Top 12 # Xem Nhiều Nhất Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Lão Hạc / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Phân Tích Giá Trị Của Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Truyện Lão Hạc / 2023

C1 : Phân tích giá trị của các biện pháp nghệ thuật và cái nhìn nhân đạo của nhà văn Nam Cao qua truyện ngắn ” Lão Hạc”. TL : Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến cây bút truyện ngắn hiện thực xuất sắc đẩu thế kỉ XX của văn học Việt Nam. Qua các tác phẩm viết về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945, Nam Cao đã bộc lộ một cái nhìn nhân đạo, đầy yêu thương, trân trọng về những người đồng bào lao khổ của mình. Tư tưởng ấy cũng được thể hiện sâu sắc qua truyện ngắn Lão Hạc . Giá trị nhân đạo của tác phẩm trước hết được khẳng định qua tấm lòng đồng cảm của nhà văn đối với những số phận bất hạnh của các nhân vật trong tác phẩm. Những con người trong tác phẩm này đều là nạn nhân của xã hội phong kiến nửa thực dân. Họ phải gồng mình chống lại nạn đói, những hủ tục phong kiến,… Và mỗi người lại có những nỗi khổ riêng. Nhân vật chính, lão Hạc, là một người có hoàn cảnh vô cùng bi đát. Vợ mất sớm, đứa con trai duy nhất bỏ đi cao su. Một mình lão phải đối mặt với tuổi già, bệnh tật, cái đói và sự cô đơn. Nhà văn hay chính là nhân vật ông giáo trong tác phẩm đã không nén được những lời thương cảm: “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”. Con trai lão Hạc cũng là một người đáng thương. Vì nhà nghèo, anh không lấy được người con gái mình yêu. Phẫn chí, anh bỏ làng đi cao su, cái đất cao su “đi dễ khó về”, “khi đi trai tráng khi về bủng beo”. Anh rời cha già luôn mấy năm, thiên truyện khép lại nhưng hình bóng anh người đọc cũng chưa được mục kích, câu hỏi về số phận của anh đành rơi vào câm lặng… Ông giáo, một nhân vật có uy tín ở làng, trong thời buổi ấy cũng túng thiếu dặt dẹo, đang sống cái đời “sống mòn”, “rỉ ra, mốc lên”. Có thể nói, “Lão Hạc” đã thể hiện lòng thương, sự đồng cảm với tất thảy những lớp người bần cùng trong xã hội Việt Nam khi ấy. Nhưng sống trong nghèo đói mà không bị cái bần hàn bài mòn nhân phẩm, đó là một đặc điểm đáng quý của người nông dân Việt Nam. Và một biểu hiện quan trọng khác của giá trị nhân đạo trong tác phẩm là nhà văn đã biết khám phá để nâng niu trân trọng và ngợi ca phẩm chất ngời sáng trong tâm hồn những người đồng bào lao khổ của mình. Các nhân vật trong “Lão Hạc” hầu hết đều là những người giàu tình thương. Tình phụ tử ở nhân vật lão Hạc đặc biệt cảm động. Dù rất đau lòng nhưng lão chấp nhận nỗi cô đơn hờn tủi, đồng ý để con trai ra đi theo chí hướng của mình. Con đi rồi, lão chỉ còn con chó Vàng làm bạn. Lão Hạc yêu con chó Vàng đến độ gọi nó là “cậu” Vàng, ăn gì cũng cho nó ăn cùng, cho nó ăn ra bát như người… Có điều đó không đơn giản bởi lão là người yêu động vật. Hãy nghe lời tâm sự của lão với ông giáo: con chó ấy là của cháu nó để lại. Vậy là lão Hạc yêu con Vàng phần lớn bởi đó là kỉ vật duy nhất do con để lại. Lão đã dồn toàn bộ tình cha cho con chó ấy. Khi bán con Vàng, “lão khóc như con nít”, “mắt ầng ậng nước”…. Không chỉ vậy, lão thậm chí còn chấp nhận cái chết để giữ đất cho con. Cái đói rượt lão gần đến đường cùng. Vẫn còn một lối nhỏ khác là bán mảnh vườn để lấy tiền ăn nhưng lão nghĩ rằng: đó là mảnh vườn của mẹ cháu để lại cho cháu… Và lão chọn cái chết chứ nhất quyết không bán đất của con. Con trai lão Hạc vì phẫn chí mà đi cao su nhưng trước khi đi vẫn để lại cho cha ba đồng bạc. Cả ông giáo, dẫu gia đình vẫn bữa đói bữa no nhưng luôn cố gắng giúp đỡ, cưu mang người hàng xóm bất hạnh… Sống trong cái đói, cái nghèo nhưng không bị sự bần hàn làm cho quay quắt, hèn mọn, điều đáng quý nhất ở người nông dân Việt Nam trước Cách mạng là lòng tự trọng sáng ngời trong nhân phẩm. Lão Hạc thà nhịn đói chứ không chịu ăn không dù chỉ là củ khoai củ sắn của hàng xóm. Lão đã có thể bán vườn lấy tiền chống chọi với cái đói nhưng lão không làm vậy vì nhất quyết không ăn vào của con. Lão cũng có thể chọn con đường như Binh Tư đi đánh bả chó lấy cái ăn. Và lão không hề làm vậy. Con người ấy, đến lúc chết vẫn còn lo mình làm phiền hàng xóm nên dành dụm gửi gắm ông giáo tiền làm ma. Cảm động hơn cả là nỗi lòng quặn thắt của lão sau cái chết của con Vàng. Lão dằn vặt bởi nghĩ mình “đã đi lừa một con chó”. Lão Hạc ơi! Ẩn bên trong cái hình hài gầy gò, già nua của lão là một tâm hồn cao thượng và đáng trân trọng biết bao nhiêu! Đồng cảm với số phận của người lao động, đặc biệt là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, đồng thời ngợi ca những phẩm chất cao quý của họ là những biểu hiện quan trọng của giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao. Viết về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng, giọng văn Nam Cao lạnh lùng, bàng quan nhưng ẩn sâu trong đó là một tình thương sâu sắc và mãnh liệt. C2 : Chắc là phân tích phép tu từ, nghe mấy bà con cô bác khối 8 đi thi HSG Văn nói vậy ._. Chiệc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng Rướm thân trắng bao la thâu góp gió TL:

* Về nội dung:– Chỉ nghệ thuật so sánh: “Chiếc thuyền hăng như con tuấn mã”.– Tác dụng”+ Diễn tả thật ấn tượng khí thế băng tới dũng mãnh của con thuyền ra khơi. + Toát nên sức sống mạnh mẽ, vẻ đẹp hùng tráng của con thuyền, đó cũng chính là khí thế lao động đầy hứng khởi, dạt dào sức sống của người dân làng chài.– Chỉ ra nghệ thuật nhân hóa được thể hiện qua các từ ngữ: “im, mỏi, trở về, nằm, nghe”.Tác dụng của biện pháp nhân hóa: + Biến con thuyền vô tri, vô giác trở nên sống động, có hồn như con người. + Các từ “im, mỏi, trở về, nằm” cho ta cảm nhận được giây phút nghỉ ngơi thư giãn của con thuyền, giống như con người, sau một chuyến ra khơi vất vả cực nhọc, trở về. + Từ “nghe” gợi cảm nhận con thuyền như một cơ thể sống, nhận biết chât muối của biển đang ngấm dần, lặn dần vào da thịt của mình; cũng giống như những con người từng trải, với con thuyền, vị muối càng ngấm vào nó thì nó như càng dày dạn lên. Hình ảnh con thuyền vất vả cực nhọc đống nhất với với cuộc sống người dân chài.* Về hình thức: Có sự liên kết đối chiếu làm nổi bật sự khác nhau trong hình ảnh con thuyền ở mỗi khổ thơ. Diễn đạt mạch lạc, trong sáng, không sai, mắc các lỗi câu.

Giá Trị Nghệ Thuật Của Tác Phẩm Lão Hạc / 2023

Trung tâm gia sư sư phạm tphcm xin giới thiệu Nam Cao ( 1915 – 1951), tên khai sinh là Trần Hữu Tri, quê ở làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc, chuyên viết về đề tài người nông dân và bi kịch của những người trí thức nghèo trước Cách mạng tháng Tám. Sau cách mạng tháng Tám, Nam Cao đi theo Cách mạng, ông đã tận tụy đi theo phục vụ kháng chiến. Nam Cao là ngọn đèn sáng trong nền văn học Việt Nam. Tác phẩm ” Lão Hạc” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nam Cao với những giá trị nghệ thuật đặc sắc. Nam Cao là một người xuất thân từ nông dân, nên ông rất am hiểu về cuộc sống của người dân chân lấm tay bùn, ông thấu hiểu những nỗi cực khổ và bất công của người nông dân, nên khả năng miêu tả tâm lý nhân vật của Nam Cao thật sự đặc sắc, bởi vậy mà ông rất thành công trong mảng đề tài người nông dân.

Gia sư ở quận 11 nhận thấy truyện ngắn Lão Hạc có một cách kể chuyện đặc sắc, nhân vật kể chuyện được chọn ở đây là nhân vật ông giáo, là người chứng kiến câu chuyện từ đầu đến cuối và đây cũng là nhân vật rất thân thiết với lão Hạc, bởi vậy mà câu chuyện được kể ở đây sẽ rất chân thật cũng như khách quan và có tính xác thực cao, cuộc đời của Lão Hạc như một cuốn phim buồn, là cuộc đời đặc trưng cho rất nhiều người nông dân khác. Nam Cao còn có biệt tài trong cách xây dựng nhân vật, nhân vật Lão Hạc hiện lên qua hai khía cạnh: thứ nhất là qua ngoại hình và diễn biến tâm lý của chính nhân vật. Thứ hai là nhân vật Lão Hạc được miêu tả và đánh giá qua một số nhân vật khác như ông giáo, Binh Tư và vợ ông giáo. Lão Hạc là người có diễn biến tâm lý phức tạp thông qua việc lão luôn đắn đo về việc có bán con chó vàng hay không, nếu bán thì thấy như mình đang lừa một con chó, nếu như không bán thì không đủ tiền để nuôi cả chó lẫn người. Nhưng cuối cùng ông cũng bán được chó, và nội tâm cũng không còn giằng xé như lúc ban đầu chỉ bởi lão có một tình yêu thương và luôn lo lắng cho con trai của lão.

Gia sư tại quận 4 cho rằng Ông giáo cũng là người chứng kiến hết những bi kịch của cuộc đời lão Hạc, lúc đầu ông giáo cũng nghĩ rằng có mỗi con chó thôi, làm gì mà lão Hạc phải làm quá lên vậy, nhưng sau khi phải bán đi chỗ sách của mình thì ông giáo cũng hiểu. Và ông cũng thấy cuộc đời của lão Hạc đáng buồn, kể cả trước khi biết lão Hạc xin bả chó của Binh Tư, ông giáo đã nghĩa lão Hạc cũng nối gót theo Binh Tư hay sao, và rồi sau khi biết nguyên nhân lão Hạc chết, ông giáo càng cảm thấy xót xa. Lão Hạc còn xuất hiện trong lời nói và suy nghĩ của vợ ông giáo, thị nghĩ rằng đó là ông giáo tự muốn vậy, chứ sao phải sống cực khổ thế làm gì. Và cả Binh Tư, khi lão Hạc qua xin Binh Tư ít bả chó thì đã nghĩ ngay rằng Lão Hạc cũng có ngày nối gót hắn làm nghề ăn trộm. Nhưng hỡi ôi, có ai biết được rằng, lão Hạc dần dần lạnh nhạt với ông giáo là bởi lão không muốn phiền đến gia đình ông giáo, và xin bả chó chẳng phải để làm gì, chỉ để kết thúc cuộc đời của mình mà thôi.

Gia sư sinh viên tphcm nhận ra nghệ thuật xây dựng cốt truyện độc đáo cũng là yếu tố khiến cho lão Hạc trở thành tác phẩm điển hình, từ những sự việc tưởng chừng như vụn vặt, tác giả đã tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện, từ việc lão Hạc bán con chó vàng, đến việc lão nhờ ông giáo coi sóc mảnh vườn, đến việc lão xin bả chó và cuối cùng là cái chết thê thảm của lão Hạc. Ngoài ra tác phẩm còn có nhiều câu văn mang tính triết lí còn được sử dụng cho đến tận ngày nay.

Truyện ngắn lão Hạc đã thể hiện được phong cách nghệ thuật đặc sắc của Nam cao, ông xứng đáng là nhà văn hiện thực nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám.

Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

giá trị nghệ thuật của tác phẩm lão hạc

đặc sắc về nghệ thuật của truyện lão hạc

nêu nội dung và nghệ thuật bài lão hạc

nghệ thuật xây dựng nhân vật lão hạc

cảm hứng nghệ thuật của tác phẩm lão hạc

hoàn cảnh sáng tác lão hạc

nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm lão hạc

tình huống truyện lão hạc

ý nghĩa của văn bản lão hạc

Các bài viết khác…

Sử Dụng Mội Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh / 2023

Mục đích của bài học giúp học sinh biết sử dụng một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh.

1. Ôn tập văn bản thuyết minh.

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống, nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

Đặc điểm của văn bản thuyết minh:

Tri thức trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con ngưòi.

Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn.

Các phương pháp thuyết minh thường dùng:

2. Viết văn bản thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật.

Muốn cho văn bản thuyết minh được sinh động, hấp dẫn, người ta vận dụng thêm một số biện pháp nghệ thuật như: kể chuyện, tự thuật, đối thoại theo lối ẩn dụ, nhân hoá hoặc các hình thức vè, diễn ca,…

Các biện pháp nghệ thuật cần được sử dụng thích hợp, góp phần làm nổi bật đặc điểm của đối tượng thuyết minh và gây hứng thú cho người đọc.

Đọc văn bản Hạ Long – Đá và Nước trong SGK, trang 12 – 13 và trả lời câu hỏi.

Văn bản thuyết minh về sự kì lạ của thắng cảnh Hạ Long. Chỉ với Đá và Nước đã đem lại cho Hạ Long vẻ đẹp vô tận, luôn tạo sự bất ngờ đối vối du khách. Thiên nhiên Hạ Long còn thể hiện sự “thông minh đến bất ngờ” của tạo hoá.

Văn bản đã cung cấp tri thức khách quan về đối tượng. Tuy nhiên, đây là vấn đề rất khó đối vối những người không am hiểu về thiên nhiên Hạ Long.

Để làm sáng tỏ vấn đề được thuyết minh, tác giả đã sử dụng phương pháp liệt kê:

Nước tạo nên sự di chuyển. Và di chuyển theo mọi cách.

Tuỳ theo góc độ và tốc độ di chuyển của ta trên mặt nước quanh chúng…

Tuỳ theo cả hướng ánh sáng rọi vào chúng…

Thiên nhiên tạo nên thế giới bằng những nghịch lí đến lạ lùng…

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng biện pháp nhân hoá. Theo tác giả, Nước ở Hạ Long tạo cho du khách sự hưởng ngoạn tự do đủ kiểu. Sự hoạt động tự do đó cùng với ánh sáng mặt trời làm thay đổi thường xuyên các góc nhìn, thay đổi hình dáng sự vật làm cho chúng sông động, có hồn như con người.

… Đả chen chúc khắp vịnh Hạ Long kia, già đi, trẻ lại, trang nghiêm hơn hay bỗng nhiên nhí nhảnh, tinh nghịch hơn, buồn hơn hay vui hơn…

Đá trẻ trung ta chừng đã quen lắm bỗng bạc xoá lên, và rõ ràng trước mắt ta là một bậc tiên ông không còn có tuổi.

Cùng với việc sử dụng phép liệt kê, miêu tả và trí tưởng tượng, tác giả còn sử dụng phép lập luận giải thích… để tạo thành những dẫn chứng sinh động, có tính thuyết phục cao. Cuối cùng, tác giả nâng lên thành triết lí: Trên thế gian này, chẳng có gì là vô tri cả. cho đến cả Đá. Từ đó, người viết khen tạo hoá thông minh.

Với cách viết này, bài viết không những tạo sức thuyết phục đối vối ngưòi đọc, mà còn đánh thức ham muốn được đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Hạ Long.

a. Có thế xem Ngọc Hoàng xử tội ruồi xanh là văn bản có tính chất thuyết minh.

Tính chất thuyết minh thể hiện ở chỗ tác giả giới thiệu về loại ruồi một cách có hệ thống:

Những đặc tính chung về họ, giống, loại, các tập tính sinh sống: Họ hàng con rất đông, gồm Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm… Nơi ở là nhà vệ sinh, chuồng lợn, chuồng trâu, nhà ăn, quán vỉa hè…, bât cứ chỗ nào có thức ăn mà không đậy điệm con đều lấy làm nơi sinh sống.

Bên ngoài ruồi mang 6 triệu vi khuẩn, ruột chứa đến 28 triệu vi khuẩn. Chúng gieo rắc bệnh tả, kiết lị, thương hàn, viêm gan B.

Những đặc điểm về sinh đẻ: Một đôi ruồi, trong một mùa từ tháng 4 đến tháng 8, nếu đều mẹ tròn con vuông sẽ đẻ ra 19 triệu tỉ con ruồi.

Những đặc điểm cơ thể: Mắt ruồi như mắt lưới, một mắt chứa hàng triệu mắt nhỏ; chân ruồi có thê tiết ra chất dính làm cho nó đậu được trên mặt kính mà không trượt chân.

Từ đó, thức tỉnh mọi người giữ vệ sinh, phòng bệnh: Con người phải thường xuyên đậy điệm thức ăn, làm vệ sinh môi trường; nhà vệ sinh, chuồng trại phải xây theo lối mới…

Những phương pháp thuyết minh đã được sử dụng trong văn bản:

Phương pháp định nghĩa: ruồi thuộc họ côn trùng hai cánh, mắt lưới.

Phương pháp phân loại: các loại ruồi: Ruồi trâu, Ruồi vàng, Ruồi giấm…

Phương pháp nêu số liệu: số vi khuẩn, số lượng sinh sản của một cặp ruồi.

Phương pháp liệt kê: nêu các đặc điểm về giống loài, sinh đẻ, cơ thể, cách gây bệnh…

b. Bài thuyết minh này còn có nét đặc biệt là đã kết hợp phương pháp thuyết minh với các biện pháp nghệ thuật. Đó là các biện pháp hư cấu, nhân hoá.

c. Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn bản có tác dụng gây hứng thú cho người đọc, nhất là các bạn đọc nhỏ tuổi.

2. Bài tập này yêu cầu các em đọc đoạn văn trong SGK, trang 15 và nêu nhận xét về biện pháp nghệ thuật được sử dụng để thuyết minh.

Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn văn là biện pháp liệt kê (liệt kê các đặc điểm của chim cú):

Chim cú là loài chim ăn thịt, thường ăn thịt lủ chuột đồng, kẻ phá hoại mùa màng.

Chim cú là giống vật có lợi, là bạn của nhà nông.

Sở dĩ chim cú thường lui tới bãi tha ma là vì ở đó có lủ chuột đồng đào hang.

Biện pháp nghệ thuật này giúp người đọc hiểu rõ hơn về loài vật được coi là “người bạn của nhà nông”.

Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh Siêu Ngắn / 2023

TÌM HIỂU VIỆC SỬ DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG VĂN BẢN THUYẾT MINH 1. Ôn tập văn bản thuyết minh Trả lời câu hỏi (trang 12 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Tính chất của văn bản thuyết minh: khách quan, xác thực, hữu ích.

– Mục đích: cung cấp tri thức về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân của các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên, xã hội.

– Phương pháp thuyết minh thường dùng: nêu định nghĩa, giải thích; liệt kê; nêu ví dụ; so sánh, …

2. Viết văn bản thuyết minh có sử dụng một số biện pháp nghệ thuật Trả lời câu hỏi (trang 12 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Đối tượng thuyết minh: Sự kì lạ của Đá và Nước ở Hạ Long.

– Văn bản đã cung cấp những tri thức khách quan về đối tượng.

– Phương pháp thuyết minh được sử dụng: nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê.

– Để cho sinh động, tác giả còn sử dụng những biện pháp nghệ thuật: tưởng tượng, liên tưởng; nhân hóa.

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 14 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

a. Văn bản trên có tính thuyết minh.

– Tính chất thuyết minh được thể hiện ở việc giới thiệu về loài ruồi rất có hệ thống: tính chất chung về họ, giống, loài; tập tính sinh sống; cung cấp những kiến thức đáng tin cậy về loài ruồi.

– Những phương pháp thuyết minh được sử dụng trong văn bản: định nghĩa, phân loại, nêu số liệu, liệt kê.

b.

– Nét đặc biệt

+ Hình thức: giống như văn bản tường thuật một phiên toà.

+ Nội dung: giống như câu chuyện kể về loài ruồi.

– Những biện pháp nghệ thuật: nhân hoá, liệt kê.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 15 SGK Ngữ văn 9, tập 1):

– Biện pháp nghệ thuật được sử dụng là: kể chuyện.

– Đoạn văn thuyết minh chim cú gắn với hồi ức tuổi thơ, với nhận thức mê tín từ thuở bé. Tri thức khoa học đã đẩy lùi sự ngộ nhận ngây thơ ấy.

Hoctotnguvan.vn