gian giữa hai phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc

    hội, Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

    Đối với những chính sách mới được Ủy ban thường vụ Quốc

    hội đề nghị bổ sung vào dự thảo thì cơ quan, tổ chức,

    đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức

    đánh giá tác động của chính sách để

    báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác

    với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    c) Trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua, dự

    thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà

    soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    d) Tại phiên họp thứ hai, Thường trực cơ quan chủ trì

    thẩm tra báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo.

    Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến

    khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về

    vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi

    biểu quyết thông qua dự thảo;

    e) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội.”.

    18. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 84 như sau:

    “2. Bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo chỉ đạo của

    Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị của cơ quan,

    tổ chức, cá nhân chuẩn bị đề nghị xây dựng nghị

    định thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công

    phụ trách trình Chính phủ xem xét,

    thông qua đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3

    Điều 19 của Luật này hoặc trình Thủ tướng Chính

    phủ xem xét, quyết định đề nghị xây dựng nghị định quy

    định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.”.

    19. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 85 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

    “3. Xây dựng nội dung của chính sách

    và đánh giá tác động của chính

    sách trong đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản

    3 Điều 19 của Luật này; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm

    cho việc thi hành nghị định.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:

    “5. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức

    thu các ý kiến góp ý đối với đề nghị

    xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.”.

    20. Sửa đổi, bổ sung Điều 87 như sau:

    “Điều 87. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định

    1. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 2 Điều

    19 của Luật này bao gồm:

    a) Tờ trình đề nghị xây dựng nghị định, trong đó

    phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị định; mục

    đích, quan điểm xây dựng nghị định; đối tượng, phạm vi

    điều chỉnh, nội dung chính của nghị định; thời gian dự kiến đề

    nghị Chính phủ xem xét, thông qua; dự kiến nguồn

    lực, điều kiện bảo đảm việc thi hành nghị định;

    b) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp

    luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều

    19 của Luật này bao gồm:

    a) Tờ trình đề nghị xây dựng nghị định, trong đó

    phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị định; mục

    đích, quan điểm xây dựng nghị định; đối tượng, phạm vi

    điều chỉnh của nghị định; mục tiêu, nội dung chính

    sách trong đề nghị xây dựng nghị định, các giải

    pháp để thực hiện chính sách đã được lựa

    chọn và lý do của việc lựa chọn; thời gian dự kiến đề

    nghị Chính phủ xem xét, thông qua; dự kiến nguồn

    lực, điều kiện bảo đảm việc thi hành nghị định;

    b) Báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định, trong

    đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục

    tiêu ban hành chính sách; các giải

    pháp để thực hiện chính sách; các

    tác động tích cực, tiêu cực của chính

    sách; chi phí, lợi ích của các giải

    pháp; so sánh chi phí, lợi ích của

    các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ

    chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá

    tác động của thủ tục hành chính, đánh

    giá tác động về giới (nếu có);

    c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp

    luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý; bản chụp ý kiến góp ý;

    đ) Dự kiến đề cương chi tiết dự thảo nghị định;

    e) Tài liệu khác (nếu có).”.

    21. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 88 như sau:

    “1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ

    Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các

    dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

    2. Hồ sơ thẩm định gửi đến Bộ Tư pháp gồm các

    tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật này.

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 87

    của Luật này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.”.

    22. Sửa đổi, bổ sung Điều 89 như sau:

    “Điều 89. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

    xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định

    1. Bộ, cơ quan ngang bộ trình Chính phủ đề nghị

    xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật

    này; trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị xây

    dựng nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Chính

    phủ bao gồm:

    a) Các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật

    này đã được chỉnh lý;

    b) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 87 của Luật

    này và tài liệu quy định tại điểm b khoản

    này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Thủ tướng

    Chính phủ bao gồm:

    a) Các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này;

    b) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 87 của Luật

    này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    4. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm

    tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định của bộ, cơ

    quan ngang bộ và đề xuất đưa vào phiên họp của

    Chính phủ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3

    Điều 19 của Luật này hoặc trình Thủ tướng Chính

    phủ xem xét, quyết định đề nghị xây dựng nghị định quy

    định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.

    5. Chính phủ xem xét, thông qua tại phiên

    họp của Chính phủ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại

    khoản 3 Điều 19 của Luật này theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ trình bày tờ

    trình đề nghị xây dựng nghị định;

    b) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày báo

    cáo thẩm định;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp

    phát biểu ý kiến;

    đ) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị xây dựng

    nghị định.

    nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ

    trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đề nghị xây

    dựng nghị định soạn thảo nghị quyết của Chính phủ về đề nghị

    xây dựng nghị định, trong đó nêu rõ

    các chính sách đã được Chính phủ

    thông qua, trình Thủ tướng Chính phủ xem

    xét và ký ban hành.”.

    23. Sửa đổi, bổ sung điểm a và bổ sung điểm a1 vào sau

    điểm a khoản 2 Điều 90 như sau:

    “a) Tổ chức xây dựng dự thảo nghị định. Đối với nghị định

    quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thì phải bảo

    đảm tính thống nhất với các chính sách

    đã được Chính phủ thông qua; đối với nghị định quy

    định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này thì phải bảo đảm

    phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật đã giao

    quy định chi tiết;

    a1) Đánh giá tác động của chính

    sách đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật

    này trong trường hợp quy định cụ thể các chính

    sách đã được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc

    hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh,

    quyết định của Chủ tịch nước; đánh giá tác động

    của chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 2

    Điều 19 của Luật này;”.

    24. Sửa đổi, bổ sung Điều 91 như sau:

    “Điều 91. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định

    Trong quá trình soạn thảo nghị định, cơ quan chủ

    trì soạn thảo phải lấy ý kiến các đối tượng chịu

    sự tác động trực tiếp của văn bản và bộ, cơ quan ngang

    bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định tại các khoản

    1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này; lấy ý kiến Hội

    đồng dân tộc, nếu trong dự thảo nghị định có quy định về

    việc thực hiện chính sách dân tộc.”.

    25. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 92 như sau:

    “2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định;

    b) Dự thảo nghị định;

    c) Báo cáo về rà soát các văn bản

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ

    quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự

    tác động trực tiếp của văn bản; bản chụp ý kiến của bộ,

    cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

    đ) Báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 1

    và khoản 2 Điều 19 của Luật này; bản đánh

    giá thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong

    dự thảo có quy định thủ tục hành chính;

    báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng

    bình đẳng giới;

    e) Nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng nghị

    định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này;

    g) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này

    được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được

    gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Sự cần thiết ban hành nghị định; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh đối với dự thảo nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo nghị định với hệ thống pháp luật; tính

    mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

    thành viên;

    c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với văn bản được

    quy định chi tiết đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của

    Luật này; sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với

    các chính sách đã được thông qua

    trong đề nghị xây dựng nghị định đối với nghị định quy định tại

    khoản 3 Điều 19 của Luật này;

    d) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân

    thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo nghị

    định, nêu trong dự thảo nghị định có quy định thủ tục

    hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình

    đẳng giới trong dự thảo nghị định, nếu trong dự thảo nghị định

    đ) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính

    để bảo đảm thi hành nghị định;

    e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn

    thảo văn bản.”.

    26. Sửa đổi, bổ sung Điều 93 như sau:

    “Điều 93. Hồ sơ dự thảo nghị định trình

    Chính phủ

    1. Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định.

    2. Dự thảo nghị định.

    3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

    4. Báo cáo về rà soát các văn bản

    5. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ

    quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự

    tác động trực tiếp của nghị định.

    6. Báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 1

    và khoản 2 Điều 19 của Luật này; bản đánh

    giá thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong

    dự thảo có quy định thủ tục hành chính;

    báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới

    đến vấn đề bình đẳng giới.

    7. Nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng nghị

    định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

    8. Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều

    này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.”.

    27. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 98 như sau:

    “d) Báo cáo đánh giá tác

    động của chính sách trong dự thảo quyết định; bản

    đánh giá thủ tục hành chính, nếu trong dự

    thảo có quy định thủ tục hành chính; báo

    cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong

    28. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 102 như sau:

    “d) Báo cáo đánh giá tác

    động của chính sách trong dự thảo thông tư (nếu

    có); bản đánh giá thủ tục hành

    chính trong trường hợp được luật, nghị quyết của Quốc hội giao

    quy định thủ tục hành chính; báo cáo về

    lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có);”.

    29. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 103 như sau:

    “5. Báo cáo đánh giá tác

    động của chính sách trong dự thảo thông tư (nếu

    có); bản đánh giá thủ tục hành

    chính trong trường hợp được luật, nghị quyết của Quốc hội giao

    quy định thủ tục hành chính; báo cáo về

    lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có).”.

    30. Sửa đổi, bổ sung Điều 109 như sau:

    “Điều 109. Xây dựng, ban hành nghị quyết

    liên tịch

    1. Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội

    với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    và dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ

    Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt

    trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội phân

    công cơ quan chủ trì soạn thảo; dự thảo nghị quyết

    liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban

    trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Chính phủ phân

    công cơ quan chủ trì soạn thảo.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ

    chức soạn thảo dự thảo.

    3. Trong quá trình soạn thảo dự thảo nghị quyết

    liên tịch, cơ quan chủ trì soạn thảo có

    trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ

    chức, cá nhân theo quy định tại các khoản 1, 2

    và 3 Điều 57 của Luật này.

    4. Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội,

    Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ

    quốc Việt Nam phải được Bộ Tư pháp thẩm định trước khi

    trình Chính phủ; Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc

    hội thẩm tra trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Hồ sơ, thời hạn, nội dung thẩm định theo quy định tại các

    khoản 2, 3 và 4 Điều 58 của Luật này. Hồ sơ, thời hạn,

    nội dung thẩm tra theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật này.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm

    nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý

    dự thảo.

    6. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý

    kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban

    hành nghị quyết liên tịch.

    Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban trung

    ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng ký ban hành

    nghị quyết liên tịch.”.

    31. Sửa đổi, bổ sung Điều 110 như sau:

    “Điều 110. Xây dựng, ban hành thông

    tư liên tịch

    1. Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ thỏa thuận, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ

    chức soạn thảo dự thảo.

    3. Dự thảo được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của

    cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất

    là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân

    tham gia ý kiến.

    Dự thảo thông tư liên tịch có sự tham gia của

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội

    đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối

    cao; dự thảo thông tư liên tịch có sự tham gia của

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải

    được lấy ý kiến các thành viên Ủy ban kiểm

    sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm

    nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý

    dự thảo.

    5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý

    kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành

    thông tư liên tịch.

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ cùng ký ban hành thông tư

    liên tịch.”.

    32. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 111 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

    “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Ban của

    Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ

    quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật

    của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo

    đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu Hội đồng nhân dân,

    có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội

    đồng nhân dân cấp tỉnh.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

    “3. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân

    dân cấp tỉnh có nội dung quy định tại khoản 4 Điều 27 của

    Luật này thì trước khi trình Thường trực Hội đồng

    nhân dân phải thực hiện theo quy định từ Điều 112 đến Điều

    116 của Luật này.”.

    33. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 116 như sau:

    “1. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh trình thì Ủy ban

    nhân dân có trách nhiệm xem xét, thảo

    luận tập thể và biểu quyết theo đa số để thông qua

    các chính sách trong từng đề nghị xây dựng

    nghị quyết.

    Hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm

    tài liệu quy định tại Điều 114 của Luật này, báo

    cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và

    báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.”.

    34. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 117 như sau:

    “2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại

    các khoản 1, 2 và 3 Điều 27 của Luật này bao gồm:

    a) Tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết, trong

    đó phải nêu rõ căn cứ ban hành nghị quyết;

    đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung chính của nghị quyết;

    thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem

    xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho

    việc thi hành nghị quyết;

    b) Tài liệu khác (nếu có).

    3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều

    27 của Luật này bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại Điều 114 của Luật này;

    b) Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết;

    báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Quyết định thông qua chính sách trong đề nghị

    xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định

    tại Điều 116 của Luật này.”.

    35. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và bổ sung khoản 1a vào

    sau khoản 1 Điều 119 như sau:

    “1. Tổ chức xây dựng dự thảo nghị quyết. Đối với nghị

    quyết quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này thì phải

    bảo đảm phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật đã

    giao quy định chi tiết; đối với nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều

    27 của Luật này thì phải bảo đảm thống nhất với

    các chính sách đã được thông qua.

    1a. Đánh giá tác động của chính

    sách đối với dự thảo nghị quyết quy định tại khoản 2 và

    khoản 3 Điều 27 của Luật này.”.

    36. Sửa đổi, bổ sung Điều 121 như sau:

    “Điều 121. Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh trình

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do

    Ủy ban nhân dân cùng cấp trình phải được Sở

    Tư pháp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân.

    Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan

    chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội

    dung của dự thảo nghị quyết; tự mình hoặc cùng cơ quan

    chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc

    nội dung của dự thảo nghị quyết. Cơ quan chủ trì soạn thảo

    có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu

    phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị quyết.

    Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc

    Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định, bao gồm

    các chuyên gia, nhà khoa học.

    Chậm nhất là 25 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo nghị quyết;

    b) Dự thảo nghị quyết;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý

    kiến góp ý; báo cáo đánh giá

    tác động của chính sách đối với nghị quyết quy

    định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật này;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này

    được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được

    gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định bao gồm:

    a) Sự cần thiết ban hành nghị quyết quy định tại khoản 2

    và khoản 3 Điều 27 của Luật này; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh đối với dự thảo nghị quyết;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật;

    c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với văn bản

    đã giao cho Hội đồng nhân dân quy định chi tiết; sự

    phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với các

    chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết

    đã được thông qua theo quy định tại Điều 116 của Luật này;

    d) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý

    kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3

    Điều này và ý kiến về việc dự thảo nghị quyết đủ

    điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ

    trì soạn thảo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,

    hoàn thiện dự thảo nghị quyết, đồng thời gửi báo

    cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản

    đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình

    Ủy ban nhân dân dự thảo nghị quyết.”.

    37. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 122 như sau:

    “d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến

    góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách đối với nghị quyết quy định tại khoản 2

    và khoản 3 Điều 27 của Luật này;”.

    38. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 124 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 như sau:

    “d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến

    góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản

    chụp ý kiến góp ý; báo cáo

    đánh giá tác động của chính sách

    đối với nghị quyết quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của

    Luật này;”;

    b) Bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 như sau:

    “2a. Cơ quan thẩm tra không tiến hành thẩm tra dự

    thảo nghị quyết khi chưa đủ các tài liệu trong hồ sơ

    hoặc hồ sơ gửi không đúng thời hạn theo quy định tại

    khoản 2 Điều này.”;

    c) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 như sau:

    “a) Sự cần thiết ban hành nghị quyết quy định tại khoản

    2 và khoản 3 Điều 27 của Luật này; nội dung của dự thảo

    nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến

    khác nhau;”.

    39. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 128 như sau:

    “c) Đánh giá tác động của thủ tục

    hành chính trong trường hợp được luật, nghị quyết của

    Quốc hội giao quy định thủ tục hành chính; đánh

    giá tác động về giới (nếu có);”.

    40. Sửa đổi, bổ sung Điều 130 như sau:

    “Điều 130. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh

    1. Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo

    quyết định trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan

    chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội

    dung của dự thảo quyết định; tự mình hoặc cùng cơ quan

    chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc

    nội dung của dự thảo quyết định. Cơ quan chủ trì soạn thảo

    có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu

    phục vụ cho việc thẩm định dự thảo quyết định.

    Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc

    Sở Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại

    chuyên gia, nhà khoa học.

    Chậm nhất là 25 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo quyết định đến Sở Tư pháp để thẩm định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định;

    b) Dự thảo quyết định;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý

    kiến góp ý;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này

    được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được

    gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định bao gồm:

    a) Sự cần thiết ban hành quyết định quy định tại khoản 2

    và khoản 3 Điều 28 của Luật này; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh của dự thảo quyết định;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo quyết định với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;

    c) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân

    thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo quyết

    định, nếu trong dự thảo quyết định có quy định thủ tục

    hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình

    đẳng giới trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết định

    d) Nguồn lực, điều kiện bảo đảm thi hành quyết định;

    đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý

    kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3

    Điều này và ý kiến về việc dự thảo quyết định đủ

    điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ

    trì soạn thảo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,

    hoàn thiện dự thảo quyết định, đồng thời gửi báo

    cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản

    đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình

    Ủy ban nhân dân dự thảo quyết định.”.

    41. Sửa đổi, bổ sung Điều 131 như sau:

    “Điều 131. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh

    1. Cơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là 03

    ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân

    dân họp để chuyển đến các thành viên Ủy ban

    nhân dân.

    2. Hồ sơ dự thảo quyết định bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 130 của Luật này;

    b) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

    Tài liệu quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 130 của Luật

    này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy,

    các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.”.

    42. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 134 như sau:

    “1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm

    thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp

    huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    Chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện đến

    Phòng Tư pháp để thẩm định.”.

    43. Sửa đổi, bổ sung Điều 139 như sau:

    “Điều 139. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban

    nhân dân cấp huyện

    1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định

    dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi trình.

    Chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo quyết định đến Phòng Tư pháp để thẩm định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định;

    b) Dự thảo quyết định;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý

    kiến góp ý;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    3. Nội dung thẩm định bao gồm:

    a) Sự cần thiết ban hành quyết định; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh của dự thảo quyết định;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo quyết định với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;

    c) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân

    thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo quyết

    định, nếu trong dự thảo quyết định có quy định thủ tục

    hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình

    đẳng giới trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết định

    d) Nguồn lực, điều kiện bảo đảm thi hành quyết định;

    đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý

    kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3

    Điều này và ý kiến về việc dự thảo quyết định đủ

    điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ

    trì soạn thảo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    Phòng Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,

    hoàn thiện dự thảo quyết định, đồng thời gửi báo

    cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản

    đã được chỉnh lý đến Phòng Tư pháp khi

    trình Ủy ban nhân dân dự thảo quyết định.”.

    44. Sửa đổi, bổ sung Điều 146 như sau:

    “Điều 146. Các trường hợp xây dựng, ban

    hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự,

    thủ tục rút gọn

    1. Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về

    tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong

    phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ;

    trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh

    trong thực tiễn.

    2. Trường hợp cần ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn

    bản quy phạm pháp luật để kịp thời bảo vệ lợi ích của

    Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,

    cá nhân.

    3. Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy

    phạm pháp luật mới được ban hành; trường hợp cần ban

    hành ngay văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều

    xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    4. Trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản

    quy phạm pháp luật trái pháp luật hoặc

    không còn phù hợp với tình hình

    phát triển kinh tế – xã hội.

    5. Trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng

    toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật

    trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp

    bách phát sinh trong thực tiễn.”.

    45. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 và bổ sung khoản 3a vào

    sau khoản 3 Điều 147 như sau:

    “3. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng

    trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban

    hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng

    Chính phủ; quyết định việc áp dụng trình tự, thủ

    tục rút gọn đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

    quan ngang bộ ban hành trong trường hợp cấp bách để giải

    quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn quy định tại khoản

    1 Điều 146 của Luật này.

    Văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng

    trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư của Bộ

    trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định tại khoản này phải

    kèm theo ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

    3a. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ

    tục rút gọn đối với văn bản quy phạm pháp luật do

    mình ban hành trong trường hợp quy định tại khoản 2

    và khoản 4 Điều 146 của Luật này.”.

    46. Sửa đổi, bổ sung Điều 148 như sau:

    “Điều 148. Trình tự, thủ tục xây dựng văn

    bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục

    rút gọn

    Việc xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,

    nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ

    tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng

    Chính phủ, thông tư của Chánh án Tòa

    án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết định của Tổng Kiểm

    toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân

    dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp

    tỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:

    1. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo;

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy

    ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản,

    thảo văn bản. Trong trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản

    thì thời hạn lấy ý kiến không quá 20 ngày;

    3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự

    án, dự thảo, cơ quan thẩm định có trách nhiệm

    thẩm định, cơ quan chủ trì thẩm tra có trách

    nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản.

    Hồ sơ gửi thẩm định gồm tờ trình, dự thảo văn bản, bản tổng

    hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của

    cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp lấy ý kiến.

    Hồ sơ gửi thẩm tra gồm tờ trình, dự thảo văn bản, bản tổng

    hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của

    cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp lấy ý

    kiến, báo cáo thẩm định và báo cáo

    giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.”.

    47. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 149 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 1 như sau:

    “b) Hồ sơ trình dự thảo lệnh, dự thảo quyết định của Chủ

    tịch nước, dự thảo thông tư của Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, dự thảo thông

    tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    dự thảo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước bao gồm

    tờ trình, dự thảo;

    e) Hồ sơ trình dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo

    quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo thông tư của

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, dự thảo quyết định của Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh bao gồm tờ trình, dự thảo,

    báo cáo thẩm định.”;

    b) Bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 2 như sau:

    “đ1) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh

    án Tòa án nhân dân tối cao, Viện

    trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm

    toán nhà nước xem xét, ký ban hành

    văn bản quy phạm pháp luật ngay sau khi nhận được dự thảo văn

    bản theo trình tự quy định tại các điều 104, 106, 107

    và 108 của Luật này;”.

    48. Sửa đổi, bổ sung Điều 151 như sau:

    “Điều 151. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy

    phạm pháp luật

    1. Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn

    bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó

    nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông

    qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm

    pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương; không

    sớm hơn 10 ngày kể từ ngày thông qua hoặc

    ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật

    của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp

    tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày thông

    qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm

    pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân

    dân cấp huyện và cấp xã.

    2. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo

    trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể

    có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký

    ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên cổng

    thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải

    được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng;

    đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày

    công bố hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm

    pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương; đăng

    Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày thông qua

    hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp

    luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

    cấp tỉnh.”.

    49. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 153 như sau:

    “1. Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực

    toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử

    lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong

    các trường hợp sau đây:

    a) Bị đình chỉ việc thi hành theo quy định tại khoản 3

    Điều 164, khoản 2 Điều 165, khoản 2 và khoản 3 Điều 166, khoản

    2 và khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 170 của Luật này.

    Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định

    bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực; nếu không ra

    quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;

    b) Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm

    pháp luật quyết định ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một

    phần của văn bản đó để kịp thời bảo vệ lợi ích của

    Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,

    cá nhân.”.

    50. Sửa đổi, bổ sung Điều 157 như sau:

    “Điều 157. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm

    pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải toàn văn

    trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất

    là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc

    ký ban hành đối với văn bản của cơ quan nhà nước

    ở trung ương; chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày

    thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản của Hội

    đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và đưa

    tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn

    bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy

    định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

    Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên Cơ sở dữ liệu

    quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng

    chính thức.”.

    51. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 172 như sau:

    “4. Những quy định về thủ tục hành chính trong

    văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, người

    có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này

    được ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2022

    thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ

    bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành

    chính mới. Trường hợp sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm

    pháp luật có quy định thủ tục hành chính

    được ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2022

    thì không được làm phát sinh thủ tục

    hành chính mới hoặc quy định thêm thành

    phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng thời gian giải quyết thủ

    tục hành chính đang áp dụng.”.

    52. Bổ sung từ, cụm từ tại một số điều sau đây:

    a) Bổ sung từ “Thường trực” vào trước cụm từ

    “Ủy ban pháp luật” tại khoản 3 Điều 48, điểm c

    khoản 1 Điều 49 và khoản 2 Điều 50;

    b) Bổ sung cụm từ “; báo cáo giải trình,

    tiếp thu ý kiến thẩm định” vào sau cụm từ

    “Báo cáo thẩm định” tại điểm b khoản 2 Điều 140.

    53. Thay thế, bỏ từ, cụm từ tại một số điều sau đây:

    a) Thay thế từ “tiêu đề” bằng từ

    “tên” tại khoản 3 Điều 8;

    b) Thay thế từ “Đề cương” bằng cụm từ “Dự kiến đề

    cương chi tiết” tại điểm đ khoản 1 Điều 37 và khoản 5

    Điều 114;

    c) Thay thế cụm từ “Báo cáo đánh

    giá tác động của văn bản” bằng cụm từ

    “Báo cáo đánh giá tác động

    của chính sách” tại điểm c khoản 2 Điều 95;

    d) Thay thế cụm từ “Báo cáo tổng hợp, giải

    trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá

    nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của

    văn bản” bằng cụm từ “Bản tổng hợp, giải trình,

    tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân

    và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn

    bản” tại điểm c khoản 2 Điều 98; thay thế cụm từ “khoản 1

    Điều này” bằng cụm từ “khoản 3 Điều

    này” tại khoản 5 Điều 98;

    đ) Thay thế cụm từ “đối tượng chịu sự tác động trực tiếp

    của dự thảo nghị quyết” bằng cụm từ “đối tượng chịu sự

    tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị

    xây dựng nghị quyết” tại khoản 2 Điều 113;

    e) Thay thế cụm từ “Nội dung đánh giá tác

    động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng

    nghị quyết” bằng cụm từ “Báo cáo đánh

    giá tác động của chính sách trong đề nghị

    xây dựng nghị quyết” tại khoản 2 Điều 114;

    g) Bỏ cụm từ “Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc

    hội,” tại khoản 3 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 56 và

    khoản 4 Điều 57;

    h) Bỏ cụm từ “, cơ quan tham gia thẩm tra” tại điểm a

    khoản 1 Điều 50;

    i) Bỏ cụm từ “dự thảo nghị quyết” tại khoản 5 Điều 115.

    Điều 2. Hiệu lực thi hành

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01

    tháng 01 năm 2022.

    Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội

    chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua

    ngày 18 tháng 6 năm 2022./.

    Cụ thể, Luật Ban hanh VBQPPL sửa đổi 2022 bổ sung thêm hai loại

    VBQPPL sau:

    – Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

    Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ

    quốc Việt Nam;

    – Thông tư liên tịch giữa Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

    bộ. Không ban hành Thông tư liên

    tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

    2. Sửa quy định về thời điểm có hiệu lực của VBQPPL

    – Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần

    VBQPPL được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn:

    + 45 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương.

    + 10 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh.

     (Hiện hành quy định không sớm hơn 10 ngày

    kể từ ngày ký ban hành đối với

    VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh).

    + 07 ngày kể từ ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã.

    (Hiện hành quy định không sớm hơn 07 ngày kể từ

    ngày ký ban hành đối với

    VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện và cấp xã).

    – VBQPPL ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn

    có thể có hiệu lực kể từ ngày thông

    qua/ký ban hành, đồng thời phải được:

    + Đăng ngay trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành.

    + Đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.

    + Đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam chậm nhất là 03 ngày kể từ

    ngày công bố/ký ban

    hành với VBQPPL của cơ quan nhà nước ở trung ương;

    Hoặc đăng công báo tỉnh, thành phố trực thuộc

    trung ương chậm nhất là 03 ngày kể từ

    ngày thông qua/ký ban

    hành với VBQPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh.

    (Hiện hành quy định đăng Công báo nước Cộng

    hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo

    tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau

    03 ngày kể từ ngày công bố/ký ban hành).

    3. Mở rộng thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND, UBND

    cấp huyện/xã

    Theo đó, HĐND, UBND cấp huyện/xã có thẩm quyền

    ban hành VBQPPL như sau:

    – HĐND cấp huyện ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện ban

    hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết

    của Quốc hội giao hoặc để thực hiện việc phân cấp cho

    chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo

    quy định.

    – HĐND cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp xã

    ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị

    quyết của Quốc hội giao.

    (Hiện hành quy định HĐND cấp huyện, cấp xã ban

    hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã chỉ ban

    hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao).

    4. Bổ sung trường hợp xây dựng, ban hành VBQPPL

    theo thủ tục rút gọn

    Cụ thể, bổ sung thêm 03 trường hợp xây dựng, ban

    hành VBQPPL theo thủ tục rút gọn sau:

    – Trường hợp cần ban hành ngay VBQPPL để thực hiện điều ước

    hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    – Trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ VBQPPL

    trái pháp luật hoặc không còn phù

    hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội.

    – Trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng

    toàn bộ hoặc một phần của VBQPPL trong một thời hạn nhất định

    để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn.

    5. VBQPPL có

    thể bị đình chỉ, bãi bỏ bằng văn bản

    của cơ quan nhà nước khác

    VBQPPL chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng

    VBQPPL của chính cơ quan nhà nước đã ban

    hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi

    hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan

    nhà nước, người có thẩm quyền.

    (Hiện hành quy định việc đình chỉ việc thi hành

    hoặc bãi bỏ VBQPPL phải bằng văn bản của cơ quan

    nhà nước cấp trên có thẩm quyền).

    6. VBQPPL đã ban hành vẫn có thể tiếp tục

    áp dụng dù quy định khác với VBQPPL mới

    Cụ thể, trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản,

    điểm của VBQPPL hiện hành có quy định khác với

    VBQPPL mới, do cùng một cơ quan ban hành, cần tiếp tục

    được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong VBQPPL

    mới đó.

    7. Bổ sung trách nhiệm của hội đồng dân tộc trong

    thẩm tra một số dự án luật, pháp lệnh, dự thảo

    nghị quyết

    Cụ thể, Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham gia

    thẩm tra dự án, dự thảo do Ủy ban của Quốc hội chủ trì

    thẩm tra để bảo đảm chính sách dân tộc khi dự

    án, dự thảo đó có quy định liên

    quan đến dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số,

    miền núi.

    8. Không làm phát sinh thủ tục hành

    chính mới khi sửa VBQPPL đã ban hành trước

    ngày 01/7/2016

    Theo đó, những quy định về thủ tục hành chính

    trong VBQPPL do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

    quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành VBQPPL 2022 được ban

    hành trước ngày 01/7/2016 thì tiếp tục được

    áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác

    hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.

    Trường hợp sửa đổi, bổ sung VBQPPL có quy định thủ tục

    hành chính được ban hành trước ngày

    01/7/2016 thì không được làm

    phát sinh thủ tục hành chính mới hoặc quy định

    thêm thành phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng

    thời gian giải quyết thủ tục hành chính đang áp dụng.

     

    là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành

    văn bản quy phạm pháp luật:

     

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam;

    Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

    Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 80/2015/QH13.

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành

    văn bản quy phạm pháp luật

    1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

    “3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với

    Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị

    quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính

    phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 8 và bổ sung khoản 8a vào sau

    khoản 8 như sau:

    “8. Thông tư của Chánh án Tòa

    án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm

    toán nhà nước.

    8a. Thông tư liên tịch giữa Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không

    ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ

    trưởng cơ quan ngang bộ.”.

    2. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 như sau:

    “Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây

    dựng văn bản quy phạm pháp luật, thực hiện phản biện

    xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

    1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và

    Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên

    khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức

    khác, cá nhân có quyền và được tạo

    điều kiện tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng

    văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm

    pháp luật.

    2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối

    với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật

    này và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Phản biện xã hội được thực hiện trong thời gian cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý

    kiến về dự thảo văn bản. Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp

    luật đã được phản biện xã hội thì hồ sơ dự

    án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan

    có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội.

    3. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm

    pháp luật, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì

    có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ

    chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề

    nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản

    quy phạm pháp luật, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản

    biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;

    tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực

    tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

    4. Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm

    pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và

    ý kiến phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm

    pháp luật phải được nghiên cứu, giải trình, tiếp

    thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.”.

    3. Sửa đổi, bổ sung Điều 12 như sau:

    “Điều 12. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc

    đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay

    thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của

    chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản

    đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi

    bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm

    quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc

    đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải

    xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu

    mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế,

    bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.

    Văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật phải được

    đăng Công báo, niêm yết theo quy định.

    2. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban

    hành văn bản phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn

    bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy

    phạm pháp luật do mình đã ban hành

    trái với quy định của văn bản mới đó; trường hợp chưa

    thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ

    khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình

    đã ban hành trái với quy định của văn bản quy

    phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa

    đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có

    hiệu lực.

    Trường hợp văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm

    của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban

    hành có quy định khác với văn bản mới nhưng cần

    tiếp tục được áp dụng thì phải được chỉ rõ trong

    văn bản mới đó.

    3. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban

    hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội

    dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng cơ

    quan ban hành trong các trường hợp sau đây:

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

    thành viên;

    b) Nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ có

    thống nhất với văn bản mới được ban hành;

    c) Để thực hiện phương án đơn giản hóa thủ tục

    hành chính đã được phê duyệt”.

    4. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 như sau:

    “4. Quy định thủ tục hành chính trong thông

    tư, thông tư liên tịch, quyết định của Tổng Kiểm

    toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân

    dân, quyết định của Ủy ban nhân dân, văn bản quy

    phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị

    hành chính – kinh tế đặc biệt, trừ trường hợp được luật,

    nghị quyết của Quốc hội giao hoặc trường hợp cần thiết phải quy định

    thủ tục hành chính trong nghị quyết của Hội đồng

    nhân dân cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 của Luật này.”.

    5. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:

    “Điều 18. Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường

    vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung

    ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy

    ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết

    liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao hoặc

    hướng dẫn một số vấn đề cần thiết trong công tác bầu cử

    đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.”.

    6. Sửa đổi, bổ sung Điều 25 như sau:

    “Điều 25. Thông tư liên tịch giữa

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ ban hành thông tư liên tịch để quy định về

    việc phối hợp của các cơ quan này trong việc thực hiện

    trình tự, thủ tục tố tụng và phòng, chống tham nhũng.”.

    7. Sửa đổi, bổ sung Điều 30 như sau:

    “Điều 30. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân,

    quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã

    1. Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành nghị

    quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết

    định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao

    hoặc để thực hiện việc phân cấp cho chính quyền địa

    phương, cơ quan nhà nước cấp dưới theo quy định của Luật tổ

    chức chính quyền địa phương.

    2. Hội đồng nhân dân cấp xã ban hành nghị

    quyết, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết

    định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao.”.

    8. Sửa đổi, bổ sung Điều 47 như sau:

    “Điều 47. Thẩm tra đề nghị xây dựng luật,

    pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh

    1. Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra

    đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

    của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật,

    pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.

    2. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách

    nhiệm thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến

    nghị về luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực do mình phụ

    trách, gửi văn bản thẩm tra đến Ủy ban pháp luật

    và cử đại diện tham dự phiên họp thẩm tra của Ủy ban

    pháp luật.

    3. Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban

    hành; đối tượng, phạm vi điều chỉnh; chính sách

    trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về

    luật, pháp lệnh; sự phù hợp của nội dung chính

    sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính

    sách của Nhà nước; tính thống nhất, tính

    khả thi, thứ tự ưu tiên, thời điểm trình, điều kiện bảo

    đảm để xây dựng và thi hành văn bản.”.

    9. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 55 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

    “2. Chuẩn bị dự thảo, tờ trình và các

    Tờ trình dự án, dự thảo phải nêu rõ sự cần

    thiết ban hành luật, pháp lệnh, nghị quyết; mục

    đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh, nghị

    quyết; quá trình xây dựng dự án, dự thảo;

    bố cục, nội dung cơ bản của dự thảo văn bản; tính thống nhất

    của dự thảo văn bản với các văn bản quy phạm pháp luật

    trong cùng lĩnh vực và các lĩnh vực có

    thích của dự thảo văn bản với điều ước quốc tế có

    Nam là thành viên.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:

    “7. Đối với dự án, dự thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội

    hoặc cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 3 Điều 52 của Luật này

    trình và dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội tự

    mình soạn thảo thì cơ quan, tổ chức được giao chủ

    trì soạn thảo, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm

    gửi báo cáo tiến độ soạn thảo đến Thường trực Ủy ban

    pháp luật để tổng hợp, báo cáo Ủy ban thường vụ

    Quốc hội.

    Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình

    thì bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo

    có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo

    với Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính

    phủ; đồng thời gửi Thường trực Ủy ban pháp luật để tổng hợp,

    báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật,

    pháp lệnh, nghị quyết, nếu có sự thay đổi lớn về

    chính sách so với chính sách đã

    được Chính phủ thông qua thì bộ, cơ quan ngang bộ

    chủ trì soạn thảo có trách nhiệm kịp thời

    báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem

    xét, quyết định.”.

    10. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 58 như sau:

    a) Bổ sung điểm b1 vào sau điểm b khoản 2 như sau:

    “b1) Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo;”;

    b) Bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 2 như sau:

    “đ1) Nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng

    luật, pháp lệnh, nghị quyết;”;

    c) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 3 như sau:

    “b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với đường

    lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà

    nước; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính

    thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật;

    tính tương thích của dự thảo văn bản với điều ước quốc

    chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;”.

    11. Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 59 như sau:

    “3a. Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo.”.

    12. Bổ sung điểm b1 vào sau điểm b khoản 1 Điều 62 như sau:

    “b1) Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo;”.

    13. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 63 như sau:

    “1. Dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội, Ủy

    dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra (sau đây gọi chung

    là cơ quan thẩm tra).

    Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách

    nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực do

    mình phụ trách và dự án, dự thảo

    khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao.

    Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách

    nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác

    đến lĩnh vực do mình phụ trách, gửi văn bản tham gia

    thẩm tra đến cơ quan chủ trì thẩm tra và cử đại diện

    tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

    2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời

    đại diện cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để

    phát biểu ý kiến về những nội dung của dự án, dự

    trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự

    án, dự thảo.”.

    14. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 64 như sau:

    a) Bổ sung điểm d1 vào sau điểm d khoản 1 như sau:

    “d1) Báo cáo về rà soát các

    án, dự thảo;”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

    “2. Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ

    Quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày trước

    ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ

    quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo

    phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ

    trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân tộc,

    Ủy ban về các vấn đề xã hội và các Ủy ban

    khác để tiến hành thẩm tra, tham gia thẩm tra.

    Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội thì chậm

    nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc

    hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan

    chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Hội đồng dân

    tộc, Ủy ban về các vấn đề xã hội và các Ủy

    ban khác để tiến hành thẩm tra, tham gia thẩm tra.”.

    15. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 65 như sau:

    “6. Việc bảo đảm chính sách dân tộc, lồng

    ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu dự

    tộc, bình đẳng giới;”.

    16. Bổ sung Điều 68a vào sau Điều 68 như sau:

    “Điều 68a. Trách nhiệm của Hội đồng dân tộc

    trong thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân tộc

    trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết

    1. Hội đồng dân tộc có trách nhiệm tham gia thẩm

    tra dự án, dự thảo do Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm

    tra để bảo đảm chính sách dân tộc khi dự

    dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, miền núi.

    2. Hội đồng dân tộc tổ chức phiên họp Thường trực Hội

    đồng hoặc phiên họp toàn thể để chuẩn bị ý kiến

    tham gia thẩm tra và cử đại diện Hội đồng tham dự phiên

    họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.

    3. Nội dung thẩm tra việc bảo đảm chính sách dân

    tộc bao gồm:

    sách dân tộc;

    b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình

    đẳng dân tộc và tạo điều kiện để các dân tộc

    thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với

    đất nước;

    c) Tác động và tính khả thi của các quy

    định trong dự án, dự thảo để bảo đảm chính sách

    dân tộc.”.

    17. Sửa đổi, bổ sung các điều 74, 75, 76 và 77 như sau:

    “Điều 74. Trình tự xem xét, thông

    qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hội

    Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo

    nghị quyết tại một kỳ họp theo trình tự sau đây:

    1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

    2. Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày

    báo cáo thẩm tra;

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo giải

    mà đại biểu Quốc hội nêu;

    5. Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án, dự

    thảo còn có ý kiến khác nhau thì

    Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ

    Quốc hội.

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp

    với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có

    vấn đề trình Quốc hội biểu quyết;

    6. Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại

    biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban

    thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ

    quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo;

    7. Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu,

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình

    tự sau đây:

    a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và

    xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp

    thu, chỉnh lý trình Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    b) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ vấn đề có ý kiến khác với dự

    thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    c) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu

    quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban

    pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ

    thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    8. Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

    Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo có ý kiến khác hoặc

    Chính phủ có ý kiến khác đối với dự

    án, dự thảo không do Chính phủ trình

    thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;

    9. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự

    thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau

    thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

    10. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội;

    11. Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được

    thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết

    định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ

    họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 75. Trình tự xem xét, thông qua dự

    án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp Quốc hội

    Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo

    nghị quyết tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:

    án, dự thảo được thực hiện theo quy định tại các khoản

    1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 74 của Luật này;

    2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ

    đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý dự thảo theo trình tự sau đây:

    a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và

    xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp

    thu, chỉnh lý.

    Đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội đề

    nghị bổ sung vào dự thảo thì trong trường hợp cần thiết,

    theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức,

    đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức

    đánh giá tác động của chính sách để

    báo cáo Quốc hội;

    b) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác

    với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý

    và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc tổ chức Hội nghị đại

    ý kiến đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn còn

    có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo;

    gửi dự thảo văn bản đã được chỉnh lý và dự thảo

    báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đến

    Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và

    các Ủy ban của Quốc hội chậm nhất là 45 ngày

    trước ngày khai mạc kỳ họp.

    Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc,

    Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức

    cáo tổng hợp ý kiến đến cơ quan chủ trì thẩm tra

    chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp;

    đ) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp ý kiến

    của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng

    dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; chủ

    trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội

    trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp

    luật, Bộ Tư pháp nghiên cứu, giải trình, tiếp thu,

    chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện dự thảo báo

    cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý trình

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    3. Tại kỳ họp thứ hai:

    a) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo ý

    kiến của đại biểu Quốc hội từ kỳ họp trước.

    Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo có ý kiến khác hoặc

    Chính phủ có ý kiến khác đối với dự

    án, dự thảo không do Chính phủ trình

    thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;

    kiến khác nhau;

    c) Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại

    biểu Quốc hội để báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội

    và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan, tổ chức, đại

    biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu,

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    đ) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu

    quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban

    pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ

    thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    e) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    g) Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự

    thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau

    thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;

    h) Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội;

    4. Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được

    thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết

    định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ

    họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 76. Trình tự xem xét, thông qua dự

    án luật tại ba kỳ họp Quốc hội

    Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ

    họp theo trình tự sau đây:

    án luật được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2,

    3, 4, 5 và 6 Điều 74 của Luật này;

    2. Trong thời gian giữa kỳ họp thứ nhất và kỳ họp thứ hai,

    việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự

    thảo luật được thực hiện theo trình tự sau đây:

    a) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật

    chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm

    tra, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và

    xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp

    thu, chỉnh lý dự thảo luật;

    b) Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo luật

    theo quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội (nếu có).

    Đối với những chính sách mới được đại biểu Quốc hội,

    Nhân dân đề nghị bổ sung vào dự thảo thì

    trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của Ủy ban Thường vụ

    Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án luật tổ chức đánh giá tác động của

    chính sách để báo cáo Quốc hội;

    c) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức thẩm tra dự án luật

    đã được chỉnh lý;

    d) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về

    việc chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự quy định tại

    Điều 71 của Luật này. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban

    thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình

    dự án luật có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp

    thu để chỉnh lý dự thảo luật theo quy định tại Điều 72 của Luật này;

    3. Tại kỳ họp thứ hai:

    a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án luật trình bày báo cáo giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật; kết quả lấy

    ý kiến Nhân dân về dự án luật (nếu có);

    b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày

    báo cáo thẩm tra dự án luật đã được chỉnh lý;

    đại biểu Quốc hội trình dự án luật có

    đến dự án mà đại biểu Quốc hội nêu;

    d) Đối với những vấn đề quan trọng, vấn đề lớn của dự án luật

    còn có ý kiến khác nhau thì Quốc

    hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp

    với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án

    luật, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có

    vấn đề trình Quốc hội biểu quyết;

    đ) Tổng thư ký Quốc hội tổ chức tổng hợp ý kiến của đại

    biểu Quốc hội, kết quả biểu quyết để báo cáo Ủy ban

    thường vụ Quốc hội và gửi cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ

    quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật;

    4. Trong thời gian giữa kỳ họp thứ hai và kỳ họp thứ ba, Ủy

    ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật theo trình

    tự quy định tại khoản 2 Điều 75 của Luật này;

    5. Tại kỳ họp thứ ba, trình tự xem xét, thông qua

    dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 75 của Luật này;

    6. Trong trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới

    được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét,

    quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Điều 77. Trình tự xem xét, thông qua dự

    án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ

    Quốc hội

    1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự

    án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một phiên họp

    theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự

    án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;

    b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày

    báo cáo thẩm tra;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự

    phiên họp phát biểu ý kiến;

    đ) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    e) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác

    với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    g) Trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua, dự

    thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà

    soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    h) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý dự thảo;

    i) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo.

    Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến

    khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về

    vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi

    biểu quyết thông qua dự thảo;

    k) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội.

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự

    án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại hai phiên họp

    theo trình tự sau đây:

    a) Tại phiên họp thứ nhất, việc trình và thảo

    luận được thực hiện thẹo trình tự quy định tại các điểm

    a, b, c và d Khoản 1 Điều này. Ủy ban thường vụ Quốc hội

    án, dự thảo theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra để

    làm cơ sở cho việc chỉnh lý;

    b) Trong thời gian giữa hai phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc

    hội, Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối

    hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án,

    dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp

    giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.

    Đối với những chính sách mới được Ủy ban thường vụ Quốc

    hội đề nghị bổ sung vào dự thảo thì cơ quan, tổ chức,

    đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức

    đánh giá tác động của chính sách để

    báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự

    thảo có ý kiến bằng văn bản về những nội dung giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo, trong đó

    nêu rõ những vấn đề có ý kiến khác

    với dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh

    lý và đề xuất phương án để báo cáo

    Ủy ban thường vụ Quốc hội;

    c) Trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua, dự

    thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà

    soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản.

    Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với

    Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ

    chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo và

    soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp

    pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống

    pháp luật;

    d) Tại phiên họp thứ hai, Thường trực cơ quan chủ trì

    thẩm tra báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải

    trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

    đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo.

    Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến

    khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về

    vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi

    biểu quyết thông qua dự thảo;

    e) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy

    ban thường vụ Quốc hội.”.

    18. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 84 như sau:

    “2. Bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo chỉ đạo của

    Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị của cơ quan,

    tổ chức, cá nhân chuẩn bị đề nghị xây dựng nghị

    định thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công

    phụ trách trình Chính phủ xem xét,

    thông qua đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3

    Điều 19 của Luật này hoặc trình Thủ tướng Chính

    phủ xem xét, quyết định đề nghị xây dựng nghị định quy

    định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.”.

    19. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 85 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

    “3. Xây dựng nội dung của chính sách

    và đánh giá tác động của chính

    sách trong đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản

    3 Điều 19 của Luật này; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm

    cho việc thi hành nghị định.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:

    “5. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức

    thu các ý kiến góp ý đối với đề nghị

    xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.”.

    20. Sửa đổi, bổ sung Điều 87 như sau:

    “Điều 87. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định

    1. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 2 Điều

    19 của Luật này bao gồm:

    a) Tờ trình đề nghị xây dựng nghị định, trong đó

    phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị định; mục

    đích, quan điểm xây dựng nghị định; đối tượng, phạm vi

    điều chỉnh, nội dung chính của nghị định; thời gian dự kiến đề

    nghị Chính phủ xem xét, thông qua; dự kiến nguồn

    lực, điều kiện bảo đảm việc thi hành nghị định;

    b) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp

    luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều

    19 của Luật này bao gồm:

    a) Tờ trình đề nghị xây dựng nghị định, trong đó

    phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị định; mục

    đích, quan điểm xây dựng nghị định; đối tượng, phạm vi

    điều chỉnh của nghị định; mục tiêu, nội dung chính

    sách trong đề nghị xây dựng nghị định, các giải

    pháp để thực hiện chính sách đã được lựa

    chọn và lý do của việc lựa chọn; thời gian dự kiến đề

    nghị Chính phủ xem xét, thông qua; dự kiến nguồn

    lực, điều kiện bảo đảm việc thi hành nghị định;

    b) Báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định, trong

    đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục

    tiêu ban hành chính sách; các giải

    pháp để thực hiện chính sách; các

    tác động tích cực, tiêu cực của chính

    sách; chi phí, lợi ích của các giải

    pháp; so sánh chi phí, lợi ích của

    các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ

    chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá

    tác động của thủ tục hành chính, đánh

    giá tác động về giới (nếu có);

    c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp

    luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý; bản chụp ý kiến góp ý;

    đ) Dự kiến đề cương chi tiết dự thảo nghị định;

    e) Tài liệu khác (nếu có).”.

    21. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 88 như sau:

    “1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ

    Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các

    dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

    2. Hồ sơ thẩm định gửi đến Bộ Tư pháp gồm các

    tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật này.

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 87

    của Luật này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.”.

    22. Sửa đổi, bổ sung Điều 89 như sau:

    “Điều 89. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

    xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định

    1. Bộ, cơ quan ngang bộ trình Chính phủ đề nghị

    xây dựng nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật

    này; trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị xây

    dựng nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.

    2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Chính

    phủ bao gồm:

    a) Các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 87 của Luật

    này đã được chỉnh lý;

    b) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 87 của Luật

    này và tài liệu quy định tại điểm b khoản

    này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Thủ tướng

    Chính phủ bao gồm:

    a) Các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật này;

    b) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 87 của Luật

    này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.

    4. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm

    tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định của bộ, cơ

    quan ngang bộ và đề xuất đưa vào phiên họp của

    Chính phủ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại khoản 3

    Điều 19 của Luật này hoặc trình Thủ tướng Chính

    phủ xem xét, quyết định đề nghị xây dựng nghị định quy

    định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này.

    5. Chính phủ xem xét, thông qua tại phiên

    họp của Chính phủ đề nghị xây dựng nghị định quy định tại

    khoản 3 Điều 19 của Luật này theo trình tự sau đây:

    a) Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ trình bày tờ

    trình đề nghị xây dựng nghị định;

    b) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày báo

    cáo thẩm định;

    c) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp

    phát biểu ý kiến;

    đ) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị xây dựng

    nghị định.

    nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ

    trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đề nghị xây

    dựng nghị định soạn thảo nghị quyết của Chính phủ về đề nghị

    xây dựng nghị định, trong đó nêu rõ

    các chính sách đã được Chính phủ

    thông qua, trình Thủ tướng Chính phủ xem

    xét và ký ban hành.”.

    23. Sửa đổi, bổ sung điểm a và bổ sung điểm a1 vào sau

    điểm a khoản 2 Điều 90 như sau:

    “a) Tổ chức xây dựng dự thảo nghị định. Đối với nghị định

    quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này thì phải bảo

    đảm tính thống nhất với các chính sách

    đã được Chính phủ thông qua; đối với nghị định quy

    định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này thì phải bảo đảm

    phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật đã giao

    quy định chi tiết;

    a1) Đánh giá tác động của chính

    sách đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật

    này trong trường hợp quy định cụ thể các chính

    sách đã được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc

    hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh,

    quyết định của Chủ tịch nước; đánh giá tác động

    của chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 2

    Điều 19 của Luật này;”.

    24. Sửa đổi, bổ sung Điều 91 như sau:

    “Điều 91. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định

    Trong quá trình soạn thảo nghị định, cơ quan chủ

    trì soạn thảo phải lấy ý kiến các đối tượng chịu

    sự tác động trực tiếp của văn bản và bộ, cơ quan ngang

    bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định tại các khoản

    1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này; lấy ý kiến Hội

    đồng dân tộc, nếu trong dự thảo nghị định có quy định về

    việc thực hiện chính sách dân tộc.”.

    25. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 92 như sau:

    “2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định;

    b) Dự thảo nghị định;

    c) Báo cáo về rà soát các văn bản

    d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ

    quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự

    tác động trực tiếp của văn bản; bản chụp ý kiến của bộ,

    cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

    đ) Báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 1

    và khoản 2 Điều 19 của Luật này; bản đánh

    giá thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong

    dự thảo có quy định thủ tục hành chính;

    báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng

    bình đẳng giới;

    e) Nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng nghị

    định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này;

    g) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này

    được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được

    gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:

    a) Sự cần thiết ban hành nghị định; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh đối với dự thảo nghị định quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật này;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo nghị định với hệ thống pháp luật; tính

    mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là

    thành viên;

    c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với văn bản được

    quy định chi tiết đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của

    Luật này; sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với

    các chính sách đã được thông qua

    trong đề nghị xây dựng nghị định đối với nghị định quy định tại

    khoản 3 Điều 19 của Luật này;

    d) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân

    thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo nghị

    định, nêu trong dự thảo nghị định có quy định thủ tục

    hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình

    đẳng giới trong dự thảo nghị định, nếu trong dự thảo nghị định

    đ) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính

    để bảo đảm thi hành nghị định;

    e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn

    thảo văn bản.”.

    26. Sửa đổi, bổ sung Điều 93 như sau:

    “Điều 93. Hồ sơ dự thảo nghị định trình

    Chính phủ

    1. Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định.

    2. Dự thảo nghị định.

    3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

    4. Báo cáo về rà soát các văn bản

    5. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ

    quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự

    tác động trực tiếp của nghị định.

    6. Báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách đối với nghị định quy định tại khoản 1

    và khoản 2 Điều 19 của Luật này; bản đánh

    giá thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong

    dự thảo có quy định thủ tục hành chính;

    báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới

    đến vấn đề bình đẳng giới.

    7. Nghị quyết của Chính phủ về đề nghị xây dựng nghị

    định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này.

    8. Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều

    này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu

    còn lại được gửi bằng bản điện tử.”.

    27. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 98 như sau:

    “d) Báo cáo đánh giá tác

    động của chính sách trong dự thảo quyết định; bản

    đánh giá thủ tục hành chính, nếu trong dự

    thảo có quy định thủ tục hành chính; báo

    cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong

    28. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 Điều 102 như sau:

    “d) Báo cáo đánh giá tác

    động của chính sách trong dự thảo thông tư (nếu

    có); bản đánh giá thủ tục hành

    chính trong trường hợp được luật, nghị quyết của Quốc hội giao

    quy định thủ tục hành chính; báo cáo về

    lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có);”.

    29. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 103 như sau:

    “5. Báo cáo đánh giá tác

    động của chính sách trong dự thảo thông tư (nếu

    có); bản đánh giá thủ tục hành

    chính trong trường hợp được luật, nghị quyết của Quốc hội giao

    quy định thủ tục hành chính; báo cáo về

    lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có).”.

    30. Sửa đổi, bổ sung Điều 109 như sau:

    “Điều 109. Xây dựng, ban hành nghị quyết

    liên tịch

    1. Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội

    với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

    và dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ

    Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt

    trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội phân

    công cơ quan chủ trì soạn thảo; dự thảo nghị quyết

    liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban

    trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Chính phủ phân

    công cơ quan chủ trì soạn thảo.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ

    chức soạn thảo dự thảo.

    3. Trong quá trình soạn thảo dự thảo nghị quyết

    liên tịch, cơ quan chủ trì soạn thảo có

    trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ

    chức, cá nhân theo quy định tại các khoản 1, 2

    và 3 Điều 57 của Luật này.

    4. Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội,

    Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ

    quốc Việt Nam phải được Bộ Tư pháp thẩm định trước khi

    trình Chính phủ; Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc

    hội thẩm tra trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Hồ sơ, thời hạn, nội dung thẩm định theo quy định tại các

    khoản 2, 3 và 4 Điều 58 của Luật này. Hồ sơ, thời hạn,

    nội dung thẩm tra theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật này.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm

    nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý

    dự thảo.

    6. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý

    kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban

    hành nghị quyết liên tịch.

    Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban trung

    ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng ký ban hành

    nghị quyết liên tịch.”.

    31. Sửa đổi, bổ sung Điều 110 như sau:

    “Điều 110. Xây dựng, ban hành thông

    tư liên tịch

    1. Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ thỏa thuận, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ

    chức soạn thảo dự thảo.

    3. Dự thảo được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của

    cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất

    là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân

    tham gia ý kiến.

    Dự thảo thông tư liên tịch có sự tham gia của

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội

    đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối

    cao; dự thảo thông tư liên tịch có sự tham gia của

    Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải

    được lấy ý kiến các thành viên Ủy ban kiểm

    sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm

    nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý

    dự thảo.

    5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý

    kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành

    thông tư liên tịch.

    Chánh án Tòa án nhân dân tối

    cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan

    ngang bộ cùng ký ban hành thông tư

    liên tịch.”.

    32. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 111 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

    “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Ban của

    Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ

    quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật

    của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo

    đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu Hội đồng nhân dân,

    có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội

    đồng nhân dân cấp tỉnh.”;

    b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

    “3. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân

    dân cấp tỉnh có nội dung quy định tại khoản 4 Điều 27 của

    Luật này thì trước khi trình Thường trực Hội đồng

    nhân dân phải thực hiện theo quy định từ Điều 112 đến Điều

    116 của Luật này.”.

    33. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 116 như sau:

    “1. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh trình thì Ủy ban

    nhân dân có trách nhiệm xem xét, thảo

    luận tập thể và biểu quyết theo đa số để thông qua

    các chính sách trong từng đề nghị xây dựng

    nghị quyết.

    Hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm

    tài liệu quy định tại Điều 114 của Luật này, báo

    cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết và

    báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.”.

    34. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 117 như sau:

    “2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại

    các khoản 1, 2 và 3 Điều 27 của Luật này bao gồm:

    a) Tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết, trong

    đó phải nêu rõ căn cứ ban hành nghị quyết;

    đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung chính của nghị quyết;

    thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem

    xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho

    việc thi hành nghị quyết;

    b) Tài liệu khác (nếu có).

    3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều

    27 của Luật này bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại Điều 114 của Luật này;

    b) Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết;

    báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;

    c) Quyết định thông qua chính sách trong đề nghị

    xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định

    tại Điều 116 của Luật này.”.

    35. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và bổ sung khoản 1a vào

    sau khoản 1 Điều 119 như sau:

    “1. Tổ chức xây dựng dự thảo nghị quyết. Đối với nghị

    quyết quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này thì phải

    bảo đảm phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật đã

    giao quy định chi tiết; đối với nghị quyết quy định tại khoản 4 Điều

    27 của Luật này thì phải bảo đảm thống nhất với

    các chính sách đã được thông qua.

    1a. Đánh giá tác động của chính

    sách đối với dự thảo nghị quyết quy định tại khoản 2 và

    khoản 3 Điều 27 của Luật này.”.

    36. Sửa đổi, bổ sung Điều 121 như sau:

    “Điều 121. Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh trình

    1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do

    Ủy ban nhân dân cùng cấp trình phải được Sở

    Tư pháp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân.

    Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan

    chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội

    dung của dự thảo nghị quyết; tự mình hoặc cùng cơ quan

    chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc

    nội dung của dự thảo nghị quyết. Cơ quan chủ trì soạn thảo

    có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu

    phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị quyết.

    Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc

    Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định, bao gồm

    các chuyên gia, nhà khoa học.

    Chậm nhất là 25 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo nghị quyết;

    b) Dự thảo nghị quyết;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý

    kiến góp ý; báo cáo đánh giá

    tác động của chính sách đối với nghị quyết quy

    định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật này;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này

    được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được

    gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định bao gồm:

    a) Sự cần thiết ban hành nghị quyết quy định tại khoản 2

    và khoản 3 Điều 27 của Luật này; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh đối với dự thảo nghị quyết;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật;

    c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với văn bản

    đã giao cho Hội đồng nhân dân quy định chi tiết; sự

    phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với các

    chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết

    đã được thông qua theo quy định tại Điều 116 của Luật này;

    d) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý

    kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3

    Điều này và ý kiến về việc dự thảo nghị quyết đủ

    điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ

    trì soạn thảo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,

    hoàn thiện dự thảo nghị quyết, đồng thời gửi báo

    cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản

    đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình

    Ủy ban nhân dân dự thảo nghị quyết.”.

    37. Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 1 Điều 122 như sau:

    “d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến

    góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    báo cáo đánh giá tác động của

    chính sách đối với nghị quyết quy định tại khoản 2

    và khoản 3 Điều 27 của Luật này;”.

    38. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 124 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 2 như sau:

    “d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến

    góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản

    chụp ý kiến góp ý; báo cáo

    đánh giá tác động của chính sách

    đối với nghị quyết quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của

    Luật này;”;

    b) Bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 như sau:

    “2a. Cơ quan thẩm tra không tiến hành thẩm tra dự

    thảo nghị quyết khi chưa đủ các tài liệu trong hồ sơ

    hoặc hồ sơ gửi không đúng thời hạn theo quy định tại

    khoản 2 Điều này.”;

    c) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 như sau:

    “a) Sự cần thiết ban hành nghị quyết quy định tại khoản

    2 và khoản 3 Điều 27 của Luật này; nội dung của dự thảo

    nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến

    khác nhau;”.

    39. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 128 như sau:

    “c) Đánh giá tác động của thủ tục

    hành chính trong trường hợp được luật, nghị quyết của

    Quốc hội giao quy định thủ tục hành chính; đánh

    giá tác động về giới (nếu có);”.

    40. Sửa đổi, bổ sung Điều 130 như sau:

    “Điều 130. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh

    1. Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo

    quyết định trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan

    chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội

    dung của dự thảo quyết định; tự mình hoặc cùng cơ quan

    chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc

    nội dung của dự thảo quyết định. Cơ quan chủ trì soạn thảo

    có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu

    phục vụ cho việc thẩm định dự thảo quyết định.

    Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc

    Sở Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại

    chuyên gia, nhà khoa học.

    Chậm nhất là 25 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo quyết định đến Sở Tư pháp để thẩm định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định;

    b) Dự thảo quyết định;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý

    kiến góp ý;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này

    được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được

    gửi bằng bản điện tử.

    3. Nội dung thẩm định bao gồm:

    a) Sự cần thiết ban hành quyết định quy định tại khoản 2

    và khoản 3 Điều 28 của Luật này; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh của dự thảo quyết định;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo quyết định với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;

    c) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân

    thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo quyết

    định, nếu trong dự thảo quyết định có quy định thủ tục

    hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình

    đẳng giới trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết định

    d) Nguồn lực, điều kiện bảo đảm thi hành quyết định;

    đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý

    kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3

    Điều này và ý kiến về việc dự thảo quyết định đủ

    điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ

    trì soạn thảo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,

    hoàn thiện dự thảo quyết định, đồng thời gửi báo

    cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản

    đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình

    Ủy ban nhân dân dự thảo quyết định.”.

    41. Sửa đổi, bổ sung Điều 131 như sau:

    “Điều 131. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh

    1. Cơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến

    Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là 03

    ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân

    dân họp để chuyển đến các thành viên Ủy ban

    nhân dân.

    2. Hồ sơ dự thảo quyết định bao gồm:

    a) Tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 130 của Luật này;

    b) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.

    Tài liệu quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 130 của Luật

    này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy,

    các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.”.

    42. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 134 như sau:

    “1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm

    thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp

    huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    Chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện đến

    Phòng Tư pháp để thẩm định.”.

    43. Sửa đổi, bổ sung Điều 139 như sau:

    “Điều 139. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban

    nhân dân cấp huyện

    1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định

    dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi trình.

    Chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban

    nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ

    sơ dự thảo quyết định đến Phòng Tư pháp để thẩm định.

    2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:

    a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định;

    b) Dự thảo quyết định;

    c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp

    ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý

    kiến góp ý;

    d) Tài liệu khác (nếu có).

    3. Nội dung thẩm định bao gồm:

    a) Sự cần thiết ban hành quyết định; đối tượng, phạm vi điều

    chỉnh của dự thảo quyết định;

    b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo quyết định với đường lối,

    chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;

    tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống

    nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;

    c) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân

    thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo quyết

    định, nếu trong dự thảo quyết định có quy định thủ tục

    hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình

    đẳng giới trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết định

    d) Nguồn lực, điều kiện bảo đảm thi hành quyết định;

    đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

    4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý

    kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3

    Điều này và ý kiến về việc dự thảo quyết định đủ

    điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.

    Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ

    trì soạn thảo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

    Phòng Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.

    5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải

    trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý,

    hoàn thiện dự thảo quyết định, đồng thời gửi báo

    cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản

    đã được chỉnh lý đến Phòng Tư pháp khi

    trình Ủy ban nhân dân dự thảo quyết định.”.

    44. Sửa đổi, bổ sung Điều 146 như sau:

    “Điều 146. Các trường hợp xây dựng, ban

    hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự,

    thủ tục rút gọn

    1. Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về

    tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong

    phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ;

    trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh

    trong thực tiễn.

    2. Trường hợp cần ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn

    bản quy phạm pháp luật để kịp thời bảo vệ lợi ích của

    Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,

    cá nhân.

    3. Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy

    phạm pháp luật mới được ban hành; trường hợp cần ban

    hành ngay văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện điều

    xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    4. Trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản

    quy phạm pháp luật trái pháp luật hoặc

    không còn phù hợp với tình hình

    phát triển kinh tế – xã hội.

    5. Trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng

    toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật

    trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp

    bách phát sinh trong thực tiễn.”.

    45. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 và bổ sung khoản 3a vào

    sau khoản 3 Điều 147 như sau:

    “3. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng

    trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban

    hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng

    Chính phủ; quyết định việc áp dụng trình tự, thủ

    tục rút gọn đối với thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ

    quan ngang bộ ban hành trong trường hợp cấp bách để giải

    quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn quy định tại khoản

    1 Điều 146 của Luật này.

    Văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng

    trình tự, thủ tục rút gọn đối với thông tư của Bộ

    trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định tại khoản này phải

    kèm theo ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

    3a. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện

    kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán

    nhà nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ

    tục rút gọn đối với văn bản quy phạm pháp luật do

    mình ban hành trong trường hợp quy định tại khoản 2

    và khoản 4 Điều 146 của Luật này.”.

    46. Sửa đổi, bổ sung Điều 148 như sau:

    “Điều 148. Trình tự, thủ tục xây dựng văn

    bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục

    rút gọn

    Việc xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,

    nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ

    tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng

    Chính phủ, thông tư của Chánh án Tòa

    án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng

    Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, quyết định của Tổng Kiểm

    toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân

    dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp

    tỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:

    1. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo;

    2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy

    ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản,

    thảo văn bản. Trong trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản

    thì thời hạn lấy ý kiến không quá 20 ngày;

    3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự

    án, dự thảo, cơ quan thẩm định có trách nhiệm

    thẩm định, cơ quan chủ trì thẩm tra có trách

    nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản.

    Hồ sơ gửi thẩm định gồm tờ trình, dự thảo văn bản, bản tổng

    hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của

    cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp lấy ý kiến.

    Hồ sơ gửi thẩm tra gồm tờ trình, dự thảo văn bản, bản tổng

    hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của

    cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp lấy ý

    kiến, báo cáo thẩm định và báo cáo

    giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.”.

    47. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 149 như sau:

    a) Sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 1 như sau:

    “b) Hồ sơ trình dự thảo lệnh, dự thảo quyết định của Chủ

    tịch nước, dự thảo thông tư của Chánh án

    Tòa án nhân dân tối cao, dự thảo thông

    tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,

    dự thảo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước bao gồm

    tờ trình, dự thảo;

    e) Hồ sơ trình dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo

    quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo thông tư của

    Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, dự thảo quyết định của Ủy ban

    nhân dân cấp tỉnh bao gồm tờ trình, dự thảo,

    báo cáo thẩm định.”;

    b) Bổ sung điểm đ1 vào sau điểm đ khoản 2 như sau:

    “đ1) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh

    án Tòa án nhân dân tối cao, Viện

    trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm

    toán nhà nước xem xét, ký ban hành

    văn bản quy phạm pháp luật ngay sau khi nhận được dự thảo văn

    bản theo trình tự quy định tại các điều 104, 106, 107

    và 108 của Luật này;”.

    48. Sửa đổi, bổ sung Điều 151 như sau:

    “Điều 151. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy

    phạm pháp luật

    1. Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn

    bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó

    nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông

    qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm

    pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương; không

    sớm hơn 10 ngày kể từ ngày thông qua hoặc

    ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật

    của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp

    tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày thông

    qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm

    pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân

    dân cấp huyện và cấp xã.

    2. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo

    trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể

    có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký

    ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên cổng

    thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải

    được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng;

    đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ

    nghĩa Việt Nam chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày

    công bố hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm

    pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương; đăng

    Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

    chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày thông qua

    hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp

    luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân

    cấp tỉnh.”.

    49. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 153 như sau:

    “1. Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực

    toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử

    lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong

    các trường hợp sau đây:

    a) Bị đình chỉ việc thi hành theo quy định tại khoản 3

    Điều 164, khoản 2 Điều 165, khoản 2 và khoản 3 Điều 166, khoản

    2 và khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 170 của Luật này.

    Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định

    bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực; nếu không ra

    quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;

    b) Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm

    pháp luật quyết định ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một

    phần của văn bản đó để kịp thời bảo vệ lợi ích của

    Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,

    cá nhân.”.

    50. Sửa đổi, bổ sung Điều 157 như sau:

    “Điều 157. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm

    pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng tải toàn văn

    trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất

    là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc

    ký ban hành đối với văn bản của cơ quan nhà nước

    ở trung ương; chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày

    thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản của Hội

    đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và đưa

    tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn

    bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy

    định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

    Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên Cơ sở dữ liệu

    quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng

    chính thức.”.

    51. Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 172 như sau:

    “4. Những quy định về thủ tục hành chính trong

    văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, người

    có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này

    được ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2022

    thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ

    bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành

    chính mới. Trường hợp sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm

    pháp luật có quy định thủ tục hành chính

    được ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2022

    thì không được làm phát sinh thủ tục

    hành chính mới hoặc quy định thêm thành

    phần hồ sơ, yêu cầu, điều kiện, tăng thời gian giải quyết thủ

    tục hành chính đang áp dụng.”.

    52. Bổ sung từ, cụm từ tại một số điều sau đây:

    a) Bổ sung từ “Thường trực” vào trước cụm từ

    “Ủy ban pháp luật” tại khoản 3 Điều 48, điểm c

    khoản 1 Điều 49 và khoản 2 Điều 50;

    b) Bổ sung cụm từ “; báo cáo giải trình,

    tiếp thu ý kiến thẩm định” vào sau cụm từ

    “Báo cáo thẩm định” tại điểm b khoản 2 Điều 140.

    53. Thay thế, bỏ từ, cụm từ tại một số điều sau đây:

    a) Thay thế từ “tiêu đề” bằng từ

    “tên” tại khoản 3 Điều 8;

    b) Thay thế từ “Đề cương” bằng cụm từ “Dự kiến đề

    cương chi tiết” tại điểm đ khoản 1 Điều 37 và khoản 5

    Điều 114;

    c) Thay thế cụm từ “Báo cáo đánh

    giá tác động của văn bản” bằng cụm từ

    “Báo cáo đánh giá tác động

    của chính sách” tại điểm c khoản 2 Điều 95;

    d) Thay thế cụm từ “Báo cáo tổng hợp, giải

    trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá

    nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của

    văn bản” bằng cụm từ “Bản tổng hợp, giải trình,

    tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân

    và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn

    bản” tại điểm c khoản 2 Điều 98; thay thế cụm từ “khoản 1

    Điều này” bằng cụm từ “khoản 3 Điều

    này” tại khoản 5 Điều 98;

    đ) Thay thế cụm từ “đối tượng chịu sự tác động trực tiếp

    của dự thảo nghị quyết” bằng cụm từ “đối tượng chịu sự

    tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị

    xây dựng nghị quyết” tại khoản 2 Điều 113;

    e) Thay thế cụm từ “Nội dung đánh giá tác

    động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng

    nghị quyết” bằng cụm từ “Báo cáo đánh

    giá tác động của chính sách trong đề nghị

    xây dựng nghị quyết” tại khoản 2 Điều 114;

    g) Bỏ cụm từ “Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc

    hội,” tại khoản 3 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 56 và

    khoản 4 Điều 57;

    h) Bỏ cụm từ “, cơ quan tham gia thẩm tra” tại điểm a

    khoản 1 Điều 50;

    i) Bỏ cụm từ “dự thảo nghị quyết” tại khoản 5 Điều 115.

    Điều 2. Hiệu lực thi hành

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01

    tháng 01 năm 2022.

    Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội

    chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua

    ngày 18 tháng 6 năm 2022./.

    Admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chế Tài Đối Với Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Không Hợp Pháp Của Chính Quyền Địa Phương
  • Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 3 Bch Tổng Lđlđvn (Khoá Xii)
  • Biểu Mẫu Về Hình Sự (Ban Hành Kèm Theo Nghị Quyết Số 05/2017/nq
  • Việc Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Và Ủy Ban Nhân Dân
  • Portal Sở Và Truyền Thông Quảng Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100