Các Loại Bảo Hiểm Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

--- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm
  • Các Loại Hợp Đồng Bảo Hiểm
  • Nguyên Lý Bảo Hiểm Và Phân Loại Bảo Hiểm
  • Các loại bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm. Bạn được lựa chọn những gói bảo hiểm nào khi mua bảo hiểm dịch vụ?

    Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, trong đời sống hàng ngày luôn phát sinh những rủi ro đối với con người ở trên nhiều phương diện như sức khỏe, tài sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh,…Khi xảy ra những rủi ro này, mỗi người đều phải đối mặt với nguy cơ khó khăn đặc biệt là về vấn đề tài chính để giải quyết những về đó, điều này phát sinh nhu cầu chia sẻ rủi ro để giảm bớt gánh nặng trở nên cấp thiết hơn.

    Nắm bắt được điều này, kinh doanh bảo hiểm xuất hiện cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân cũng như tổ chức mua bảo hiểm đảm bảo sự an toàn và ổn định về mặt tài chính khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm. Để đảm bảo hành lang pháp lý điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này, Luật kinh doanh bảo hiểm đã ra đời. Vậy, hiện nay pháp luật quy định có những loại bảo hiểm nào? Luật Dương Gia sẽ cùng quý bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này.

    1. Khái niệm về kinh doanh bảo hiểm

    Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, có thể hiểu một cách khái quát nhất về kinh doanh bảo hiểm chính là việc các doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực này nhằm mục đích lợi nhuận. Bản chất của hoạt động kinh doanh này chính là việc thông qua các loại hình bảo hiểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, người có nhu cầu sẽ mua bảo hiểm mà mình cần và đóng phí cho doanh nghiệp, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro từ người mua và thực hiện việc trả tiền bảo hiểm cho người được bồi thường hoặc người thụ hưởng khi sự kiện bảo hiểm phát sinh.

    Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cần hiểu rõ một số khái niệm sau đây:

    Thứ nhất, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là những doanh nghiệp có lĩnh vực hoạt động là bảo hiểm, các doanh nghiệp này phải được thành lập và có cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động tuân theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.

    Thứ hai, trong kinh doanh bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu mua bảo hiểm sẽ thực hiện việc giao kết hợp đồng và có nghĩa vụ đóng phí với doanh nghiệp bảo hiểm, gọi chung là bên mua bảo hiểm. Người được bảo hiểm là người có tài sản, trách nhiệm dân sự hay tính mạng được bảo hiểm. Người thụ hưởng là người được chỉ định nhận tiền bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm về con người.

    Bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính mình hoặc mua cho người khác và mình đóng vai trò là người thụ hưởng.

    Thứ ba, sự kiện bảo hiểm là cơ sở để phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp trong hợp đồng bảo hiểm chính là những sự kiện khách quan đã được các bên thỏa thuận hoặc được pháp luật quy định.

    Thứ tư, để tham gia bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải đóng một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm theo phương thức và lộ trình mà các bên đã thỏa thuận, đây gọi là phí bảo hiểm.

    Theo quy định tại Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010) và Hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP, hiện nay có các loại bảo hiểm được phân loại như sau:

    – Bảo hiểm trọn đời: Đây là hình thức bảo hiểm được người mua bảo hiểm lựa chọn cho trường hợp người được bảo hiểm phát sinh sự kiện chết trong suốt cuộc đời của họ.

    – Bảo hiểm sinh kỳ: Ngược lại với bảo hiểm tử kỳ, đây là loại bảo hiểm sử dụng trong trường hợp người mua bảo hiểm ký hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm về sự kiện người được bảo hiểm sống đến thời hạn được thỏa thuận. Cụ thể khi người được bảo hiểm có thể sống đến thời hạn được thỏa thuận giữa người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì người thụ hưởng sẽ được thanh toán bảo hiểm.

    – Bảo hiểm tử kỳ: Đây là loại hình bảo hiểm có sự kiện bảo hiểm chính là người được bảo hiểm chết trong thời hạn được người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm

    – Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ

    – Bảo hiểm trả tiền định kỳ: Là hình thức bảo hiểm khi người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định theo thỏa thuận của người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì người thụ hưởng sẽ được trả tiền bảo hiểm dịnh kỳ.

    – Bảo hiểm hưu trí: Đây được coi là loại hình bảo hiểm được sử dụng khi người mua bảo hiểm có nhu cầu muốn bảo đảm về vấn đề an sinh cho người được mua bảo hiểm thông qua hình thức người được bảo hiểm sẽ được trả tiền bảo hiểm sau khi họ đạt độ tuổi xác định.

    Thứ hai, bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm nằm ngoài phạm vi của bảo hiểm nhân thọ như bảo hiểm về tài sản, trách nhiệm dân sự,…và các loại hình khác. Cụ thể như:

    – Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại

    – Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không

    – Bảo hiểm hàng không

    – Bảo hiểm xe cơ giới

    – Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu

    – Bảo hiểm trách nhiệm

    – Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính

    – Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh

    – Bảo hiểm nông nghiệp: Đây là hình thức bảo hiểm được áp dụng cho đối tượng là những người sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm trong lĩnh vực này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện việc trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận.

    – Nghiệp vụ bảo hiểm bảo lãnh: Đây được coi là hình thức bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chấp nhận những rủi ro của bên được bảo lãnh. Theo đó, bên được bảo lãnh sẽ trả một khoản phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ thay cho họ khi đến hạn thực hiện mà bên được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Ngược lại, bên được bảo lãnh phải nhận nợ và thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm theo như thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng.

    Ngoài cách phân loại bảo hiểm theo lĩnh vực như ở trên, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 còn quy định về những loại hình bảo hiểm mang tính chất bắt buộc tại Điều 8 như sau:

    Thứ nhất, đặc thù của bảo hiểm bắt buộc chính là việc xác định về điều kiện bảo hiểm, mức phí cũng như số tiền bảo hiểm tối thiểu sẽ không do các bên thỏa thuận mà do pháp luật quy định.

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách

    – Bảo hiểm cháy, nổ.

    Đối với bảo hiểm bắt buộc việc thực hiện phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

    – Các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung được kinh doanh về bảo hiểm bắt buộc phải đảm bảo việc bán bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm đã đáp ứng được điều kiện mua theo quy định, không được phép từ chối.

    – Những cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc phải có nghĩa vụ tham gia. Việc cố ý không tham gia theo quy định sẽ có chế tài xử lý

    Chào luật sư! Tôi đang có một vấn đề cần luật sư giải đáp như sau:

    Tôi có phương tiện là xe máy, trong quá trình tham gia giao thông khi được kiểm tra hành chính, tôi có bị đồng chí cảnh sát giao thông xử phạt về lỗi không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Cảnh sát giao thông có giải thích cho tôi đây là loại giấy tờ bắt buộc phải có? Và tôi phải tham gia bảo hiểm này bằng cách nào? Vậy luật sư cho tôi được biết như vậy có đúng hay không?

    Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

    – Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010)

    – Nghị định 73/2016/NĐ-CP

    – Thông tư 22/2016/TT-BTC

    Thứ nhất, căn cứ theo Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010) có quy định về bảo hiểm bắt buộc như sau:

    1. Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.

    Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

    2. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

    a) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

    b) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

    c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

    3. Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ, Chính phủ trình ủy ban thường vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác”.

    Như vậy, căn cứ theo quy định này trường hợp của bạn là chủ của phương tiện nằm trong đối tượng phải tham gia bảo hiểm bắt buộc.

    Thứ hai, Thông tư 22/2016/TT-BTC để tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới bạn có thể liên hệ đến doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm hoặc môi giới để tham gia:

    4. Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới các hình thức sau:

    b) Thông qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm.

    c) Các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    Doanh nghiệp bảo hiểm không được sử dụng đại lý bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm khác trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm đó chấp thuận bằng văn bản và doanh nghiệp bảo hiểm phải đào tạo và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm theo đúng quy định”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Một Số Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Những Điểm Mới Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Bảo Hiểm
  • Một Số Câu Nhận Định Và Bài Tập Chứng Khoán Và Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Thông Qua Luật Sửa Đổi Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)
  • Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm
  • Các Loại Hợp Đồng Bảo Hiểm
  • Nguyên Lý Bảo Hiểm Và Phân Loại Bảo Hiểm
  • Chuyển Giao Hợp Đồng Bảo Hiểm Theo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • 69126

    Câu hỏi nhận định đúng sai môn chủ thể kinh doanh

    Câu 1. Mọi chủ thể kinh doanh đều là doanh nghiệp

    a) Hộ kinh doanh, hợp tác xã đăng kí tại Phòng tài chính kế hoạch trực thuộc UBND cấp huyện. Phòng đăng kí kinh doanh tại UBND cấp tỉnh.

    b) Doanh nghiệp: 4 loại: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần & công ty hợp danh. Chú ý: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp xã hội, cũng gọi là doanh nghiệp nhưng không phải là một loại hình doanh nghiệp.

    – Doanh nghiệp xã hội: khoản 1, Điều 10 Luật Doanh nghiệp: Doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng; sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng kí.)

    Câu 2. Không được đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng kí trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

    1) Tên Doanh nghiệp thuộc điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp. Tên thương mại thuộc điề chỉnh của Luật sở hữu trí tuệ

    2) Tên doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp cũ được bảo hộ trên phạm vi tỉnh, còn theo luật mới, trên phạm vi cả nước. Việc bảo hộ tên không phụ thuộc vào ngành nghề lĩnh vực kinh doanh.

    Do bởi doanh nghiệp được quyền mở chi nhánh trên phạm vi toàn quốc, nên tên doanh nghiệp được bảo hộ trên phạm vi toàn quốc. Chi nhánh đi tới đâu, tên doanh nghiệp sẽ được mở rộng ra tới đó. Quy định mang tính chất dự liệu. Mặc dù có công ty chưa lập chi nhánh ở địa bàn tỉnh khác, nhưng cũng được bảo hộ tên trên toàn quốc.

    Cơ sở pháp lý: Khoản 2, Điều 41.

    V/d: công ty cổ phần Hoa Hồng – Chi nhánh Bình Dương.

    3) Đối với hộ kinh doanh, tên hộ kinh doanh được bảo hộ trên phạm vi cấp huyện. Lí do: hộ kinh doanh chỉ được kinh doanh tại 1 địa điểm, không được kinh doanh tại địa điểm khác.

    4) V/d: những tên sau có được chấp nhận không?

    a) Công ty HOA HỒNG: không, tên doanh nghiệp = loại hình + tên riêng, tên này thiếu loại hình doanh nghiệp.

    b) Đã có công ty TNHH HOA HỒNG, giờ có công ty muốn đặt tên là công ty TNHH TÂN HOA HỒNG, công ty TNHH HOA HỒNG MỚI, công ty TNHH MỚI HOA HỒNG, công ty TNHH HOA HỒNG TÂN, công ty cổ phần HOA HỒNG có được không?

    Công ty TNHH TÂN HOA HÔNG, công ty TNHH HOA HỒNG MỚI, công ty TNHH MỚI HOA HỒNG, công ty cổ phần HOA HỒNG thì không được (Đọc Điều 42 Luật Doanh nghiệp và Điều 17, Nghị định 78/2015/NĐ-CP). Công ty TNHH HOA HỒNG TÂN thì được.

    Câu 3. Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt sang một trong những tiếng nước ngoài tương ứng.

    Nhận định trên là Sai. Khoản 1, Điều 40: Tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài là tên được dịch từ tên tiếng Việt sang một trong những tiếng nước ngoài hệ chữ La-tinh.

    Hiện nay có tên bằng tiếng Việt dịch sang tiếng Nga, Trung quốc, Nhật, Hàn Quốc, Ả rập, Lào, Campuchia… không được. Đây là một quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014, giúp chuẩn hóa tên doanh nghiệp bằng tiếng nước ngoài.

    Câu 4. Chi nhánh và văn phòng đại diện đều có chức năng thực hiện hoạt động kinh doanh sinh lợi trực tiếp

    Nhận định trên là Sai. Căn cứ khoản 7, Điều 4, Luật Doanh nghiệp, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

    Căn cứ khoản 1, điều 45, Luật Doanh nghiệp: Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Do doanh nghiệp có chức năng thực hiện hoạt động kinh doanh sinh lợi trực tiếp, nên chi nhánh cũng có chức năng hoạt động kinh doanh sinh lợi trực tiếp.

    Căn cứ khoản 2, Điều 45, Luật doanh nghiệp, Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó.

    Như vậy, văn phòng đại diện chỉ có chức năng đại diện theo ủy quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó chứ không có chức năng hoạt động kinh doanh sinh lợi trực tiếp. Một số hoạt động của VPĐD ví dụ như: nghiên cứu thị trường, thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại trong giới hạn như là triển lãm, hội chợ, hay đại diện doanh nghiệp kí kết hợp đồng lao động với nhân viên, đại diện trong hành chính, tố tụng …

    Câu 5. Mọi doanh nghiệp đều có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật

    Căn cứ khoản 2, Điều 13, Luật Doanh nghiệp, thì: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

    Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 176, thì các thành viên hợp danh là đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh.

    Căn cứ khoản 4, Điều 185, Luật Doanh nghiệp, thì Chủ doanh nghiệp tư nhận là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

    Căn cứ khoản 1, Điều 183, Luật Doanh nghiệp, thì Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

    Như vậy, đối với doanh nghiệp tư nhân, chỉ có duy nhất một cá nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, còn các loại hình doanh nghiệp khác, bao gồm: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, thì có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

    (Mở rộng kiến thức: Quy định về đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là một quy định thay đổi của Luật Doanh nghiệp 2014. Cơ sở lí luận: tình trạng quá tải khi chỉ có 1 đại diện theo pháp luật, đồng thời là vấn đề về độc quyền trong đại diện. Để phân tán quyền lực, chuyên môn hóa, do vậy, công ty có quyền quy định nhiều người đại diện theo pháp luật cho công ty. V/d: ông A đại diện về lao động; Ông B đại diện về kinh doanh. Theo khoản 3, Điều 29, Tất cả người đại diện theo pháp luật đều được ghi trên Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp chỉ ghi tên người đại diện, muốn biết được thẩm quyền của người đó, thì cần phải đọc trong Điều lệ công ty.)

    Câu 6. Doanh nghiệp chỉ được kinh doanh trong các ngành nghề, đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh

    Để tạo điều kiện doanh nghiệp, tiếp cận cơ hội kinh doanh kịp thời, nhanh nhất, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định tại khoản 1, Điều 7, Doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm.

    Đồng thời, theo Điều 29, trong nội dung của Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp không còn quy định về việc ghi ngành nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.

    Tuy nhiên, tự do nào cũng có những giới hạn của nó.

    1) Doanh nghiệp không được kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật cấm (khoản 6, Điều 17, Luật Doanh nghiệp). Hiện tại, theo Luật đầu tư 2014, chỉ cấm kinh doanh 6 ngành nghề:

    a) Kinh doanh chất ma túy

    b) Khoáng vật

    c) Thực vật động vật hoang dã

    d) Kinh doanh mại dâm

    e) Mua bán người, mô, bộ phận cơ thể người

    2) Khi kinh doanh ngành nghề có điều kiện, doanh nghiệp phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh

    Theo khoản 6, Điều 17, Doanh nghiệp bị cấm kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động.

    Những ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4, Luật đầu tư (267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện), Điều kiện kinh doanh có điều kiện cụ thể thì trong luật chuyên ngành.

    3) Doanh nghiệp phải thông báo với cơ quan đăng kí kinh doanh khi thay đổi về ngành nghề kinh doanh (điểm a, khoản 1, Điều 32). Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có thay đổi.

    Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề mới trong ngành, nghề không bị cấm hoặc không phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thì doanh nghiệp được quyền tiến hành hoạt động kinh doanh trước, rồi sau đó thông báo sau. Việc thông báo chỉ để nhằm đảm bảo quản lý nhà nước. Nếu vi phạm nghĩa vụ thông báo, thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, chứ hợp đồng đã kí kết không bị vô hiệu.

    Câu 7. Mọi doanh nghiệp phải có giấy phép kinh doanh khi tiến hành hoạt động kinh doanh

    Câu 8. Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

    Cơ sở pháp lý: Khoản 5, Điều 21; Điểm c, khoản 4, Điều 22; Điểm c, khoản 4, Điều 23, quy định Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật đầu tư là một giấy tờ bắt buộc trong bộ Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài.

    Câu 9. Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp là giấy phép kinh doanh

    Giấy phép kinh doanh chỉ áp dụng đối với 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

    (Mở rộng kiến thức: Căn cứ Điều 74, Nghị định 78/2015/NĐ-CP, thì đối với hộ kinh doanh, trên giấy chứng nhận đăng kí hộ kinh doanh có ghi nhận thông tin về ngành, nghề kinh doanh. Còn đối với doanh nghiệp, căn cứ Điều 29, Luật Doanh nghiệp, thì trên Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp không ghi thông tin về ngành, nghề kinh doanh.

    Khoản 2, Điều 66, Nghị định 78: Đối với Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hành rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng kí, trừ trường hợp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện).

    Câu 10. Khi đăng kí thành lập doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp phải ghi ngành, nghề kinh doanh trong Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp

    Câu 11. Khi thay đổi ngành, nghề kinh doanh phải đăng ký thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp?

    Theo khoản 1, Điều 31, Luật Doanh nghiệp, khi thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp thì doanh nghiệp làm thủ tục đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh.

    Câu 12. Mọi thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp phải được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới

    Câu 13. Mọi tài sản khi góp vốn vào doanh nghiệp đều phải được định giá

    Như vậy, đối với tài sản góp vốn là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì không phải định giá.

    Câu 14. Các thành viên, cổ đông sáng lập định giá tài sản góp vốn theo nguyên tắc đa số.

    Câu 15. Mọi doanh nghiệp đều phải có vốn điều lệ

    Hồ sơ đăng kí thành lập doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân theo Điều 20 không có quy định về Điều lệ. Trong khi đó Hồ sơ đăng kí thành lập doanh nghiệp của công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty cổ phần phải có Điều lệ công ty (khoản 2, Điều 21; khoản 2, Điều 22; Khoản 2, Điều 23).

    Câu 16. Mọi doanh nghiệp đều phải có vốn pháp định?

    Ngày xưa theo luật cũ, khi kinh doanh ngành nghề có điều kiện, trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp, Phải có giấy xác nhận về việc đủ số vốn pháp định. Tuy nhiên, Luật mới bỏ quy định này. Cơ chế hậu kiểm. Trường hợp không thỏa mãn, thì bị xử phạt hành chính.

    Câu 17. Mọi chủ thể kinh doanh đều là pháp nhân

    Câu 18. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về trình tự, thủ tục thành lập đối với mọi doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam

    Hiện tại có 3 loại thủ tục thành lập doanh nghiệp:

    1) Loại 1: Chỉ cần có Quyết định thành lập là đủ điều kiện hoạt động: v/d: công ty bảo hiểm.

    2) Loại 2: Cần có Quyết định thành lập + Đăng kí doanh nghiệp: v.d ngân hàng thương mại. Sau khi có quyết định thành lập thì phải đăng kí doanh nghiệp.

    3) Loại 3: Chỉ cần Đăng kí doanh nghiệp là đủ điều kiện hoạt động.

    Câu 19. Đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp thì đương nhiên bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp

    (Mở rộng: Điểm e, khoản 2, Điều 18, hiện còn nhiều tranh cãi, do còn vi phạm quyền con người).

    Câu 20. Đối tượng bị cấm thành lập doanh nghiệp thì đương nhiên bị cấm quản lý doanh nghiệp

    Câu 21. Cán bộ, công chức, viên chức bị cấm thành lập, quản lý, góp vốn vào doanh nghiệp

    Đối với việc thành lập, quản lý thì cấm tuyệt đối. Còn đối với việc góp vốn thành lập doanh nghiệp, Góp vốn là cấm có điều kiện:

    – Điều kiện cần: người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu cơ quan tổ chức nhà nước.

    – Điều kiện đủ: chỉ cấm góp vốn vào doanh nghiệp thuộc lĩnh vực quản lý của cơ quan tổ chức nhà nước

    V/d: thống đốc ngân hàng không góp vốn vào ngân hàng, nhưng góp vốn xây dựng được

    V/d: nhân viên bình thường trong ngân hàng nhà nước được quyền góp vốn vào ngân hàng.

    Câu 22. Người không thuộc trường hợp bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp có quyền góp vốn không hạn chế vào mọi doanh nghiệp.

    – Một cổ đông là cá nhân không được góp quá 5%. Để tránh tình trạng 1 người thống trị một ngân hàng.

    – 1 cổ đông là tổ chức, mỗi cổ đông không góp quá 15%.

    – Đ/v các nhà đầu tư nước ngoài, tổng hợp không được góp quá 30% của ngân hàng thương mại. Hay các quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài không được vượt quá 49% vốn điều lệ của công ty niêm yết trên TTCK, nếu công ty đó kinh doanh trong ngành nghề có điều kiện. Để quản lý vấn đề sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, Mọi giao dịch góp vốn mua cổ phần của Nhà đầu tư nước ngoài đều phải giao dịch qua tài khoản mở tại NHTM. Ngân hàng TM báo cáo Ngân hàng nhà nước.

    Câu 23. Mọi chủ thể kinh doanh đều có con dấu

    Câu 24. Doanh nghiệp có quyền có nhiều hơn một con dấu

    Số lượng: 1,2,3, 4… (một hoặc nhiều) chứ không được hiểu là có hoặc không

    Chú ý: Theo Điều 12, Nghị định 96, Mỗi doanh nghiệp có một mẫu con dấu thống nhất về nội dung, hình thức và kích thước. Điều 34, Nghị định 78, Doanh nghiệp có thể có nhiều con dấu với hình thức và nội dung như nhau. Như vậy, về số lượng thì có nhiều, tuy nhiên, mẫu con dấu thì chỉ có 1.

    Câu 25. Công ty mẹ, công ty con là những pháp nhân độc lập

    ( V/d: công ty A thành lập công ty B, công ty B thành lập công ty C. Theo quy định tại khoản 1, Điều 189, thì công ty A là công ty mẹ của

    Công ty B (trực tiếp), cũng là công ty mẹ của công ty C (gián tiếp). 1 công ty con thì chỉ có 1 công ty mẹ trực tiếp. 1 công ty mẹ có nhiều công ty con trực tiếp. V/d: ACB sở hữu 8 công ty con. công ty mẹ là thành viên cổ đông đa số của công ty con. Các khái niệm tập đàn kinh tế, tổng công ty chỉ có ý nghĩa về mặt marketing, còn khi giao dịch với tập đoàn thì phải giao dịch trực tiếp với công ty mẹ hoặc công ty con trong tập đoàn đó).

    Câu 26. Công ty con không được đầu tư góp vón, mua cổ phần của công ty mẹ

    (Trước đây, luật chưa có quy định điều này. Dẫn đến tình trạng, có nhiều công ty lập ra rất nhiều công ty con, sau đó dùng vốn của công ty con đầu tư ngược lại vào công ty mẹ. Gây nên tình trạng vốn ảo, ngộ nhận về năng lực tài chính).

    Câu 27. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau

    Công ty A có 3 công ty con: A, A1, A2 và A3 là 3 công ty anh em

    A1 góp vốn vào A2: 1 chiều. Nếu A2 góp vốn trở lại vào A1 (chiều thứ 2 phát sinh) thì chiều thứ nhất cũng không có giá trị.

    Tuy nhiên, tình huống gây tranh cãi, A1 góp vào A2, A2 góp vào A3, A3 góp vào A1: Sở hữu chéo gián tiếp thì luật lại không điều chỉnh.

    Khoản 2, Điều 16, Nghị định 96: Sở hữu chéo là việc đồng thời hai doanh nghiệp có sở hữu phần vốn góp, cổ phần của nhau.

    Câu 28. Mọi công ty cổ phần đều bắt buộc phải có cổ đông sáng lập

    Thế nào là cổ dông sáng lập: khoản 2 Điều 4, Cổ đông sáng lập là cổ đông sở hữu ít nhất một cổ phần phổ thông và kí tên trong danh sách cổ đông sáng lập nằm trong bộ hồ sơ doanh nghiệp

    Câu 29. Việc đăng ký thay đổi cổ đông sáng lập công ty cổ phần trong Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp, chỉ thực hiện trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp

    Điều 51, Nghị định 78, Thông báo thay đổi thông tin của cổ đông sáng lập công ty cổ phần.

    Câu 30. Công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có Ban Kiểm soát

    Câu 31. Cuộc họp chỉ có số thành viên đại diện cho 1% vốn điều lệ…. thì không hợp lệ?

    Câu 32. Cuộc họp Hội đồng thành viên,… có thể hợp lệ ngay cả khi chỉ có 1 người đi họp.

    Bài tập tình huống môn chủ thể kinh doanh

    1. Tình huống 1:

    Có 3 người cùng nhau mở công ty TNHH X, ông A góp bằng 1 căn nhà (giá thị trường: 700 triệu, các bên định giá 1, 5 tỷ), ông B (có 1 giấy nhận nợ 1,5 tỷ, định giá khoảng 1,2 tỷ), ông C góp bằng tiền mặt, cam kết góp 1, 5 tỷ, góp trước 100 triệu, phần còn lại khi nào có đưa tiếp. Câu hỏi:

    1) Việc góp vốn bằng giấy nhận nợ có phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp hay không. Giả sử khi đến hạn, công ty Y bị phá sản, chỉ trả được 600 triệu, hỏi ông B có phải góp thêm vào công ty không, tại sao?

    2) Nhận xét như thế nào về việc định giá căn nhà như trong tình huống

    GIẢI:

    3) Theo anh, chị, thời điểm xác lập tư cách thành viên được tính từ khi nào

    1) Khoản 1, Điều 35, Tài sản góp vốn: “….. các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam” Căn cứ BLDS, (Điều 163), Tài sản theo Bộ luật dân sự: Vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản.

    Giấy nhận nợ là bằng chứng ghi nhận một quyền đòi nợ, là quyền tài sản.

    Góp được. Công ty Y vay 1,5 tỷ, trả có 600 triệu.

    Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Hành vi góp vốn của ông B là góp vốn quyền tài sản (quyền đòi nợ). Trong trường hợp này, khi ông B đã góp vốn vào Công ty, đã chuyển giao quyền tài sản sang cho Công ty, thì việc công ty khai thác quyền tài sản đó như thế nào là việc của công ty, nếu có lỗ thì đó là rủi ro của công ty. Ông B đã hoàn thành nghĩa vụ góp vốn, nên không phải đóng tiền bù.

    Vốn? nhìn từ góc độ luật, là để trả nợ và bảo đảm quyền lợi cho người thứ ba. Khả năng trả nợ của ông như thế nào thì phải kê khai chính xác như thế.

    Công ty X thành lập năm 2011. Giả định rằng công ty Z là chủ nợ của công ty X, kiện đòi công ty X trả nợ vào năm 2022. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động tài chính từ năm 2011 đến 2022, làm thế nào để chứng minh được dòng tiền bị thiếu hụt là do thời điểm góp vốn ban đầu hay vì lí do gì khác thì là rất khó.

    Như vậy, về mặt lí thuyết, Điều 37 là quy định tốt, tuy nhiên, thực tiễn chưa áp dụng được.

    3) Thời điểm xác lập tư cách thành viên được tính từ khi:

    – Kể từ khi cam kết

    – Kể từ khi góp 1 phần cam kết

    – Kể từ khi hoàn thành nghĩa vụ theo cam kết

    – Kể từ khi công ty được cấp giấy chứng nhận, họ được xác lập tư cách thành viên. Thành viên có 90 ngày để hoàn thành việc góp vốn (Luật cũ (thời hạn góp vốn 3 năm)). Việc rút gọn thời hạn này, tránh tình trạng nợ vốn, trục lợi.Tới thời điểm kết thúc 90 ngày

    – TH1: Góp đầy đủ: quyền và nghĩa vụ đầy đủ

    – TH2: Góp một phần: tư cách tương ứng, phần cam kết ” mất tư cách phần đó

    – TH3: không góp đồng nào: mất tư cách thành viên

    2. Tình huống 2: Công ty TNHH Lửa Việt

    GIẢI:

    Vương, Hùng và Thu cùng góp vốn thành lập Công ty TNHH Lửa Việt chuyên sản xuất, kinh doanh ga và các loại khí đốt với số vốn điều lệ là 5 tỷ đồng. Trong thỏa thuận góp vốn do tất cả các thành viên cùng ký, Vương góp 1 tỷ đồng bằng tiền mặt (chiếm 20% vốn điều lệ), Hùng góp 3 tỷ đồng (chiếm 60% vốn điều lệ), trong đó gồm một tỷ đồng tiền mặt và nhà xưởng, mặt bằng kinh doanh và một số thiết bị được định giá là 2 tỷ đồng. Thu góp một tỷ đồng bằng tiền mặt (chiếm 20% vốn điều lệ). Theo điều lệ của Công ty thì Vương là Giám đốc, Hùng là Chủ tịch hội đồng thành viên và cũng là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Sau khi Công ty được cấp giấy chứng nhận ĐKKD, Hùng đã chuyển nhượng một phần vốn góp của mình cho Liên với giá là 1 tỷ đồng. Hai bên làm giấy chuyển nhượng phần vốn góp có công chứng xác nhận việc chuyển nhượng. Vì cho rằng mình là Chủ tịch, đại diện cho Công ty, lại là người góp nhiều vốn nhất, do vậy Hùng đã không thông báo việc chuyển nhượng vốn góp cho Liên để Vương và Thu được biết. Sau một thời gian hoạt động, giữa các thành viên của Công ty xuất hiện bất đồng. Vương khởi kiện Hùng ra tòa, yêu cầu tòa án không thừa nhận phần vốn góp của Hùng vì cho rằng tất cả nhà đất vẫn mang tên của Hùng mà chưa sang tên trước bạ cho Công ty. Vương cũng yêu cầu tòa án bác bỏ tư cách thành viên của Liên vì cho rằng việc chuyển nhượng vốn giữa Hùng và Liên là bất hợp pháp. Trong phần kiện lại, Hùng cũng không thừa nhận phần vốn góp bằng tiền mặt của Vương. Để minh chứng, Vương nộp một phiếu thu, trong đó Vương tự nộp và với tư cách Giám đốc công ty tự xác nhận phần vốn góp đã nộp của mình. Hùng cũng cho rằng mình đã thực hiện xong nghĩa vụ góp vốn bằng cách xuất trình các hợp đồng xây dựng nhà xưởng với Công ty xây dựng Thanh Bình, trong đó Công ty TNHH Lửa Việt là chủ công trình.

    1. Việc Hùng chuyển nhượng một phần vốn góp cho Liên như trong tình huống có đúng với quy định của Luật Doanh nghiệp không? Tại sao?

    2. Vương khởi kiện Hùng ra tòa yêu cầu bác tư cách thành viên của Hùng với lý do Hùng chưa sang tên tài sản cho công ty có đúng không? Tại sao?

    Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 36 Luật Doanh nghiệp

    a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Trong tình huống nêu trên, mặc dù Hùng đã chuyển nhà xưởng cho công ty sử dụng trên thực tế, tuy nhiên, do chưa hoàn tất thủ tục chuyển quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên Hùng vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn đối với phần nhà xưởng, quyền sử dụng đất.

    3. Việc Vương đưa ra bằng chứng là 1 phiếu thu, tự xác nhận phần vốn góp của mình đã nộp có phù hợp với qui định của Luật Doanh nghiệp không? Tại sao?

    Trong trường hợp này phiếu thu mới chỉ có chữ kí của Vương, chưa có chữ kí của người đại diện theo pháp luật của công ty (chữ kí của Hùng)

    Lưu ý trong bài tập này

    *) Nghĩa vụ khi chuyển nhượng

    *) Tài sản có đăng kí, tài sản không đăng kí sở hữu thì 2 quy trình góp vốn khác nhau.

    Các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên

    – Chết (đ/v thành viên là cá nhân) / giải thể/ Phá sản (Đ/v thành viên là tổ chức)

    – Chuyển nhượng toàn bộ

    – Tặng cho toàn bộ

    – Trả nợ bằng toàn bộ

    – Công ty giải thể

    3. Tình huống 3:

    Hãy phân biệt quy định tại Điều 52 & Điều 53

    – Người mua: Công ty

    – Lấy tiền công ty mua: vốn bị giảm xuống

    Điều 52 (Mua lại) Điều 53 (Chuyển nhượng)

    Căn cứ Phải có căn cứ tại Điều 52 Không cần căn cứ

    Người nhận phần vốn góp Công ty Các thành viên còn lại hoặc người ngoài

    Hệ quả pháp lý Vốn điều lệ giảm xuống Không làm giảm vốn điều lệ

    4. Tình huống 4: Công ty TNHH Phương Đông

    GIẢI:

    An, Bình, Chương và Dung thành lập công ty TNHH Phương Đông kinh doanh mua bán thủy sản, vật tư ngành thủy sản với vốn điều lệ là 1 tỉ đồng. An góp 200 triệu đồng bằng tiền mặt (20% vốn điều lệ); Bình góp một chiếc ô-tô được định giá 200 triệu đồng (20% vốn điều lệ); Chương góp kho bãi kinh doanh, một số thiết bị vật tư được định giá 500 triệu đồng (50% vốn điều lệ); và Dung góp 100 triệu đồng bằng tiền mặt (10% vốn điều lệ). Theo Điều lệ công ty, Chương là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Bình là giám đốc, An là Phó giám đốc; Giám đốc là người đại diện theo pháp luật cho công ty.

    1. Quyết định cách chức giám đốc Bình và bổ nhiệm giám đốc An có đúng không? Tại sao?

    – Quyết định cách chức giám đốc Bình và bổ nhiệm giám đốc An là không đúng

    – Căn cứ điểm đ, khoản 2, Điều 56, Luật Doanh nghiệp, quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng với Giám đốc là thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên chứ không thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Hội đồng thành viên.

    (Chú ý phân biệt: Điều 56: thẩm quyền; Điều 60: hình thức, thủ tục thực hiện thẩm quyền đó)

    2. Việc Bình nhân danh công ty Phương Đông ký hợp đồng vay nợ của Trường Xuân có đúng pháp luật

    không?

    – Là sai pháp luật

    – Lí do: Về mặt nguyên tắc, giám đốc có quyền thay mặt công ty kí kết hợp đồng theo điểm e, khoản 2, Điều 64, Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng vay có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác hoặc giá trị khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty thì thuộc thẩm quyền của Hội đông thành viên căn cứ theo điểm d, khoản 2, Điều 56, Luật Doanh nghiệp.

    – Trong tình huống của bài, giá trị khoản vay là 700 triệu đồng, Theo sổ sách, tài sản của công ty Phương Đông vào thời điểm này khoảng 1,2 tỷ đồng. Như vậy, giá trị khoản vay lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản theo sổ sách, nên thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên. Vậy Bình kí hợp đồng sai thẩm quyền.

    – (Mở rộng bài học: Nghịch lý về sở hữu và quản lý: Pháp nhân không hoạt động được nếu không có người đại diện. Tuy nhiên, Người đại diện không phải là người bỏ tiền ra để thành lập công ty hoặc nếu có bỏ tiền ra đi nữa thì họ cũng không phải là người bỏ ra tất cả. Để đảm bảo tính thuận tiện trong giao dịch, cần phải trao quyền kí hợp đồng cho người đại diện. Tuy nhiên, để nhằm bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu, cần đặt ra những giới hạn trong việc kí hợp đồng. Đối với những giao dịch ảnh hưởng rất lớn đến tài sản, quyền sở hữu của thành viên, phải để chủ sở hữu quyết định. Pháp luật quy định tỉ lệ là 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty , cho phép công ty giảm nếu ghi trong điều lệ. Tuy nhiên, vấn đề có giảm tỉ lệ này xuống hay không, là tùy vào sự cân nhắc của mỗi công ty về sự thuận tiện trong giao dịch. Do bởi nếu tỉ lệ này giảm xuống thấp quá, thì cứ mỗi giao dịch vượt mức, lại phải triệu tậ cuộc họp hội đồng thành viên, rất là phiền phức)

    GIẢI:

    5. Tình huống 5: Công ty có vốn là 1 tỷ.

    – Có giá trị pháp lý

    – Xác định xem nghị quyết này quyết định vấn đề thuộc điểm a hay điểm b, khoản 3, Điểu 60? Tỷ lệ tối thiểu cần để thông qua là bao nhiêu

    – Trong tình huống này, tỉ lệ thông qua là 100%

    – (Chú ý: trong khoản 3, Điều 60 Luật Doanh nghiệp, thì tỉ lệ 65% hay 75% ở đây là tỉ lệ tính trên tổng số vốn góp của các thành viên dự họp, chứ không phải tính trên tổng điều lệ công ty.

    6. Tình huống 6: Công ty tư vấn JS Consult

    Ông Nguyễn Hải Triều, ông Lê Đông Du và ông Thái Vĩnh Thắng là ba chuyên viên tư vấn tại công ty tư vấn B&N Consult. Năm 2005 ba ông này nghỉ việc và cùng nhau thành lập công ty JS Consult hoạt động trong lĩnh vực tư vấn đầu tư. Công ty được Sở kế hoạch đầu tư thành phố H cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh với số vốn điều lệ là 250 triệu đồng. Trong đó Ông Nguyễn Hải Triều góp 75 triệu đồng, Lê Đông Du góp 75 triệu đồng và ông Thái Vĩnh Thắng góp 100 triệu đồng. Ông Thái Vĩnh Thắng được bầu làm chủ tịch Hội đồng thành viên và là người đại diện theo pháp luật của công ty. Ông Nguyễn Hải Triều làm giám đốc. Các nội dung khác của điều lệ như qui định của Luật Doanh nghiệp.

    Hoạt động của công ty ngày càng trì trệ vì mâu thuẫn giữa các thành viên. Tháng 03/2008 ông Nguyễn Hải Triều triệu tập Hội đồng thành viên nhưng không mời ông Lê Đông Du vì nghĩ có mời thì ông này cũng không đi họp. Cuộc họp dự định tiến hành vào ngày 17/03/2008.

    GIẢI:

    Kết quả, Hội đồng thành viên ra nghị quyết khai trừ ông Lê Đông Du ra khỏi công ty với lí do làm mất đoàn kết nội bộ và cạnh tranh trực tiếp với công ty. Công ty quyết định sẽ mua lại phần vốn góp của ông Lê Đông Du với giá là 150 triệu đồng.

    1. Việc ông Lê Đông Du bằng các mối quan hệ của mình đã tự tìm kiếm khách hàng và tự thực hiện hoạt động tư vấn và lấy thù lao mà không thông qua công ty có phải là một hành vi vi phạm pháp Luật Doanh nghiệp hay không?

    Trong công ty hợp danh, thì thành viên bị cấm hoạt động trong cùng ngành nghề với công ty. Còn trong công ty TNHH, thì thành viên không bị cấm hoạt động trong cùng ngành nghề với công ty.

    (Chú Ý: khoản 5, Điều 51: nhân danh công ty, còn trong trường hợp này là nhân danh cá nhân)

    2. Chủ tịch Hội đồng thành viên triệu tập Hội đồng thành viên mà không triệu tập ông Lê Đông Du với lí do có triệu tập ông này cũng không đi họp là đúng hay sai?

    Theo khoản 1, Điều 50, thành viên có quyền tham dự họp hội đồng thành viên

    Theo khoản 2, Điều 58, Thông báo mời họp Hội đồng thành viên phải được gửi trực tiếp đến từng thành viên Hội đồng thành viên.

    Khi chủ tịch triệu tập cuộc họp mà không mời ông Lê Đông Du với lí do có triệu tập ông này cũng không đi họp là vi phạm nghiêm trọng quyền của thành viên và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tiến hành cuộc họp.

    3. Theo anh (chị) cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 17/03/2008 có hợp pháp hay không?

    • Số vốn tham dự phải đủ
    • Quy trình tiến hành phải đúng

      Điểm d, khoản 8, Điều 50. Thành viên có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết của HĐTV trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc họp Hội đồng thành viên, nếu trình tự, thủ tục, điều kiện cuộc họp hoặc nội dung nghị quyết đó không thực hiện đúng hoặc không phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty.

    4. Công ty có quyền khai trừ ông Lê Đông Du hay không?

    Trong các quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên quy định tại Điều 50, không có quy định cho Hội đồng thành viên thẩm quyền được khai trừ thành viên khác.

    (Mở rộng; Quyền của chủ sở hữu là tối cao với điều kiện không xâm phạm đến quyền của người khác hoặc vì lợi ích công cộng. Đối với công ty hợp danh, có quyền khai trừ thành viên, vấn đề ở chỗ ảnh hưởng đến những người còn lại: liên đới vô hạn. Còn trong Công ty TNHH, quyền của chủ sở hữu không thể bị các cá nhân khác tước đoạt.)

    7. Tình huống 7: Công ty Trường Thịnh

    Công ty TNHH Trường Thịnh hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến lâm sản, được Sở kế hoạch và đầu tư chúng tôi cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh năm 2006 do ông Lê Quang Hiếu và bà Trần Thị Hạnh Dung, ông Phạm Hữu Nghị, ông Đoàn Phi Long thành lập. Vốn điều lệ của công ty là 470.000.000 đồng. Điều lệ công ty qui định, trong trường hợp thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp cho người ngoài công ty phải được sự đồng ý của số thành viên đại diện cho ít nhất là 80% vốn điều lệ chấp thuận. Các nội dung khác như qui định của Luật Doanh nghiệp. Sau hơn một năm hoạt động, trong nội bộ công ty Trường Thịnh có nhiều biến động. Ông Phạm Hữu Nghị và ông Đoàn Phi Long đã chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty Trường Thịnh cho hai thành viên còn lại là ông Lê Quang Hiếu và bà Trần Thị Hạnh Dung. Đến thời điểm này ông Lê Quang Hiếu và bà Trần Thị Hạnh Dung đều nắm giữ 50% vốn điều lệ. Ông Lê Quang Hiếu nắm giữ chức chủ tịch Hội đồng thành viên. Công ty thuê bà Nguyễn Thị Bích Thủy làm giám đốc điều hành công ty.

    Đến giữa năm 2008, giữa ông Lê Quang Hiếu và bà Trần Thị Hạnh Dung phát sinh mâu thuẫn. Bà Trần Thị Hạnh Dung đã làm đơn khởi kiện công ty Trường Thịnh đến Tòa án nhân chúng tôi yêu cầu xin rút phần hùn 50% vốn điều lệ là 235.000.000 đồng, được sở hữu 50% toàn bộ tài sản của công ty và được chia lợi nhuận đến ngày bà ra khỏi công ty.

    GIẢI:

    Tại các biên bản làm việc giữa Tòa án nhân dân chúng tôi với bà Trần Thị Hạnh Dung vào các ngày 29/06/2008 và 20/07/2008 bà Trần Thị Hạnh Dung đều yêu cầu được rút toàn bộ vốn hoặc chuyển nhượng cho các thành viên khác theo giá thỏa thuận, nếu không chuyển nhượng được cho các thành viên khác thì giải thể công ty. Tại cuộc họp các thành viên công ty ngày 16/08/2008 và biên bản hòa giải không thành ngày 13/09/2008 bà Trần Thị Hạnh Dung thông báo đã có người chấp thuận mua phần vốn góp cảu bà với giá là 235.000.000 đồng, Nhưng ông Lê quang Hiếu không cho bà chuyển nhượng cho người ngoài công ty, ông không mua phần vốn góp này và cũng không giới thiệu ai vì giá mà bà Trần Thị Hạnh Dung đưa ra là không hợp lí. Trong khi đó, công ty Việt Toàn Năng đồng ý mua lại phần vốn góp, quyền lợi của bà Trần Thị Hạnh Dung trong công ty Trường Thịnh với giá thỏa thuận là 235.000.000 đồng và đồng ý thay bà Hạnh Dung làm thành viên của công ty Trường Thịnh, đồng thời chịu toàn bộ trách nhiệm, nghĩa vụ của bà trong công ty.

    1. Theo anh (chị) điều lệ công ty Trường Thịnh qui định thành viên muốn chuyển nhượng phần vốn góp cho người ngoài công ty phải được sự đồng ý của số thành viên đại diện cho ít nhất là 80% vốn điều lệ chấp thuận có trái với Luật Doanh nghiệp hay không?

    Như vậy, quy định trong Điều lệ là hẹp hơn so với luật, giới hạn quyền chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hơn so với luật.

    Đối với những điều khoản tùy nghi, bao giờ cũng có câu là “trừ trường hợp điều lệ có quy định khác”, còn đối với những trường hợp chỉ ghi trường hợp theo luật, thì đó là quy định bắt buộc.

    2. Theo anh (chị) công ty Việt Toàn Năng có quyền mua lại phần vốn góp của bà Trần Thị Hạnh Dung và thay bà hưởng các quyền cũng như gánh vác nghĩa vụ tại công ty Trường Thịnh hay không?

    3. Trong trường hợp không chuyển nhượng được phần vốn của mình bà Trần Thị Hạnh Dung có quyền rút lại vốn hay không? Công ty có bắt buộc phải giải thể theo yêu cầu của bà Trần Thị Hạnh Dung không?

    không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 52, 53, 54

    8. Tình huống 8: Đòi lại vốn góp… đã bán

    1. Cổ phần là gì? Trong công ty cổ phần có bao nhiêu loại cổ phần?

    Căn cứ điều 113 Luật Doanh nghiệp, trong công ty cổ phần có thể có 5 loại cổ phần sau:

    – Cổ phần phổ thông

    – Cổ phần ưu đãi biểu quyết;

    – Cổ phần ưu đãi cổ tức;

    – Cổ phần ưu đãi hoàn lại;

    – Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.

    2. “Chỉ sau bốn tháng góp vốn, Vigecam đã bán lại phần vốn góp tại Vinacam”. Hành vi này có vi phạm pháp Luật Doanh nghiệp hay không?

    – Giả định: Nếu người mua là cổ đông sáng lập: thì được

    – Còn nếu người mua không phải là cổ đông sáng lập thì không được.

    – Căn cứ điểm d, khoản 1, Điều 110, Luật Doanh nghiệp

    d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.

    Khoản 3, Điều 119

    3. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.

    Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.

    Khoản 1, Điều 126.

    1. Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.

    3. Thế nào là cổ phiếu? Trong công ty cổ phần có bắt buộc phải có cổ phiếu hay không?

    Tóm lại: Cổ phiếu bắt buộc phải có, tuy nhiên tùy theo hình thức tồn tại của cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán mà có thể trao hoặc không trao cho cổ đông.

    Cơ sở pháp lý: Điều 120, Điều 121, Khoản 5, Điều 124.

    4. Đại hội cổ đông bất thường của Vinacam đã quyết định mua 108.000 cổ phần trong số 125.000 cổ phần của Vigecam có phù hợp với qui định của Luật Doanh nghiệp 2014 hay không?

    Theo quy định của Luật Doanh nghiệp sẽ có 2 trường hợp mua lại cổ phần:

    – TH1:Mua lại theo yêu cầu của cổ đông

    – TH2: theo quyết định của công ty. Để áp dụng trong trường hợp này, thì cần 2 điều kiện:

    + Đk 1: Tổng số cổ phần mua vào không vượt quá 30% tổng số cổ phần phổ thông

    + Đk 2: Chào mua tới tất cả cổ đông.

    Trong công ty này, cổ đông không có phản đối gì, nên áp dụng Điều 129 là không được.

    Công ty này cũng không gửi lời chào mua tới mọi người. Và quan trọng là 108,000 tương ứng với khoảng hơn 31%, vượt quá 30%.

    5. Mua lại cổ phần là gì? So sánh mua lại cổ phần và chuyển nhượng cổ phần? Vigecam có quyền yêu cầu Vinacam mua lại cổ phần hay không? Tại sao?

    + Chuyển nhượng cổ phần: tổng vốn điều lệ của công ty không đổi. Về mặt nguyên tắc, chuyển nhượng cổ phần là tự do, chỉ có 2 trường hợp: cổ phần phổ thông trong 03 năm đầu bị hạn chế chuyển nhượng và cổ phần ưu đãi biểu quyết bị cấm không được chuyển nhượng.

    + Mua lại cổ phần: công ty dùng tiền của mình trả cho cổ đông, lượng tiền mặt của công ty giảm xuống.

    6. Theo anh (chị), căn nhà số 28 Mặc Đĩnh Chi được xử lí như thế nào? Có phải trả lại cho Vigecam vì “trong quá trình thực hiện công tác cổ phần hóa, Vigecam còn… thiếu kinh nghiệm nên đã xảy ra những sai lầm đáng tiếc trong việc quản lý tài sản ” hay không?

    9. Tình huống 9:

    Công ty cổ phần X: 10 cổ đông, chia làm 2 nhóm: Phe 6 người (50%), phe 4 người (50%). Công ty này chỉ có 1 loại cổ phần, điều lệ công ty không có quy định khác.Quyết định, lấy ý kiến bằng văn bản: 6 người phe 1 đồng ý, 4 người phe 2 không đồng ý. Vậy quyết định này có giá trị pháp lý không nếu căn cứ khoản 4, Điều 144.

    Vậy phe nào đúng?

    10. Tình huống 10: Thanh toán trong Hợp nhất và sáp nhập

    Năm 2010 Vinamilk ký hợp đồng chuyển nhượng nhà máy cà phê Sài gòn cho Công ty cổ phần Trung Nguyên. Nhà máy này chuyên SX các sản phẩm cà phê hòa tan, cà phê rang xay và cà phê đóng lon uống liền.Sau thương vụ này, Vinamilk sẽ rút lui hoàn toàn khỏi thị trường sản xuất các sản phẩm cà phê hòa tan.

    Vậy Hợp nhất và sáp nhập khác gì so với mua tài sản

    Việc mua tài sản và mua cổ phần trong công ty khác nhau như thế nào

    Rủi ro khi SN-HN

    – Đánh giá các rủi ro

    Chia doanh nghiệp

    – Kiểm soát rủi ro như thế nào

    Công ty bị chia: công ty được chia + công ty được chia

    Công ty A chấm dứt hoạt động.

    Tách doanh nghiệp A = A+ A’

    2) IBM Thinkpad lỗ vì chiến lược kinh doanh không phù hợp chứ không phải vì lí do gì khác.

    3) IBM Thinkpad có rất nhiều bằng sáng chế.

    4) Tên tuổi của Lenovo bấy giờ chưa nổi tiếng trên phạm vi toàn cầu.

    Lenovo định thực hiện phi vụ M&A tiếp theo đối với Blackberry. Tuy nhiên, do những vấn đề về nhạy cảm chính trị, nên phi vụ này không thực hiện được, nên Lenovo đã chuyển hướng sang Motorola. Khi mà muốn kế thừa cái cũ, biện pháp lựa chọn là tách. Nếu cái cũ quá kém, thì lựa chọn là chia.

    Download file word câu hỏi nhận định đúng sai môn chủ thể kinh doanh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Bảo Hiểm Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Khái Quát Một Số Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Những Điểm Mới Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Bảo Hiểm
  • Một Số Câu Nhận Định Và Bài Tập Chứng Khoán Và Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Bảo Hiểm Bắt Buộc Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Thuật Ngữ Khi Tham Gia Quan Hệ Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Pháp Luật Tổ Chức Và Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Về Loại Trừ Trách Nhiệm Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10: Khen Thưởng Và Xử Lý Vi Phạm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000 Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010
  • Bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó …

    Bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm

    Bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành

    Điều 5 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định:

    Điều 5. Bảo hiểm bắt buộc

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trong trường hợp đối tượng bảo hiểm đã đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

    2. Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng thực hiện bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

    Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

    • Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.
    • Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.
    • Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

    a) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

    b) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

    c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

    d) Bảo hiểm cháy, nổ.

    • Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trong trường hợp đối tượng bảo hiểm đã đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.
    • Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng thực hiện bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

    Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của mọi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Trung Thực Tuyệt Đối Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010 Số 61/2010/qh12
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12
  • Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Số 61/2010/qh12 Năm 2010 Miễn Phí
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm: Hợp Đồng Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều 3 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Quy Định Về Các Loại Bảo Hiểm Bắt Buộc Trong Xây Dựng
  • Luật 42/2019/qh14 Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Khoản 9 Điều 12 Luật Bảo Hiểm Y Tế
  • Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Lao Động
  • Am hiểu pháp luật khi đi tư vấn bảo hiểm là cách thức để Anh chị tư vấn bảo vệ chính mình và khách hàng của mình. Chúng tôi hy vọng rằng Anh chị sẽ là những chuyên gia tư vấn hàng đầu được khách hàng tin yêu và tôn trọng.

    Kính chúc Anh chị thành công.

    Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm;

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

    Luật này quy định về kinh doanh bảo hiểm.

    Luật số 24/2000/QH10 của Quốc hội : Kinh doanh Bảo hiểm

    CHƯƠNG II: HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM MỤC 1: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM Điều 12. Hợp đồng bảo hiểm

    1. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

    2. Các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

    A) Hợp đồng bảo hiểm con người;

    B) Hợp đồng bảo hiểm tài sản;

    C) Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

    3. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được áp dụng theo quy định của Bộ luật hàng hải; đối với những vấn đề mà Bộ luật hàng hải không quy định thì áp dụng theo quy định của Luật này.

    Điều 13. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm

    1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

    A) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

    B) Đối tượng bảo hiểm;

    C) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;

    D) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

    Đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

    E) Thời hạn bảo hiểm;

    G) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

    H) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

    I) Các quy định giải quyết tranh chấp;

    K) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.

    2. Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận.

    Điều 14. Hình thức hợp đồng bảo hiểm

    Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

    Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.

    Điều 15. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

    Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

    Điều 16. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

    1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm.

    2. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng.

    3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

    A) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;

    B) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.

    Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

    A) Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    C) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật này;

    D) Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    E) Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự;

    G) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

    A) Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm;

    B) Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

    C) Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    D) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường;

    Đ) Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    E) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm 1. Bên mua bảo hiểm có quyền:

    A) Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;

    B) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;

    C) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật này;

    D) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

    Đ) Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật;

    E) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    2. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:

    A) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    C) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;

    D) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

    E) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

    A) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;

    B) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.

    3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật.

    Điều 20. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm

    1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.

    2. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.

    Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

    Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.

    Điều 22. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

    1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

    A) Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm;

    B) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;

    C) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;

    D) Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

    Đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

    Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

    1. Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm;

    2. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;

    3. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

    2. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

    3. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian gia hạn theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

    Điều 25. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm

    1. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận sửa đổi, bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện, điều khoản bảo hiểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    2. Mọi sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

    Điều 26. Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm

    1. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

    2. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế.

    Điều 27. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

    2. Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

    3. Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

    Điều 28. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

    1. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

    2. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chứng minh được rằng bên mua bảo hiểm không biết thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày bên mua bảo hiểm biết việc xảy ra sự kiện bảo hiểm đó.

    3. Trong trường hợp người thứ ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người thứ ba yêu cầu.

    Điều 29. Thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

    Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

    Điều 30. Thời hiệu khởi kiện

    Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Khoản 1 Điều 5 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Khoản 2 Điều 135 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Trách Nhiệm Cung Cấp Trong Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Điều 31 Luật Bảo Hiểm Xã Hội
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Hiểm Xã Hội Tiếng Anh Là Gì?
  • Các Thuật Ngữ Tiếng Anh Ngành Bảo Hiểm (Insurance)
  • Điểm Mới Của Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Và Sở Hữu Trí Tuệ
  • Luật kinh doanh bảo hiểm là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 8 thông qua ngày 09.12.2000 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.4.2001.

    Ở Việt Nam, trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, hầu hết các hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các công tỉ bảo hiểm Pháp tiến hành.

    Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tương tự các nước xã hội chủ nghĩa khác, ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm do Nhà nước thực hiện nên được gọi là bảo hiểm nhà nước. Văn bản pháp luật đầu tiên về kinh doanh bảo hiểm là Quyết

    định số 179/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 17.12.1964 quy định thành lập Công ti bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài chính, chuyên trách hoạt động bảo hiểm nhà nước. Trong điều kiện đất nước có chiến tranh và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động của Bảo Việt vừa mang tính kinh doanh, vừa mang tính quản lí nhà nước. Các quy tắc bảo hiểm do Bảo Việt quy định trong một thời gian dài được áp dụng như quy phạm pháp luật.

    Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế kinh doanh bảo hiểm. Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tăng cường quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, ngày 18.12.1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định tương đối có hệ thống về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng phát triển thị trường bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

    Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có mục đích là bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; phát triển thị trường bảo hiểm; thúc đẩy và góp phần duy trì sự phát triển một cách bền vững của nền kinh tế – xã hội; tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm là quan hệ tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

    Luật gồm lời nói đầu, 9 chương, 189 điều, có những nội dung cơ bản sau đây: quy định nguyên tắc và phạm vi kinh doanh bảo hiểm; quy định hình thức tổ chức kinh doanh bảo hiểm, các loại sản phẩm bảo hiểm; quy định về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm; quy định quản lí nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.

    Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 là đạo luật đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật kinh doanh bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khác với Luật kinh doanh bảo hiểm của nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam không áp dụng với các hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Tương tự ở nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam áp dụng chung cho cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Ở một số nước, về kĩ thuật lập pháp có sự phân biệt giữa đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Ví dụ: Thái Lan có hai đạo luật về kinh doanh bảo hiểm: Đạo luật bảo hiểm nhân thọ năm (1992) (B.E 2535), Đạo luật bảo hiểm phi nhân thọ năm (1992) (B.E 2502).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tải Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Quyền Lợi Khách Hàng Ra Sao Khi Công Ty Bảo Hiểm Aia Phá Sản?
  • Vụ Bảo Hiểm Aia Từ Chối Chi Trả: ‘cần Trung Thực Khi Điền Hồ Sơ Bảo Hiểm’
  • Tìm Việc Làm, Tuyển Dụng Công Ty Tnhh Bảo Hiểm Nhân Thọ Aia (Việt Nam)
  • Mua Bảo Hiểm, Chết Không Được Bồi Thường Vì Sai Chữ Ký
  • Tiểu Luận Khái Quát Về Kinh Doanh Bảo Hiểm & Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Đbqh Góp Ý Kiến Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Có Bao Nhiêu Loại Bảo Hiểm Và Phân Biệt Các Loại Như Thế Nào?
  • Bảo Hiểm Là Gì? Các Thuật Ngữ Cơ Bản Nhất Trong Bảo Hiểm Bạn Nên Biết
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ (Sửa Đổi)
  • Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Luật Sở Hữu Trí Tuệ Sửa Đổi
  • KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM & PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

    Phần I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

    I. KHÁI NIỆM KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

    1/ Khái niệm chung về bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm

    Dù phương thức sản xuất nào, con người và tài sản cũng luôn bị đe doạ bởi thiên tai và

    các tai biến bất ngờ phát sinh ngay trong hoạt động của con người.

    Dù muốn hay không nhiều loại rủi ro đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến

    cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, DN và toàn xã hội. Chính sự tồn tại của rủi ro là

    nguồn gốc phát sinh tồn tại của bảo hiểm. Nguyên nhân gây ra những rủi ro là yếu tố tự nhiên,

    kỹ thuật và yếu tố xã hội khác. Suốt trong lịch sử của mình, loài người đã phải chịu đựng và

    chứng kiến biết bao hiểm hoạ, nào là động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, sóng thần, dịch bệnh,

    chiến tranh, tai nạn giao thông, hoả hoạn, phóng xạ, ô nhiễm. ..

    Rủi ro, hiểm hoạ bất ngờ xảy ra không biết trước về thời gian, địa điểm, quy mô, mức

    độ thiệt hại, điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống, cũng như quá trình sản xuất kinh doanh ở từng

    cá nhân, gia đình, tổ chức và cũng ảnh hưởng đến sự ổn định chung của xã hội. Đứng trước

    thực trạng đó, con người luôn có những hành động tích cực, chủ động để ngăn ngừa, khắc

    phục có hiệu quả những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra với tất cả khả năng của

    mình, nhằm giảm tới mức thấp nhất những thiệt hại để sớm phục hồi quá trình sản xuất kinh

    doanh và đời sống. Các biện pháp phổ biến được con người sử dụng là:

    -Biện pháp phòng ngừa: là biện pháp do con người sử dụng do nhận thức được quy luật

    của tự nhiên như đắp đê chống lũ, trồng rừng phòng hộ, xây dựng các trạm phòng cháy, xây

    dựng hệ thống dự báo thời tiết…

    -Biện pháp cứu trợ: biện pháp này được thực hiện khi đã có rủi ro xảy ra để khắc phục

    hậu quả của rủi ro. Biện pháp này có thể do chính quyền nhà nước thực hiện hoặc do các tổ

    chức, cá nhân thực hiện trên tinh thần nhân đạo và mang tính tự nguyện nhằm giúp đỡ các tổ

    chức, cá nhân gặp rủi ro khắc phục các hậu quả.

    -Biện pháp dự trữ – bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp phòng xa để nhằm hạn chế tới

    mức thấp nhất những rủi ro gây ra. Mần mống của bảo hiểm có từ xa xưa khi con người chưa

    biết đến bảo hiểm nhưng họ đã có ý thức được việc làm cần thiết để bảo đảm cho sự sinh tồn

    như dự trữ lương thực, vật nuôi trong ngày săn bắn được nhiều để dùng cho những ngày mưa

    rét không đi săn bắn và hái lượm được. Đó là là những dấu hiệu đầu tiên về hoạt động bảo

    hiểm mang tính chất tự bảo hiểm.

    Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần sản phẩm trong kết quả lao

    động hàng năm của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn về vật tư hoặc bằng tiền (quỹ đó gọi là

    quỹ dự trữ bảo hiểm ) nhằm :

    -Hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm hoạ chưa hoặc đang

    xảy ra.

    1

    -Bù đắp và bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về người và tài sản, sau khi

    xảy ra hiểm hoạ.

    Có 3 loại quỹ được thành lập và chi dùng cho mục đích nêu trên là :

    -Quỹ dự trữ nhà nước được lập ra từ ngân sách nhà nước (quỹ dự phòng trong ngân

    sách, quỹ dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ tài chính ). Quỹ này thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước

    quản lý, nó được sử dụng để bù đắp những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra trên

    diện rộng quy mô lớn, vì phạm vi hoạt động rộng, nên chỉ sử dụng khi có những biến cố rủi ro

    lớn trên nhiều vùng, ảnh hưởng tới nhiều tầng lớp dân cư. quỹ này không được sử dựng khi rủi

    ro thiệt hại mang tính cá biệt. Do đó nó không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của từng tổ chức,

    gia đình, cá nhân.

    -Quỹ dự phòng riêng của từng tổ chức, cá nhân, gia đình: ( Quỹ dự trữ phân tán) Quỹ

    này do các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân tự lập ra bằng thu nhập của mình, họ tự quản lý, sử

    dụng cho nên nó có thể đáp ứng kịp thời, nhanh chóng chủ động đối với những tổn thất vừa và

    nhỏ, nhưng vì quy mô quỹ không lớn, không thể bù đắp cho những tổn thất lớn, không phát

    huy được tính cộng đồng tương trợ, nó chỉ đóng khung trong từng đơn vị, không cơ động, có

    thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn, hiệu quả kinh tế không cao.

    -Quỹ bảo hiểm tập trung do đông đảo những người tham gia bảo hiểm đóng góp theo

    một chế độ thống nhất và bình đẳng (Quỹ dự trữ tập trung mang tính cộng đồng ). Quỹ này

    được lập bằng tiền do những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những biến cố nào đó

    đóng góp, tạo lập quỹ. Nó được sử dụng để phòng ngừa và bù đắp những tổn thất cho các tổ

    chức, cá nhân tham gia lập quỹ khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện. Phương thức tạo lập và sử

    dụng quỹ này trên nguyên tắc ” lấy số đông bù cho số ít ” nên nó mang tính kinh tế, tính xã hội

    cao. Bởi vì: Giúp cho người tham gia bảo hiểm khắc phục nhanh chóng những thiệt hại, đảm

    bảo cho quá trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường. Nó là biện pháp dự trữ bảo hiểm

    có hiệu quả kinh tế cao nhất, có khả năng thanh toán nhanh, bù đắp lớn. Đối với mỗi cá nhân

    hàng năm chỉ phải chi ra một lượng tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, không ảnh hưởng đến đời

    sống của mình. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thì phí bảo hiểm là một chi phí xã hội

    cần thiết nó được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Nếu đem số phí đó phân ra theo từng đơn

    vị sản phẩm và phân bổ cho cả năm tài chính thì số phí baỏ hiểm phải gánh chịu trên một đơn

    vị sản phẩm là không đáng kể. Trong trường hợp có xảy ra rủi ro thì người tham gia bảo hiểm

    được đền bù toàn bộ hay một phần thiệt hại, vốn kinh doanh được bảo toàn, đời sống ổn định.

    Hình thức dự trữ bảo hiểm này sẽ đáp ứng một cách đầy đủ, linh hoạt nhất đối với mọi nhu cầu

    đa dạng của mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.

    Dưới góc độ kinh tế tài chính thì bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do

    những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những sự cố nào đó đóng góp và để từ quỹ đó sử

    dụng để đề phòng, ngăn ngừa và bù đắp những tổn thất cho những tổ chức, cá nhân tham gia

    lập quỹ khi họ gặp những rủi ro bảo hiểm hoặc để thực hiện những chính sách xã hôi.

    Như vậy, việc tạo lập quỹ bảo hiểm là một yếu tố, một yêu cầu không thể thiếu được để

    đảm bảo cho nền kinh tế -xã hội phát triển bình thường khi gặp phải tổn thất do những yếu tố

    khách quan bất ngờ gây ra. Người ta ví “không có bảo hiểm như cầu thang không có tay vịn”

    Cùng với sự phát triển của xã hội loài người do nhu cầu ổn định sản xuất và đời sống

    các loại bảo hiểm khác nhau đã ra đời. Đặc biệt khi nền kinh tế hàng hoá phát triển nhu cầu

    bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng, con người đã đã xây dựng các quỹ dự trữ bảo hiểm khác

    2

    nhau. Nhưng để đạt hiệu quả kinh tế -xã hội cao trong hoạt động bảo hiểm, kinh doanh dịch vụ

    bảo hiểm ra đời và nó không ngừng phát triển trong nền kinh tế hàng hoá -tiền tệ. Bảo hiểm

    không chỉ đơn thuần làm lá chắn cho sự phát triển kinh tế và ổn định đời sống, mà còn thực sự

    trở thành một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt để thu lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp. Hai

    mục đích đó vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để hoạt động bảo hiểm tồn tại và phát triển.

    Do tính chất đa dạng của các loại rủi ro xâm hại đến lợi ích của nhiều chủ thể đòi hỏi

    phải có nhiều loại hình bảo hiểm:

    – Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm có bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm

    TNDS;

    -Căn cứ vào tính chất pháp lý trong baỏ hiểm có bảo hiểm bắt buộc bảo hiểm tự

    nguyện;

    * căn cứ vào tính chất, phương thức và mục đích sử dụng các loại quỹ bảo hiểm tập

    trung mang tính cộng đồng, người ta chia bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm mang tính kinh

    doanh và bảo hiểm phi kinh doanh:

    Bảo hiểm không mang tính kinh doanh là loại hình bảo hiểm do nhà nước thực hiện

    nhằm thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Nó đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, Mục đích của

    hoạt động bảo hiểm này không đặt ra mục tiêu kinh doanh lấy lợi nhuận. Loại hình bảo hiểm

    phi kinh doanh ở nước ta hiện nay là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi …

    Bảo hiểm có tính kinh doanh là hoạt động bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thực

    hiện thông qua việc lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân tham

    gia, sau đó quỹ này được sử dụng để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc diện được

    bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm.

    Nếu so sánh giữa bảo hiểm không mang tính kinh doanh mà điển hình là bảo hiểm xã

    hội với loại hình kinh doanh bảo hiểm thì giữa chúng có những diểm giống nhau đó là: chúng

    đều có mục đích giúp ổn định kinh tế, đảm bảo đời sống, khắc phục khó khăn do nguyên nhân

    khách quan gây ra. Người tham gia đều có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm. Bên cạnh đó,

    chúng có điểm khác nhau cơ bản sau:

    Nội dung

    ph

    ân

    biệ

    t

    Bản chất

    Bảo hiểm xã hội (một loại hình bảo

    hiểm không mang tính kinh doanh)

    Kinh doanh bảo hiểm

    Là một chính sách thuộc lĩnh vực đảm Là một dịch vụ tài chính xuất phát

    bảo xã hội của một nhà nước

    từ nhu cầu được bảo vệ, ngoài sự

    đảm bảo chung của xã hội

    Đối tượng Là người lao động, người làm công, ăn Con người, tài sản, trách nhiệm dân

    bảo hiểm

    lương

    sự

    Phạm vi

    bảo hiểm

    Trong giới hạn một quốc gia

    Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia(Tái

    bảo hiểm ).

    3

    Nguồn

    Chủ yếu huy động sự đóng góp của Được tạo lập từ sự đóng góp phí

    hình thành người lao động,người sử dụng lao động của tổ chức, cá nhân có nhu cầu

    quỹ

    và có thể một phần trợ cấp từ ngân được bảo hiểm.

    sách.

    bảo hiểm

    Mục đích

    sử

    quỹ

    Để trợ cấp cho người lao động khi họ Chi bồi thường cho những tổ chức,

    dụng tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao cá nhân tham gia gặp rủi ro thuộc

    động.

    phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.

    Không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của Nhằm mục tiêu kinh doanh lấy lợi

    người Lao động và của cả cộng đồng.

    nhuận

    thể Do cơ quan nhà nước quản lý theo quy

    quỹ chế chung thống nhất.

    Doanh nghiệp bảo hiểm

    Luật điều Bộ luật lao động và VBPL về bảo hiểm Luật kinh doanh bảo hiểm

    chỉnh

    xã hội khác

    2/ Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm

    Theo nghĩa rộng kinh doanh bảo hiểm là hoạt động có mục đích sinh lời của các chủ thể

    kinh doanh trên thị trường bảo hiểm để nhằm tới việc ký kết và thực hiện tốt được các hợp

    đồng bảo hiểm.

    Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của

    doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi

    ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh

    nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngươì được bảo

    hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

    Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau:

    – Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp

    bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm

    hoặc người thụ hưởng.

    – Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng

    được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ

    hưởng.

    – Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ chức cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để

    nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

    -Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định

    mà khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ

    hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

    4

    5

    6

    Doanh nghiệp bảo hiểm

    Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    Đại lý bảo hiểm

    7

    * Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm; Bao gồm tất cả quy định chung về hợp đồng bảo

    hiểm

    * Pháp luật về chế độ bảo hiểm cụ thể

    PL về bảo hiểm con người

    Pl về bảo hiểm tài sản

    PL về bảo hiểm trách nhiệm dân sự

    2.3. Các nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm.

    Tại điều 6 Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định các nguyên tắc cơ bản trong kinh

    doanh bảo hiểm gồm:

    Thứ nhất, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm phải tham gia bảo hiểm tại doanh

    nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam

    Việc đặt ra nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển

    lành mạnh và lâu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự quản lý chặt

    chẽ của Nhà nước và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tập quán quốc tế.

    Tuy nhiên do thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm ở Việt Nam chưa đáp ứng được hết

    nhu cầu bảo hiểm của xã hội, Tại Điều 3 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của

    luật kinh doanh bảo hiểm có quy định về điều kiện, nguyên tắc tham gia bảo hiểm:

    1. Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm,

    hoạt động môi giới bảo hiểm tại việt nam phải được bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và

    hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm.

    2. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và

    chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại việt nam.

    không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh

    nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.

    Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo

    hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trong những trường hợp: Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt

    động ở Việt Nam chưa cung cấp được loại sản phẩm bảo hiểm mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu

    tham gia bảo hiểm hoặc theo quy định của các điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký

    kết hoặc tham gia. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với

    doanh nghiệp bảo hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trái với các quy định trên đều bị coi là vô

    hiệu.

    Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm phải duy trì khả năng tài chính phù hợp với quy mô

    kinh doanh của mình để bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

    Với tính chất là hoạt động kinh doanh rủi ro và mang tính xã hội hoá cao, với vai trò

    quan trọng của kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế và sự ổn định của đời sống xã hội việc

    bảo đảm khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm để bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức,

    cá nhân tham gia bảo hiểm là rất quan trọng, bởi nó không chỉ tạo uy tín tạo ra khả năng kinh

    doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn có ý nghĩakinh tế xã hội lớn. Với

    việc quy định nguyên tắc chung cơ bản này trong Luật kinh doanh bảo hiểm, để trên cơ sở đó

    8

    9

    kho¶n 5 ®iÒu 3 luËt kinh doanh b¶o hiÓm n¨m 2000.

    10

    doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để bảo đảm các cam kết của mình

    trước những người tham gia bảo hiểm khi có các sự cố bảo hiểm xảy ra. Các quỹ này là nguồn

    quan trọng để tham gia đầu tư nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhưng

    phải đảm bảo nguyên tắc tính an toàn, tính sinh lời, và tính thanh khoản của các khoản vốn đầu

    tư. Thông thường thì tính bồi thường tổn thất thực tế cho người được bảo hiểm trong một hợp

    đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số phí bảo hiểm đã đóng. Vì thế, để

    đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong hoạt động bảo hiểm phải

    áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là phải cung cấp nhiều sản phẩm bảo hiểm cho

    nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị trường khác nhau… để lấy phí bảo hiểm đóng góp

    từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro. Trên thực tế, đối với những hợp

    đồng có giá trị lớn hoặc trường hợp có khả năng doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho

    nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt trách nhiệm tài chính đối với

    rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thường phải thực hiện nghiệp vụ tái bảo hiểm hoặc

    đồng bảo hiểm. Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng

    cường giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất bảo hiểm.

    Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui định

    của Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ tính chất đặc

    thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là một tổ chức kinh

    doanh ngành nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng cho doanh

    nghiệp bảo hiểm, đó là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập và hoạt động

    của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm.

    Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh

    nghiệp bảo hiểm còn phải tuân thủ theo các qui định khác của pháp luật trong hệ thống pháp

    luật Việt Nam – nếu như vấn đề nào đó Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định, không điều

    chỉnh trực tiếp …Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm là công ty cổ phần thì việc tổ chức và

    hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm đồng

    thời còn phải tuân thủ các qui định dành cho công ty cổ phần quy định Luật doanh nghiệp …

    Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính. Để quản lý

    hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan

    quản lý nhà nước nhất định. Một số nước ở Châu á như Singapor, Philipin, cơ quan quản lý

    nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Các nước

    khác như Anh, Nhật Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng.

    ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nước về hoạt động bảo hiểm được Chính phủ giao

    cho Bộ Tài chính thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác bảo hiểm. Trước đây do tính độc

    quyền trong kinh doanh bảo hiểm, lúc đó Bộ tài chính đã giao cho Bảo Việt thực hiện hai chức

    năng quản lý và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. Sau khi đất nước ta chuyển đổi sang kinh tế thị

    trường thì để đáp ứng yêu cầu quản lý trong cơ chế kinh tế này, ngày 15 tháng 5 năm 1992 Bộ

    trưởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 223TC/ QĐ- BTC thành lập phòng quản lý bảo hiểm

    trực thuộc vụ tài chính ngân hàng và tổ chức tài chính, Như vậy, bằng qui định trên Bộ Tài

    Chính đã tách chức năng quản lý và chức năng kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt. Từ thời

    điểm đó cho đến nay Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ trực tiếp thực hiện chức năng

    quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều này đã được Luật kinh doanh bảo

    hiểm qui định cụ thể: “Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện quản lý nhà

    nước về kinh doanh bảo hiểm “(Khoản 2, Điều 121)

    11

    Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong

    nền kinh tế. Bởi vì, trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác

    chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác như các tổ chức tín dụng chịu sự quản

    lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán

    chịu sự quản lý nhà nước của Uỷ ban chứng khoán nhà nước …

    1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm.

    Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc

    quyền của nhà nước (gọi tên là bảo hiểm nhà nước). ở nước ta chỉ duy nhất có Tổng công ty

    bảo hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan “Bảo Việt” thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản

    lý nhà nước và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới – cơ chế kinh tế

    thị trường, Nhà nước không còn giữ độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho phép các

    thành phần kinh kế được tham gia kinh doanh bảo hiểm-. Nhà nước có phân định rạch ròi giữa

    chức năng quản lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro – Thị trường bảo hiểm đã

    hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình doanh

    nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm bảo hiểm phát triển rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu của xã

    hội. Vì vậy, việc phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có nhiều tiêu

    chí để phân loại doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục đích riêng.

    * Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm (cách phân

    loại này theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 chưa sửa đổi bổ sung) thì có các loại hình

    doanh nghiệp bảo hiểm sau:

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước

    đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những

    nhiệm vụ nhà nước giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm,

    doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn phải tuân thủ các qui định trong các văn bản pháp luật

    dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

    nghĩa ở nước ta những doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước

    nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan

    tâm, tạo điều kiện khuyến khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong

    những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

    – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên

    cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với

    phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn

    góp của mình góp vào công ty.Thực chất thì công ty cổ phần bảo hiểm là những công ty cổ

    phần kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần bảo

    hiểm luôn chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh nghiệp.

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp

    nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành

    viên. Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm”.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành,Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ là Tổ chức,

    công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoạt động trong

    cùng một lĩnh vực, ngành nghề, có nhu cầu bảo hiểm đều có quyền tham gia thành lập tổ chức

    bảo hiểm tương hỗ với tư cách là thành viên sáng lập. Chỉ các tổ chức, cá nhân giao kết hợp

    đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm tương hỗ mới có thể trở thành thành viên của tổ chức bảo

    12

    hiểm tương hỗ. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính

    phủ quy định.

    Trên thế giới, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức dưới hình thức công ty

    bảo hiểm tương hỗ. Đây là loại hình doanh nghiệp được thành lập nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn

    nhau giữa các thành viên, mục đích kinh doanh chỉ là thứ yếu. ở Việt Nam, thị trường bảo

    hiểm mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển thì đây là một mô hình mới, chưa hề có một tổ chức

    bảo hiểm tương hỗ nào tồn tại trên thực tế. Việc qui định loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này

    ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.

    Bởi vì đối với một số lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản tại Việt

    Nam là những lĩnh vực mà ta có thế mạnh mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện chưa phục vụ

    được hoặc hoạt động không có hiệu quả. nếu chúng ta có doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ

    trong những lĩnh vực như vậy có nhiều lợi thế. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn

    bản qui phạm về tổ chức bảo hiểm tương hỗ là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để loại hình

    doanh nghiệp này phát triển.

    Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài (gồm doanh nghiệp bảo hiểm liên

    doanh; Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài). Là doanh nghiệp bảo hiểm

    được thành lập có một phần vốn hoặc 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm nước

    ngoài để kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

    tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

    -Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ

    sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài. (Tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong

    doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn

    30% vốn điều lệ.)

    Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ

    chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn

    toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt

    Nam.

    Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài không bị

    hạn chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có

    vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức và cá nhân nước ngoài; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh;

    các sản phẩm phục vụ cho những chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

    và bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội

    dung, phạm vi hoạt động sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với nhu

    cầu phát triển thị trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ thể:

    Trong năm hoạt động đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được

    phép mở một chi nhánh ngoài trụ sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sau 3

    năm kể từ khi hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu

    tư nước ngoài được phép mở thêm 2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm,

    môi giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của doanh nghiệp

    bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo nhu

    cầu phát triển thị trường và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

    Theo điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định:

    Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

    13

    – Công ty cổ phần bảo hiểm.

    – Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm.

    – Hợp tác xã bảo hiểm.

    – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

    * Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thì các

    doanh nghiệp bảo hiểm được chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh

    nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm

    nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ con người. Mặc dù đối tượng bảo

    hiểm nhân thọ là con người, nhưng so với các loại hình bảo hiểm con người khác nó có một số

    dâú hiệu đặc trưng sau: bảo hiểm nhân thọ thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù. Bảo

    hiểm nhân thọ là sự kết hợp giữa hình thức bảo hiểm và hình thức tiết kiệm vừa là hình thức

    đầu tư.

    Do thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm thường lớn, pháp luật có quy định cho phù

    hợp với tính chất và đặc điểm của loại hình nghiệp vụ bảo hiểm này, nhằm bảo vệ quyền lợi

    cho các bên tham gia quan hệ bảo hiểm. Chẳng hạn các quy định về đóng phí bảo hiểm của

    bên mua bảo hiểm, hoặc pháp luật quy định về vấn đề đầu tư vốn của loại hình doanh nghiệp

    bảo hiểm nhân thọ có sự khác biệt với hoạt động đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phi

    nhân thọ để bảo vệ sự an toàn trong thanh toán, tính hiệu quả trong hoạt động đầu tư cho

    doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích cho người tham gia bảo hiểm và cho cả doanh

    nghiệp bảo hiểm…

    – Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm

    phi nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và

    các nghiềp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

    Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ bảo hiểm trên mà Điều

    60 khoản 2 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định ” Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép

    đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh

    nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con

    người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ”. Vì thế trong các doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ta hiện

    nay có hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh

    nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chúng khác nhau không chỉ về tên gọi, nghiệp vụ kinh doanh

    mà trong những chế độ cụ thể, pháp luật có những quy định cho chúng khác nhau, đặc biệt là

    trong chế độ tài chính đối với hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này .

    1.3 Quy chế cấp giấy phép thành lập hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá

    sản doanh nghiệp bảo hiểm,

    Pháp luật hiện hành có quy định về điều kiện và thủ tục để được cấp giấy phép thành

    lập và hoạt động đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó có một số điều kiện quan trọng

    như điều kiện về vốn điều kiện về nhân sự như:

    – Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh

    nghiệp;

    14

    – Phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của

    Chính phủ (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam; Kinh doanh bảo hiểm

    nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam);

    – Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo

    hiểm…cụ thể: Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín,

    đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tổng giám đốc

    (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp, có thực

    tiễn quản lý kinh doanh hay quản lý nhà nước về bảo hiểm ít nhất 3 năm và phải thường trú tại

    Việt Nam trong thời gian đương nhiệm…

    – Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật

    này;

    – Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy

    định khác của pháp luật;

    * Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100%

    vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh giữa doanh nghiệp bảo hiểm nước

    ngoài với doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho

    phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam;

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm theo quy

    định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính tính tới thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy

    phép;

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tổng tài sản tối thiểu tương đương 2 tỷ đô la

    Mỹ vào năm trước năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép;

    – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt

    động kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ

    sở chính trong vòng 3 năm liền kề năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép.

    * Về Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định tại Luật

    Doanh nghiệp, Điều 64 của Luật Kinh doanh bảo hiểm cụ thể hoá trong 7 NĐ bao gồm:

    a) Đơn xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo mẫu do Bộ Tài chính quy định;

    b) Dự thảo điều lệ doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật

    Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. Dự thảo Điều lệ doanh nghiệp phải

    có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại

    diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập;

    c) Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo

    d) Xác nhận của ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam về mức vốn điều lệ gửi

    tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng đó;

    đ) Phương án hoạt động 5 năm đầu phù hợp với lĩnh vực kinh doanh xin cấp Giấy

    phép, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm,

    đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích

    kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát

    15

    16

    độc lập về tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    nước ngoài nơi đóng trụ sở chính trong 3 năm gần nhất;

    – Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:

    + Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh

    nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Trường hợp quy định của

    nước nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính không

    yêu cầu phải có văn bản chấp thuận thì phải có bằng chứng xác nhận việc này;

    + Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động

    kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt

    Nam;

    + Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình

    trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nước nơi doanh nghiệp

    bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính.

    Hồ sơ xin cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    được lập thành 3 (ba) bộ trong đó có 1 (một) bộ là bản chính, 2 (hai) bộ là bản sao. Hồ sơ đề

    nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu

    tư nước ngoài được lập thành 3 (ba) bộ, mỗi bộ gồm 1 (một) bản bằng tiếng Việt và 1 (một)

    bản bằng tiếng nước ngoài thông dụng. Các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng nước

    ngoài ra tiếng Việt phải được cơ quan công chứng Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp

    luật về công chứng. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ xin cấp Giấy

    phép.

    Pháp luật quy định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thu hồi giấy phép thành

    lập và hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể: Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập

    và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày

    nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối

    cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải

    thích lý do. Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh

    doanh.

    Pháp luật còn quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành

    lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đăng báo hàng

    ngày của báo trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5 số báo

    liên tiếp về những nội dung chủ yếu như sau: Tên, địa chỉ trụ sở chính, Chi nhánh, Văn phòng

    đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Mức vốn điều

    lệ và số vốn điều lệ đã góp; Họ, tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Số

    Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; Các nghiệp vụ bảo hiểm, nghiệp vụ

    môi giới bảo hiểm được phép kinh doanh.

    Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh

    nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy

    định của pháp luật để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Nếu quá

    thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt

    động thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động.

    17

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi

    một trong những nội dung sau đây: Tên doanh nghiệp; Vốn điều lệ; Mở hoặc chấm dứt hoạt

    động của chi nhánh, văn phòng đại diện; Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại

    diện; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm

    10% số vốn điều lệ trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc); Chia, tách,

    sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp…

    Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra

    một trong những trường hợp như: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin

    cố ý làm sai sự thật; Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà

    không bắt đầu hoạt động; Giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình

    thức doanh nghiệp; Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy

    phép thành lập và hoạt động; Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam

    kết với bên mua bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài có thể bị thu hồi

    giấy phép thành lập và hoạt động khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài nơi đóng trụ sở chính

    bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

    Trong trường hợp Bộ Tài chính cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, chấp

    thuận cho doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi một trong những nội dung quy định, Bộ Tài chính

    thông báo ngay bằng văn bản kèm theo bản sao giấy phép thành lập và hoạt động, quyết định

    thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động hoặc quyết định chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung

    giấy phép thành lập và hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp

    đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.

    Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt

    động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi

    đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh toán không

    thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Trong trường hợp có

    nguy cơ mất khả năng thanh toán (khi biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó thấp hơn

    biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định) thì doanh nghiệp bảo hiểm phải chủ động

    thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời phải báo cáo nguy cơ

    mất khả năng thanh toán cho Bộ Tài chính trong đó nói rõ về thực trạng tài chính, nguyên nhân

    dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và các biện pháp khắc phục….Trong trường hợp

    doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo phương án đã được

    chấp thuận, thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khôi phục khả

    năng thanh toán, gồm những biện pháp như: Bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu; Tái bảo hiểm; thu

    hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động; Củng

    cố tổ chức bộ máy và thay đổi người quản trị, điều hành của doanh nghiệp; Yêu cầu chuyển

    giao hợp đồng bảo hiểm; Các biện pháp khác.

    Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán

    theo yêu cầu của Bộ Tài chính thì Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soát khả

    năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanh nghiệp

    bảo hiểm.

    Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    – Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện phục khả năng thanh toán theo

    phương án đã được chấp thuận;

    18

    19

    Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao

    gồm:

    – Trụ sở chính;

    – Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là

    Chi nhánh) trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ

    thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo

    uỷ quyền;

    – Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp

    môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ

    các lợi ích đó;

    – Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi là địa điểm kinh doanh) là nơi hoạt

    động kinh doanh cụ thể, trực thuộc Chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi

    giới bảo hiểm.

    Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm muốn mở Chi nhánh, Văn

    phòng đại diện phải đáp ứng các điều kiện sau:

    – Vốn điều lệ thực có phải đảm bảo theo quy định của Bộ Tài chính;

    – Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu

    quả;

    – Không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong 3 năm liên tục ngay

    trước năm nộp hồ sơ. Doanh nghiệp bảo hiểm không vi phạm quy định về khả năng thanh

    toán;

    – Có Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

    – Người điều hành Chi nhánh, Văn phòng đại diện có kinh nghiệm và kiến thức chuyên

    môn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định

    của pháp luật;

    – Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định

    Hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện bao gồm:

    – Đơn xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền

    của doanh nghiệp, trong đó trình bày tóm tắt sự cần thiết, tên gọi, địa điểm, nội dung, phạm vi hoạt

    động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

    – Phương án hoạt động 3 năm đầu của Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong đó nêu rõ

    nhu cầu khách hàng; dự báo thị trường; nội dung, phạm vi hoạt động, các sản phẩm bảo hiểm

    dự kiến kinh doanh; dự kiến kết quả kinh doanh; tổ chức bộ máy, nhân sự; địa điểm đặt Chi

    nhánh, Văn phòng đại diện và cơ sở vật chất kỹ thuật;

    – Giấy tờ hợp lệ chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

    đáp ứng các điều kiện quy định.

    Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải

    trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong trường hợp từ chối

    chấp thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Trình Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Khái Niệm Chung Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Quy Định Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Fahasa Bị Tố Chiêu Trò Khi Bán Sách Giá 1.000 Đồng
  • Tiki Vàký Kết Hợp Tác Chiến Lược
  • 103 Câu Nhận Định Đúng Sai Môn Luật Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • 102 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Luật Thuế (Có Đáp Án)
  • Nhận Định Đúng Sai Môn Pháp Luật Về Thuế
  • Luật Thuế Xuất Nhập Khẩu Năm 2022
  • Luật Thuế Xuất Nhập Khẩu Năm 2022 Có Gì Mới?
  • Điểm Mới Về Luật Thuế Xnk Sửa Đổi Năm 2022?
  • Tổng hợp 103 Câu nhận định đúng sai môn Luật thuế được chúng tôi sưu tầm và hệ thống theo từng loại thuế và từng phần kiến thức. Hi vọng sẽ trở thành công cụ hữu ích giúp các bạn học tập và nghiên cứu pháp luật Thuế Việt Nam.

    1. Nhận định phần: Những vấn đề cơ bản pháp luật Thuế

    Quốc hội là một trong những cơ quan quyền lực Nhà nước có thẩm quyền quyết định về thuế.

    Nhận định 1.02

    Căn cứ vào mục đích điều tiết thì Thuế được phân loại thành Thuế đánh vào tài sản, Thuế đánh vào thu nhập và Thuế tiêu dùng.

    Nhận định 1.03

    Thuế là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

    Nhận định 1.04

    Thuế ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước tư bản.

    Nhận định 1.05

    Thuế mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp.

    Nhận định 1.06

    Chỉ có nhà nước mới có quyền thu thuế.

    Nhận định 1.07

    Thuế thu vào hàng hóa, dịch vụ là những loại thuế gián thu.

    Nhận định 1.08

    Nguồn của Luật Thuế là các Nghị định của Chính phủ.

    2. Nhận định phần: Thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

    Nhận định 2.01

    Các chủ thể kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ khi phát sinh thuế giá trị gia tăng đầu vào đều được khấu trừ khi tính thuế giá trị gia tăng.

    Nhận định 2.02

    Các sản phẩm là nông phẩm chưa qua chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế được doanh nghiệp thu mua và cung ứng ra thị trường là đối tượng chịu thuế GTGT.

    Nhận định 2.03

    Các hàng hóa, dịch vụ được quy định tại Điều 5 Luật thuế GTGT không là đối tượng chịu thuế GTGT trong mọi trường hợp.

    Nhận định 2.04

    Chỉ có các chủ thể sử dụng đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật mới được nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

    Nhận định 2.05

    Chủ thể kinh doanh đều được tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nếu tự nguyện đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

    Nhận định 2.06

    Dịch vụ nhập khẩu có phải chịu thuế GTGT không? Tại sao?

    Nhận định 2.07

    Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu không phải là đối tượng chịu thuế GTGT.

    Nhận định 2.08

    Hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT khi xuất khẩu thì phải chịu thuế GTGT.

    Nhận định 2.09

    Mọi hàng hóa xuất khẩu đều được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%.

    Nhận định 2.10

    Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT chỉ được áp dụng với chủ thể không sử dụng chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật.

    Nhận định 2.11

    Thuế Giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho kinh doanh hàng hóa chịu thuế và không chịu thuế thì được khấu trừ toàn bộ.

    Nhận định 3.01

    Giá tính thuế TTĐB với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập khẩu cộng với số tiền thuế nhập khẩu.

    Nhận định 3.02

    Giá tính thuế TTĐB là giá tính thuế nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu (nếu có).

    Nhận định 3.03

    Hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB là đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường.

    Nhận định 3.04

    Hàng hóa, dịch vụ xa xỉ đều là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

    Nhận định 3.05

    Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế chỉ đánh một lần duy nhất trong suốt quá trình lưu thông của hàng hóa, dịch vụ.

    Nhận định 3.06

    Thuế TTĐB chỉ điều tiết một lần duy nhất vào khâu lần đầu tiên làm xuất hiện hàng hóa trên thị trường.

    Nhận định 3.07

    Tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh xuất khẩu mua hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất để xuất khẩu nhưng không xuất khẩu mà tiêu thụ trong nước thì cơ sở sản xuất là người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.

    4. Nhận định phần: Thuế xuất khẩu và Thuế nhập khẩu

    Nhận định 4.01

    Doanh nghiệp chế xuất phải nộp thuế nhập khẩu khi bán hàng hóa cho danh nghiệp ở thị trường Việt Nam

    Nhận định 4.02

    Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu phi thuế quan không phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước Việt Nam.

    Nhận định 4.03

    Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập khẩu cộng tiền thuế nhập khẩu.

    Nhận định 4.04

    Giá tính thuế tiêu thụ được biệt đối với hàng hóa nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu.

    Nhận định 4.05

    Hành vi nhập khẩu máy jack pót, dụng cụ chơi gôn làm phát sinh thuế nhập khẩu, tiêu thụ đặc biệt và giá trị gia tăng.

    Nhận định 4.06

    Hàng hóa, dịch vụ khi xuất khẩu, nhập khẩu là đối tượng chịu thuế XK – NK.

    Nhận định 4.07

    Hàng hóa, dịch vụ xuất, nhập khẩu hợp pháp qua biên giới Việt Nam là đối tượng chịu thuế XK-NK.

    Nhận định 4.08

    Hàng hóa, dịch vụ khi xuất khẩu đều được áp dụng thuế xuất khẩu giá trị gia tăng 0%.

    Nhận định 4.09

    Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu hợp pháp qua cửa khẩu, biên giới Việt nam là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

    Nhận định 4.09

    Hệ quả pháp lý của việc áp dụng thuế suất thuế xuất khẩu 0% giống với áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hóa xuất khẩu.

    Nhận định 4.10

    Số lượng làm căn cứ tính thuế nhập khẩu là số lượng ghi trong hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc số lượng ghi trong chứng từ thanh toán.

    Nhận định 4.11

    Trường hợp phát hiện hàng hóa nhập khẩu thỏa mãn điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá, cơ quan hải quan được quyền áp dụng thuế chống bán phá giá với hàng hóa.

    Nhận định 4.12

    Việc xác định thuế suất thuế Xuất khẩu chỉ cần căn cứ vào giá nhập khẩu của hàng hóa nhập khẩu.

    Nhận định 4.13

    Tất cả các mặt hàng được bán ở khu vực phi thuế quan đều có giá thấp hơn so với cùng mặt hàng được bán ngoài thị trường.

    5. Nhận định phần: Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN)

    Nhận định 5.01

    Hành lý của người thực hiện hành vi xuất cảnh, nhập cảnh không là đối tượng chịu thuế của thuế XK, NK.

    Nhận định 5.02

    Hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

    Nhận định 5.03

    Mọi hành vi chuyển nhượng bất động sản duy nhất đều được miễn thuế thu nhập cá nhân.

    Nhận định 5.04

    Mọi khoản thu nhập thường xuyên của cá nhân đều được giảm trừ gia cảnh khi tính thuế thu nhập cá nhân.

    Nhận định 5.05

    Mọi khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân đều thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân.

    Nhận định 5.06

    Mọi khoản thu nhập hợp pháp của cá nhân đều là đối tượng chịu thuế TNCN.

    Nhận định 5.07

    Theo pháp luật thuế TNCN, kỳ tính thuế theo năm áp dụng đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân.

    Nhận định 5.08

    Thu nhập chịu thuế TNCN đối với tiền công, tiền lương bao gồm cả các khoản đóng bảo hiểm xã hội.

    Nhận định 5.09

    Thu nhập từ quà biếu, quà tặng là thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân.

    Nhận định 5.10

    Thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được dùng để tính giảm trừ gia cảnh khi xác định thu nhập tính thuế thu nhập cá nhân.

    6. Nhận định phần: Thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

    Nhận định 6.01

    Doanh nghiệp khi sử dụng hàng hóa do mình sản xuất ra để biếu tặng thì không phải kê khai nộp thuế.

    Nhận định 6.02

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập hợp pháp phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.

    Nhận định 6.03

    Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.

    Nhận định 6.04

    Mọi chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh đều là chi phí được khấu trừ khi tính thuế TNDN.

    Nhận định 6.05

    Nhận định 6.06

    Khoản chi hợp lý có hóa đơn, chứng từ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là chi phí được trừ khi tính thuế Thu nhập doanh nghiệp.

    Nhận định 6.07

    Tất cả các khoản thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp đều là thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Nhận định 6.08

    Tất cả các khoản thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế đều được tính theo biểu thuế tỉ lệ lũy tiến từng phần.

    Nhận định 6.09

    Tất cả những cơ sở kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng trở lên và thực hiện tốt chế độ hóa đơn, chứng từ đều được áp dụng phương pháp khấu trừ thuế khi tính thuế giá trị gia tăng.

    Nhận định 6.10

    Thu nhập chịu thuế là thu nhập tính thuế TNDN.

    7. Nhận định phần: Thuế đối với đất đai, tài nguyên và các lĩnh vực thuế khác

    Nhận định 7.01

    Diện tích đất tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với căn hộ chung cư là diện tích sàn của căn hộ.

    Nhận định 7.02

    Đất lấn chiếm không là đối tượng chịu thuế sử dụng dất phi nông nghiệp.

    Nhận định 7.03

    Đối tượng chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được áp dụng thuế suất tỷ lệ lũy tiến từng phần khi tính thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

    Nhận định 7.04

    Đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường là các loại hàng hóa, dịch vụ gây tác động xấu đến môi trường.

    Nhận định 7.05

    Đối tượng nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trong trường hợp đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Nhận định 7.06

    Hàng hóa thuộc diện chịu thuế TTĐB là đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường.

    Người nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải là tổ chức, cá nhân sử dụng đất phi nông nghiệp hợp pháp.

    Nhận định 7.07

    Tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế tài nguyên khi thực hiện hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam.

    Nhận định 7.08

    Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chỉ điều tiết vào hành vi sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật.

    Nhận định 7.09

    Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chỉ thu với hành vi sử dụng đất phi nông nghiệp hợp pháp.

    Nhận định 7.10

    Thuế bảo vệ môi trường chỉ điều tiết vào hành vi sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường.

    8. Pháp luật phần: Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế

    Nhận định 8.1

    Doanh nghiệp có hành vi trốn thuế thì bị xử phạt vi phạm hành chính và truy thu thuế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Pháp Luật Xuất Nhập Khẩu
  • Đề Thi Môn Pháp Luật Xuất Nhập Khẩu
  • Khái Quát Chung Về Thuế Xuất Khẩu, Nhập Khẩu
  • Khái Quát Về Thuế Xuất Khẩu Thuế Nhập Khẩu
  • Xuất Khẩu Là Gì Và Các Vấn Đề Liên Quan Đến Xuất Khẩu
  • Quy Định Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Chung Về Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Giáo Trình Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Tiểu Luận Khái Quát Về Kinh Doanh Bảo Hiểm & Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Đbqh Góp Ý Kiến Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ
  • Có Bao Nhiêu Loại Bảo Hiểm Và Phân Biệt Các Loại Như Thế Nào?
  • Tư vấn trực tiếp từ chuyên viên pháp lý : 0965 999 345 – 043 997 4288

    I. Bảo hiểm, kinh doanh bảo hiểm là gì ?

    – Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung – quỹ bảo hiểm – nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường. Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra.

    – Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm,trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiềnbảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy rasự kiện bảo hiểm.

    II. Nguyên tắc của hoạt động bảo hiểm kinh doanh

    • Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm cũng như doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm;
    • Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh;
    • Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tuân theo luật pháp quy định cho doanh nghiệp nói chung, và cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng;
    • Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít;
    • Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc an toàn tài chính.

    III. Hình thức của bảo hiểm kinh doanh 1. Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm

    a. Bảo hiểm thiệt hại gồm:

    – Bảo hiểm tài sản: Bao gồm tất cả các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là tài sản hữu hình, giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của tài sản bảo hiểm, là căn cứ để tính phí bảo hiểm và giới hạn thanh toán tiền bồi thường.

    Ví dụ như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu;Bảo hiểm thân tàu, thuyền, ô tô,…; Bảo hiểm hỏa hoạn

    – Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là phần trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm.

    Ví dụ như bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ sử dụng lao động…

    b. Bảo hiểm con người: là hình thức bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là khả năng lao động, sức khỏe và tính mạng con người, gồm:

    – Bảo hiểm nhân thọ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.

    – Bảo hiểm rủi ro khác: là loại hình bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là những rủi ro mất khả năng lao động, bệnh tật, tai nạn…

    2. Căn cứ vào tính chất hoạt động

    Bảo hiểm bắt buộc:là hình thức bảo hiểm được pháp luật nhà nước quy định bắt buộc phải bảo hiểm. Ví dụ như bảo hiểm ô tô, bảo hiểm xe máy…

    Bảo hiểm tự nguyện: Dựa theo nguyên tắc thỏa thuận, người tham gia bảo hiểm tự nguyện ký kết hợp đồng với người bảo hiểm theo nguyên tắc và điều kiện của bảo hiểm đã được pháp luật quy định.

    IV. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm. Theo quy định tại Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 thì các loại nghiệp vụ bảo hiểm bao gồm:

    1.Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

    đ)Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

    e)Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định.

    2.Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

    a)Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người;

    b)Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

    c)Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đườngkhông;

    g)Bảo hiểm thân tầu và trách nhiệm dân sự của chủ tầu;

    h)Bảo hiểm trách nhiệm chung;

    i)Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;

    k)Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;

    m)Các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định.

    V. Hợp tác và cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm.

    Theo quy định tại Điều 10 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì hợp tác và cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiển được quy định như sau:

    1.Doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hợptác và cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh bảo hiểm.

    2.Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

    b)Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọanhân viên hoặc khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanhnghiệp môi giới bảo hiểm khác;

    c)Khuyến mại bất hợp pháp;

    d)Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác.

    VI. Yêu cầu về vốn điều lệ đối với doanh nghiệp bảo hiểm

    Theo quy định của điều 5 nghị định 46/2007/NĐ-CP về kinh doanh bảo hiểm thì vốn điều lệ đối với doanh nghiệp bảo hiểm được quy định như sau:

    1. Vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

    2. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định được quy định tại Điều 4 Nghị định này và phải được bổ sung tương xứng với nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bộ Tài chính quy định cụ thể mức vốn điều lệ bổ sung.

    3. Trường hợp thay đổi vốn điều lệ, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải có đơn đề nghị và văn bản giải trình gửi Bộ Tài chính. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị và hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

    4. Doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập, tổ chức và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực, có số vốn điều lệ thấp hơn mức vốn pháp định quy định tại Điều 4 Nghị định này thì trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, doanh nghiệp bảo hiểm phải bổ sung đủ vốn điều lệ theo quy định.

    Hãy liên hệ ngay với chúng tôi nếu có thắc mắc, chúng tôi sẵn sàng giải đáp!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Fahasa Bị Tố Chiêu Trò Khi Bán Sách Giá 1.000 Đồng
  • Tiki Vàký Kết Hợp Tác Chiến Lược
  • Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm Là Như Thế Nào?
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Bảo Hiểm Tiền Gửi
  • Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Nhận Định Đúng Sai Môn Pháp Luật Về Thuế

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thuế Xuất Nhập Khẩu Năm 2022
  • Luật Thuế Xuất Nhập Khẩu Năm 2022 Có Gì Mới?
  • Điểm Mới Về Luật Thuế Xnk Sửa Đổi Năm 2022?
  • Biểu Thuế Suất Hàng Hóa Xuất Nhập Khẩu Tổng Hợp Năm 2022
  • Người Nộp Thuế Xuất Khẩu
  • 1 – Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa sản xuất trong nước là giá đã bao gồm tiền thuế GTGT.

    2 – Chỉ có cơ quan thuế mối có thẩm quyền thu thuế tiêu thụ đặc biệt.

    3 – Một tổ chức, cá nhân chỉ có thể là đối tượng nộp thuế của một sắc thuế.

    4 – Hàng hóa, dịch vụ xuất, nhập khẩu hợp pháp qua biên giới Việt Nam là đối tượng chịu thuế XK-NK.

    5 – Thuế nhập khẩu là thuế gián thu nên đối tượng nộp thuế nhập khẩu và người chịu thuế nhập khẩu là khác nhau.

    6 – Chỉ có các chủ thể sử dụng đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật mới được nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.

    7 – Mọi hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

    8 – Thuế thu vào hàng hóa, dịch vụ là những loại thuế gián thu.

    9 – Doanh nghiệp khi sử dụng hàng hóa do mình sản xuất ra để biếu tặng thì không phải kê khai nộp thuế.

    10 – Theo pháp luật thuế thu nhập cá nhân, kỳ tính thuế theo năm áp dụng đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân.

    11 – Hàng hóa, dịch vụ khi xuất khẩu, nhập khẩu là đối tượng chịu thuế XK – NK.

    12 – Tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế tài nguyên khi thực hiện hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ Việt Nam.

    13 – Giá tính thuế TTĐB là giá tính thuế nhập khẩu cộng thuế nhập khẩu (nếu có).

    14 – Trường hợp phát hiện hàng hóa nhập khẩu thỏa mãn điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá, cơ quan hải quan được quyền áp dụng thuế chống bán phá giá với hàng hóa.

    15 – Mọi hành vi vận chuyển hàng hóa qua biên giới Việt Nam đều phải nộpchịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu.

    16 – Hộ gia đình, cá nhân thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp cho nhau phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

    17 – Các sản phẩm là nông phẩm chưa qua chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế được doanh nghiệp thu mua và cung ứng ra thị trường là đối tượng chịu thuế GTGT.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 102 Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Luật Thuế (Có Đáp Án)
  • 103 Câu Nhận Định Đúng Sai Môn Luật Thuế
  • Đề Thi Pháp Luật Xuất Nhập Khẩu
  • Đề Thi Môn Pháp Luật Xuất Nhập Khẩu
  • Khái Quát Chung Về Thuế Xuất Khẩu, Nhập Khẩu
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 24/2000/qh10: Doanh Nghiệp Bảo Hiểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật 42/2019/qh14 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ Sửa Đổi 2022
  • Law 42/2019/qh14 Amendments Of Law On Insurance Business And Law On Intellectual Property
  • Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Số 61/2010/qh12 Năm 2010 Miễn Phí
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010 Số 61/2010/qh12
  • CHƯƠNG III

    DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

    MỤC 1

    CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG

    Điều 59. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

    Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước;

    2. Công ty cổ phần bảo hiểm;

    3. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

    4. Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh;

    5. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

    Điều 60. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm

    1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

    A) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm;

    B) Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất;

    C) Giám định tổn thất;

    D) Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn;

    Đ) Quản lý quỹ và đầu tư vốn;

    E) Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

    2. Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ.

    Điều 61. Nội dung kinh doanh tái bảo hiểm

    Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm:

    1. Chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác;

    2. Nhận bảo hiểm lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm.

    2. Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển thị trường bảo hiểm, thị trường tài chính của Việt Nam.

    Điều 63. Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    Các điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

    1. Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;

    2. Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật này;

    3. Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;

    4. Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm.

    Điều 64. Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động

    Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

    1. Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động;

    2. Dự thảo điều lệ doanh nghiệp;

    3. Phương án hoạt động năm năm đầu, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp;

    4. Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người quản trị, người điều hành doanh nghiệp;

    6. Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự kiến tiến hành.

    Điều 65. Thời hạn cấp giấy phép

    Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

    Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

    Điều 66. Lệ phí cấp giấy phép

    Doanh nghiệp bảo hiểm được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp lệ phí cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.

    Điều 67. Công bố nội dung hoạt động

    Sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố nội dung hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    Điều 68. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong những trường hợp sau đây:

    A) Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật;

    B) Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà không bắt đầu hoạt động;

    C) Giải thể theo quy định tại Điều 82 của Luật này;

    D) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;

    Đ) Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động;

    E) Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm.

    2. Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải đình chỉ ngay việc giao kết hợp đồng bảo hiểm mới, nhưng vẫn có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm và phải thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

    Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    3. Quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm được Bộ Tài chính công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

    Điều 69. Những thay đổi phải được chấp thuận

    1. Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi một trong những nội dung sau đây:

    A) Tên doanh nghiệp;

    B) Vốn điều lệ;

    C) Mở hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;

    D) Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện;

    Đ) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;

    E) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên;

    G) Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc);

    H) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp.

    2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố các nội dung thay đổi đã được chấp thuận theo quy định của pháp luật.

    (Còn nữa…)

    Theo chinhphu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số: 24/2000/qh10
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10 Của Quốc Hội
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10
  • Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Phá Sản
  • Nếu Công Ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Phá Sản Thì Quyền Lợi Khác Hàng Sẽ Ra Sao?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100