Soạn Bài: Làng – Ngữ Văn 9 Tập 1

--- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ Dễ Hiểu Nhất
  • Soạn Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Dễ Hiểu
  • Cảm Nghĩ Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Bếp Lửa – Bằng Việt
  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Kim Lân trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Truyện ngắn Làng được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    * Tóm tắt:

    Ông Hai là một người làng chợ Dầu, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh chống Pháp nên ông phải đưa gia đình đi tản cư. Sống ở ngôi làng mới, lúc nào ông cũng nhớ về làng cũ và luôn theo dõi tin tức của cách mạng. Nhưng một hôm, bất ngờ ông nghe tin đồn làng chợ Dầu của ông theo giặc, ông thấy vô cùng đau khổ. Suốt nhiều ngày liền, ông không dám đi ra ngoài vì sợ nghe thấy mọi người bàn tán về làng mình. Nỗi đau khổ ông không biết giãi bày với ai, đành tâm sự với cậu con út để vơi bớt nỗi buồn. Cho đến khi chủ tịch xã lên cải chính làng chợ Dầu không theo Tây, ông vui mừng khoe với mọi người, mua quà bánh chia cho các con, ông càng thêm yêu và tự hào về làng mình.

    * Bố cục:

    Văn bản có thể được chia làm 3 đoạn:

    • Đoạn 3: còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin cải chính về việc làng chợ Dầu theo giặc.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Tình huống truyện đó là: Ông Hai là một người dân làng chợ Dầu rất yêu và tự hào về làng mình, vì chiến tranh mà ông và gia đình phải đi tản cư, ông nghe được tin đồn làng chợ Dầu theo giặc từ những người tản cư đi qua.

    Câu 2:

    * Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện:

    • Khi nghe được tin xấu “cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da tê rân rân,… ông không thể không tin”.
    • Ông đi về nhà, mặt cúi gằm xuống đất, về đến nhà ông nằm vật ra giường, nhìn lũ con mà cảm thấy tủi thân, nước mắt trào ra, ông đau đớn rít lên và nguyền rủa bọn phản quốc.
    • Những ngày sau đó, ông chỉ ở nhà, không dám đi đâu, luôn cảm thấy chột dạ khi có tiếng xì xầm ngoài đường.
    • Ông quyết định đoạn tuyệt vời làng để đi theo kháng chiến, theo cách mạng bởi “Làng thì yêu thật nhưng làng làm Việt Gian thì phải thù”.
    • Khi nghe tin cải chính làng chợ Dầu không theo giặc, ông Hai như được hồi sinh, mặt mày rạng rỡ hẳn lên, mua quà bánh chia cho các con, đi khoe với mọi người.

    * Ông Hai cảm thấy đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc cũng bởi vì ông yêu làng của ông như đứa con yêu mẹ của mình, tự hào và tôn thờ mẹ. Chính vì thế, ông càng yêu, càng tin tưởng, càng hãng diện bao nhiêu thì lại càng đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu.

    * Tâm trạng của ông Hai được biểu hiện: ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề, thậm chí ông còn tuyệt giao với tất cả mọi người, không dám bước chân ra ngoài vì xấu hổ.

    Câu 3:

    * Đoạn văn ông Hai trò chuyện với đứa con út thực chất là đoạn ông đang giãi bày nỗi lòng mình.

    * Qua những lời trò chuyện ấy, em thấy:

    • Tình yêu làng, yêu quê hương của ông Hai rất sâu nặng, ông như muốn khắc ghi vào trong tâm trí của đứa con út rằng “Nhà ta ở chợ Dầu”.
    • Tình yêu đất nước, tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, với Bác Hồ. Đây là tình cảm sâu nặng, bền vững, tuyệt đối không bao giờ thay đổi.

    * Tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở ông Hai đã gắn bó làm một và hòa quyện trong con người ông Hai, trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, bền vững. Những tình cảm đó không chỉ có ở nhân vật ông Hai mà ở trong tất cả những người con của dân tộc Việt Nam.

    Câu 4:

    * Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất chân thực, sâu sắc và sinh động

    * Ngôn ngữ nhân vật chủ yếu là khẩu ngữ, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

    4.2

    /

    5

    (

    6

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Công Bố Nghị Quyết Thành Lập Thành Phố Thủ Đức Thuộc Tphcm
  • Xin Ý Kiến Dự Thảo Ban Hành Nghị Quyết Của Hđnd Huyện Giao Ubnd Huyện Quyết Định Chủ Trương Đầu Tư Các Dự Án Đầu Tư Công Nhóm C Trên Địa Bàn Huyện
  • Cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Đầu Tư Đối Với Dự Án Không Thuộc Diện Quyết Định Chủ Trương Đầu Tư
  • Cấp Giấy Chứng Nhận Đầu Tư Dự Án Thuộc Diện Quyết Định Chủ Trương Đầu Tư Ubnd Thành Phố Hải Phòng
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “làng” (Kim Lân)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tích Hợp Liên Môn Chuyên Đề Ôn Tập Văn Bản Làng Kim Lân
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Văn Lớp 9 Bài Làng Của Kim Lân
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Làng
  • Thay Lời Ông Hai Kể Lại Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Bài 25. Trả Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Văn bản: “Làng” của Kim Lân

    I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Kim Lân.

    – Kim Lân (1920-2007), quê tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn.

    – Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

    – Ông là người viết ít nhưng rất thành công, có đóng góp quan trọng vào tiến tình phát triển của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

    2. Tác phẩm:

    a. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

    – Truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    b. Nội dung chính:Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

    – Phần 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Phần 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

    – Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    3. Tóm tắt nội dung:

    Câu chuyện kể về ông Hai Thu, người làng Chợ Dầu. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ Chí Minh, toàn dân tham gia kháng chiến, kể cả hình thức tản cư. Do hoàn cảnh neo đơn, ông Hai đã cùng vợ con lên tản cư ở Bắc Ninh dù rất muốn ở lại làng chiến đấu.

    Ở nơi tản cư, tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ bên cạnh để khoe về làng mình rằng làng ông có nhà cửa san sát, đường thôn ngõ xóm sạch sẽ. Ông khoe cái phòng thông tin, cái chòi phát thanh và phong trào kháng chiến của làng, khi kể về làng ông say mê, háo hức lạ thường.

    Ở đây, ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến, ông vui mừng trước những chiến thắng của quân dân ta. Nhưng rồi một hôm, ở quán nước nọ, ông nghe được câu chuyện của một bà dưới xuôi lên tản cư nói rằng làng Dầu của ông theo giặc. Ông vô cùng đau khổ, xấu hổ, cúi gầm mặt đi thẳng về nhà.

    Suốt ngày chẳng dám đi đâu, chẳng dám nói chuyện với ai, chỉ nơm nớp lo mụ chủ nhà đuổi đi. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai,không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần.

    Buồn khổ quá, ông tâm sự với đứa con út cho khuây khoả. Ông chớm có ý định về làng để xác minh sự thật nhưng lại tự mình phản đối vì nghĩ về làng, làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ bởi làng ông đã theo Tây mất rồi.

    Thế rồi một hôm có ông chủ tịch dưới xã lên chơi cải chính tin làng ông theo giặc. Ông lão sung sướng mùa tay đi khoe khắp làng rằng nhà ông đã bị đốt nhẵn. Tối hôm ấy, ông lại sang nhà bác Thứ kể về làng mình. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Tình huống truyện độc đáo, gây cấn.

    * Tình huống: Ông Hai rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình. Bất gờ, ở nơi tản cư, ông Hai nghe được tin làng Chợ * Dầu theo giặc.

    – Tình huống ấy khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tình yêu nước, mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, thiết tha. Đặt nhân vật vào tình huống gay gắt ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy tình yêu nước, tinh thần kháng chiến lớn rộng bao trùm lên tình yêu làng, nó chi phối và thống nhất, mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến.

    – Tình huống đối nghịch với tình cảm tự hào mãnh liệt về làng Chợ Dầu của ông Hai. Khác với suy nghĩ về một làng quê “Tinh thần cách mạng lắm” của ông. Tình huống ấy có vai trò: tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng,yêu nước ở ông Hai.

    2. Nhân vật ông Hai.

    a. Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe làng mình theo giặc đến kết thúc truyện.

    – Ở nơi tản cư, tình yêu làng của ông hai hoà nhập với tình yêu nước.

    – Xa làng, ở nơi tản cư ông nhớ làng da diết. Nỗi nhớ làng khiến ông thay tâm đổi tính: “Lúc nào ông cũng thấy bực bội, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm, hơi một tí là gắt, hơi một tý là chửi”.

    – Khi được nói chuyện về làng, ông vui náo nức đến lạ thường “Hai con mắt ông sáng hắt lên, cái mặt biến chuyển hoạt động”.

    – Ông quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, đến các tin chiến thắng của quân ta.

    + Tin một em bé trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cầm quốc kỳ trên tháp rùa.

    + Một anh trung đội trưởng sau khi giết được 7 tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng.

    + Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người mua hàng đã bắt sóng được tên quan hai bốt ngay giữa chợ mà “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên”.

    – Yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc kháng chiến của làng. Quan tâm tha thiết, nồng nhiệt đến cuộc kháng chiến. Đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc, là niềm vui mộc mạc của một tấm lòng yêu nước chân thành.

    ⇒ Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó với làng quê và cuộc kháng chiến.

    b. Khi nghe tin làng Dầu theo giặc:

    sững sờ,xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”

    + Nỗi bất hạnh lớn đã đổ sụp xuống đầu ông, ông sững sờ, xấu hổ, uất ức: “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui,niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ

    + Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông,cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

    + Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

    + Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớ, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.

    ⇒ Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    + Khi nghe tin làng Dầu theo giặc, tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai đã có một cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông Hai đã dứt khoát chọn lựa theo cách của ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây thì phải thù”, tình yêu làng nước đã rộng lớn hơn bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù xác định như thế, ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.

    + Khi mụ chủ nhà biết chuyện, có ý muốn đuổi khéo gia đình ông đi, ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây,phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi.Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây , tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn.Quê hương và Tổ quốc,bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.

    + Đau khổ, ông không biết tâm sự cùng ai ngoài đứa con bé bỏng. Yêu làng Dầu, ông muốn khắc sâu vào trái tim bé nhỏ của con tình cảm với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ, đó cũng chính là tấm lòng thuỷ chung “trước sau như một” với cách mạng của ông. Tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước.

    ⇒ Đau khổ tột cùng khi nghe tin làng mình theo giặc nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt với cuộc kháng chiến thì vẫn không hề thay đổi. Tình quê và lòng yêu nước thật sâu nặng và thiêng liêng. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến. Ngần ấy tuổi đầu mà nước mắt ông cứ ròng ròng khi nghĩ về làng. Nỗi đau ấy mới đáng trân trọng làm sao bởi đó là nỗi đau của một con người danh dự của Làng như chính bản thân mình.

    c. Khi tin đồn được cải chính:

    – Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu

    + Thái độ của ông thay đổi hẳn “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Ông lại chạy đi khoe khắp nơi “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.

    – Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân

    – Càng thêm yêu và tự hào về làng. Càng thêm tin tưởng vào cách mạng, tin tưởng vào cụ Hồ và Ủy ban kháng chiến.

    3. Tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến qua cuộc trò chuyện với đứa con út.

    – Trong tâm trọng bị dồn nén và bế tắc, ông Hai chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu sa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.

    – Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai:

    + Tình yêu sâu nặng với cái làng chợ Dầu (Ông muốn đứa con nhỏ, thực chất ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu).

    + Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ (Anh em đồng chí có biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông). Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng (Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).

    ⇒ Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với kháng chiến.Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất,hòa quyện như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    4. Nghệ thuật.

    -Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách. Truyện khắc hoạ thành công nhân vật ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước tha thiết. Đặc biệt, việc đặt nhân vật vào tình huống cụ thể góp phần thể hiện tính cách, diễn biến và chiều sâu tâm trạng nhân vật.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế. Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ.

    + Ngôn ngữ nhân vật lúc đối thoại, lúc độc thoại mang đậm chất nông thôn, nhuần nhuỵ mà đặc sắc, gợi cảm. Chân dung sống động, đẹp đẽ của người nông dân thời kỳ đầu kháng chiến. Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu ở điểm nhìn của nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ của nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.

    * Liên hệ:

    * Tác phẩm viết về tình cảm quê hương:

    – Lòng yêu nước (E-ren-bua)

    – Quê hương (Đỗ Trung Quân)

    – Quê hương (Giang Nam)

    – Quê hương (Tế Hanh)

    – Lao xao (Duy Khán)

    – Buổi học cuối cùng (Đô-đê)

    * Nét chung của các tác phẩm:

    – Tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước.

    – Xây dựng những biểu tượng đẹp, kì vĩ.

    – Những truyện ngắn và thơ trên đều viết về lòng yêu quê hương đất nước nhưng ở đó tình cảm mới đơn thuần là tình yêu, chưa mang tính khái quát, chưa có tình huống rõ ràng để bộc lộ tình yêu ấy.

    – Còn ở truyện ngắn “Làng”, tình yêu làng ở ông Hai đã trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng của mình.

    – Tình yêu làng quê phải được đặt trong tình yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.

    – “Làng” có tình huống được xây dựng hết sức đặc sắc, bất ngờ mà hợp lý. “Làng” là lời khẳng định giai đoạn tìm đường và nhận đường của nền văn hoá mới. Văn hoá kháng chiến chống Pháp trở thành một bộ phận của kháng chiến, tích cực tham gia kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến, cho niềm tin.

    Dàn ý phân tích truyện ngắn :Làng” của Kim lân

    I. Mở bài.

    – Về đề tài quê hương đất nước trong văn học: Đây là một đề tài quen thuộc của văn học nhưng không bao giờ xưa cũ.

    – Giới thiệu về tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân: Một tác phẩm viết về đề tài quen thuộc nhưng vẫn để lại những rung động sâu sắc trong lòng độc giả bởi tình yêu làng yêu nước và tinh thần kháng chiến của nhân vật ông Hai- nhân vật trung tâm của tác phẩm.

    II. Thân bài. 1. Hoàn cảnh đặc biệt của ông Hai:

    + Xuất thân là một người nông dân quanh năm gắn bó với lũy tre làng.

    + Một người yêu làng nhưng phải rời làng đi tản cư.

    2. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư. a. Tình cảm của ông Hai với làng.

    – Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng.

    – Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.

    – Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình.

    b. Tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến.

    – Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến.

    + Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.

    + Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng của quân ta.

    + Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên.

    ⇒ ngôn ngữ quần chúng, độc thoại ⇒ Tự hào, vui sướng, tin tưởng khi nghe tin về cuộc kháng chiến, đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc.

    2. Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc. a. Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    – Khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ:

    +”Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”.

    + Lặng đi không thở được, giọng lạc đi.

    + Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật ⇒ bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã.

    b. Về đến nhà trọ.

    – Nằm vật ra giường, tủi thân, nước mắt giàn ra.

    – Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”

    – Ông nắm chặt tay, rít lên: “chúng bay … mà nhục nhã thế này”.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc.

    c. Những ngày sau đó.

    – Không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà, chột dạ, nơm nớp, lủi ra một góc, nín thít ⇒ Nỗi ám ảnh nặng nề, biến thành sự sợ hái thường xuyên.

    – Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi: ông bế tắc, tuyệt vọng.

    – Ông băn khoăn trước quyết định “hay là về làng” nhưng cuối cùng ông đã gạt bỏ ngay ý nghĩ bởi đối với ông: “làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”.

    – Ông trò chuyện với đứa con út để khẳng định thêm : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.

    3. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính.

    – Thái độ ông Hai thay đổi hẳn:

    + ” cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”.

    + mồm bỏm bẻm nhai trầu, mắt hấp háy.

    + Chạy đi khoe khắp nơi về làng của mình.

    ⇒ Vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, cũng đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai.

    III. Kết bài

    – Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

    – Liên hệ tới lòng yêu làng quê, yêu đất nước hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Truyện Ngắn Làng
  • 10 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long Hay Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Siêu Ngắn
  • Bài 21. Phương Pháp Tả Cảnh
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Của Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9
  • Các Đề Văn Về Bài Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Tập Đề Đọc Hiểu Làng Của Kim Lân
  • Bài Làng(Tiết 2) Bai 1 Langkim Lantiet 2 Ppt
  • Đề Kiêm Tra 1 Tiết Văn Bản Làng
  • On Tap Doc Hieu Van Ban
  • Soạn Bài Bố Cục Của Văn Bản
  • I. Các câu hỏi xoay quanh bài Làng

    Câu 2: Trong “Làng”, Kim Lân có kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị giặc đốt, đốt nhẵn. Chi tiết này dường như vô lý. Ý kiến của em như thế nào? Ghi lại vắn tắt.

    Gợi ý trả lời

    Trong “Làng”, chi tiết kể về ông Hai cứ múa tay lên mà khoe nhà ông bị đốt nhẵn… Mới đọc chi tiết này, ta thấy dường như vô lý bởi ngôi nhà là cả một tài sản quá lớn. Hơn thế nó còn gắn với bao kỷ niệm vui buồn rất thiêng liêng của mỗi con người. Mất nó ai mà không xót xa đau đớn ? Nhưng ông Hai lại có cử chỉ “Múa tay lên để khoe” đó là biểu hiện của tâm trạng sung sướng, sung sướng đến tột độ. Tâm trạng này dường như có vẻ không bình thường? Không ! Đặt ông Hai trong hoàn cảnh của “Làng”, làng Dầu đang bị hai tiếng việt gian theo tây thì ông Hai vui sướng sao được vì nhà bị tây đốt là bằng chứng hùng hồn rằng làng Dầu của ông vẫn theo kháng chiến, theo cách mạng, đó là một làng quê anh hùng, đứng dậy chống thực dân Pháp. Chắc hẳn mất nhà ông Hai cũng đau lắm chứ, xót xa lắm chứ. Nhưng dù thế nào thì nhà còn có thể xây dựng lại được, song danh dự của làng đâu dễ lấy lại? Ông đã quên ??? sự mất mát riêng để tự hào sung sướng trong vẻ đẹp, sức mạnh chung của làng quê, đất nước, thế đấy, niềm vui, nỗi buồn của ông Hai luôn gắn liền với vận mệnh của Làng Dỗu. Thế mới biết ông Hai yêu làng quê tha thiết đến chừng nào! Tình yêu làng quê được mở rộng, hoà quện trong tình yêu tổ quốc thật sâu nặng và thiêng liêng.

    Câu 4: Vì sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hương về làng Chợ Dầu nhưng Kim Lân lại đặt tên truyện là “Làng” mà không phải là “Làng Chợ Dầu” chẳng hạn?

    Câu 5: Phân tích đoạn trích sau để thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại đặc sắc của Kim Lân trong tác phẩm Làng, nghệ thuật đó giúp gì cho việc thể hiện nội tâm nhân vật?

    Gợi ý trả lời

    Ngôn ngữ đối thoại ở đoạn này rất sinh động, góp phần bộc lộ tâm trạng và tính cách nhân vật. Ngôn ngữ đối thoại mà mang tính chất độc thoại, như lời tự giãi bày, tự minh oan. Ông Hai nói với con những câu mà đã biết chắc câu trả lời. Những câu hỏi ấy cũng mang bao nhiêu nỗi nhớ, bao bộn bề, giằng xé trong lòng ông. Rất yêu làng, nhớ làng, muốn về làng, nhưng tình cảm với kháng chiến còn cao hơn. Đau buồn tưởng làng theo giặc nhưng bố con ông Hai một lòng thành kính theo Cụ Hồ, theo kháng chiến. Cả hai tình cảm ấy đều mãnh liệt nhưng thống nhất trong tình yêu nước, tinh thần kháng chiến. Đó cũng là nét mới trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai – người nông dân trong thời đại cách mạng và kháng chiến.

    Một số dạng bài đọc – hiểu trong các đề kiểm tra, đề thi vào lớp 10 các em có thể gặp với tác phẩm Làng này: Đề đọc – hiểu 1

    Cho đoạn trích sau trong tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân và trả lời câu hỏi

    “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây…”, cái câu nói của người đàn bà tản cư hôm trước lại dội lên trong tâm trí ông.

    Hay là quay về làng?…

    Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đối ngay. Về làm gì ở cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ…

    Nước mắt ông lão giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây(…)

    Ông Hai nghĩ rợn cả người. Cả cuộc đời đen tối, lầm than cũ nổi lên trong ý nghĩ ông. Ông không thể về cái làng ấy được nữa. Về bây giờ ra ông chịu mất hết à? Không thể được! Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù.”

    a) Đoạn trích trên thuộc tác phầm nào, của tác giả nào? Ghi rõ thời gian sáng tác tác phẩm.

    b) Nêu tinh huống truyện cơ bản của tác phẩm trên.

    c) Câu “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây..” là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?

    d) Có bạn cho rằng đoạn trích trên đã sử dụng chủ yếu hình thức ngôn ngữ độc thoại, lại có bạn cho rằng đó là đọc thoại nội tâm. Ý kiến của em thế nao?

    Gợi ý làm bài

    a) Đoạn trích đó nằm trong truyện Làng của nhà văn Kim Lân, truyện được viết năm 1948, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

    b) Truyện Làng đươc xây dựng dựa trên tình huống gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước cảu nhân vật ông Hai. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc lập tể mà chính ông nghe được từ những người tản cư dưới xuôi lên.

    c) Câu nói đó là lời dẫn trực tiếp.

    d) Đoạn văn trích này chủ yếu dùng ngôn ngữ độc thoại nội tam, đó là những lời nói bên trong của nhân vật, không nói ra thành tiếng.

    Đề đọc – hiểu 2

    Tâm trạng nhân vật ông Hai (Làng – Kim Lân) trong những ngày nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc được tả như sau:

    Ông Hai vẫn trằn trọc không sao ngủ được. Ông hết trở mình bên này lại trở mình bên kia, thở dài. Chợt ông lão lặng hẳn đi, chân tay nhủn ra, tưởng chừng không thể cất lên được… có tiếng nói léo xéo ở gian trên. Tiếng mụ chủ… Mụ nói cái gì vậy? Mụ nói cái gì mà lào xào thế? Trống ngực ông lão đập thình thịch. Ông lão nín thở, lắng tai nghe ra bên ngoài…

    (Làng, Kim Lân)

    1. Nếu lược bỏ các dấu ba chấm và câu hỏi trong đoạn văn trên thì cách miêu tả nhân vật và giá trị biểu cảm của đoạn văn có gì thay đổi? Vì sao?

    2. Trong một đoạn trích của Truyện Kiều đã học cũng có bốn câu thơ dùng câu hỏi để diễn tả tâm trạng nhân vật. Hãy chép lại những câu thơ đó (ghi rõ tên đoạn trích).

    3.

    a, Viết một câu văn nhận xét tâm trạng nhân vật ông Hai trong đoạn văn trên.

    b, Dùng câu đã viết làm mở đoạn, hãy viết tiếp khoảng 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn.

    c, Đoạn văn em vừa viết được trình bày theo cách nào?

    Gợi ý làm bài

    1. Nếu lược bỏ các dấu ba chấm và câu hỏi trong đoạn văn trên thì cách miêu tả nhân vật vẫn không thay đổi: tâm trạng nhân vật vẫn được miêu tả qua cử chỉ, hành động và độc thoại nội tâm. Nhưng giá trị biểu cảm của đoạn văn sẽ ảnh hưởng: tâm trạng lo lắng buồn bã, sợ hãi và nghe ngóng của ông Hai không rõ nữa, tốc độ phát triển nhân vật cũng nhanh hơn.

    2. Bốn câu thơ có dùng câu hỏi diễn tả tâm trạng nhân vật trong Truyện Kiều là: Buồn trông cửa bể chiều hôm, Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? Buồn trông ngọn nước mới sa, Hoa trôi man mác biết là về đâu? (Kiều ở lầu Ngưng Bích)

    3.

    a, Viết một câu văn nhận xét tâm trạng nhân vật ông Hai trong đoạn văn trên Tâm trạng nhân vật ông Hai (Làng – Kim Lân) lo lắng, buồn bã sau khi nghe tin làng mình theo giặc và ông phấp phỏng, âu lo nghe ngóng mụ chủ nhà, sợ bị đuổi đi.

    b, Dùng câu đã viết làm mở đoạn, hãy viết tiếp khoảng 10 câu để hoàn chỉnh đoạn văn. Trong đoạn văn cần làm rõ: Tình yêu làng của ông Hai khi ở nơi tản cư Tâm trạng ông Hai trước và sau khi nghe tin làng Dầu theo giặc.

    c, Các em tự đánh giá lại đoạn văn của mình vừa thực hiện ở trên.

    Đề đọc – hiểu 3

    Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

    “Cả làng chúng nó Việt gian, theo Tây…” cái câu nói của người đàn bà tản cư hôm trước lại dội lên trong tâm trí ông. Hay là quay về làng?… Vừa chớm nghĩ như vậy, lập tức ông lão phản đối ngay. Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ… Nước mắt ông giàn ra. Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây. Ông lão nghĩ ngay đến mấy thằng kì lí chuyên môn khua khoét ngày trước lại ra vào hống hách trong cái đình…”

    1. Nêu nội dung của đoạn văn?

    2. Câu văn “Hay là quay về làng?…” thuộc kiểu câu nào chia theo mục đích nói?

    3. Dấu ngoặc kép trong đoạn văn có tác dụng gì?

    4. Có ý kiến cho rằng: Thành công trong cách xây dựng tình huống truyện ngắn Làng là nhà văn đã đặt ông Hai vào những giằng xé nội tâm để buộc nhân vật phải lựa chọn giữa tình yêu làng và tình yêu nước.

    Em hãy viết một đoạn văn khoảng 12 câu lý giải ý kiến trên. Trong đoạn văn có sử dụng một câu hỏi tu từ và một câu có chứa khởi ngữ.

    Gợi ý làm bài

    1. Nội dung của đoạn văn: Sự giằng xé nội tâm của nhân vật ông Hai giữa việc quay về làng hay ở lại.

    2. Câu văn “Hay là quay về làng?…” thuộc kiểu câu nghi vấn.

    3. Tác dụng dấu ngoặc kép: Đánh dấu lời thoại trực tiếp

    4. Định hướng ý:

    • Làm rõ tình yêu làng và tình yêu nước của ông Hai trước và sau khi nghe tin làng Dầu theo giặc.
    • Trước đây, tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này; ông Hai buộc phải lựa chọn đau đớn giữa quê hương và Tổ quốc, giữa nghĩa nước với tình làng. Điều đó không đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ.
    • Một cuộc xung đột nội tâm gay gắt giữa tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước đã diễn ra ở ông Hai. Ông đã dứt khoát lựa chọn theo cách của mình: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Tình yêu nước đã rộng lớn hơn, bao trùm lên tình cảm với làng quê. Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là vẻ đẹp tâm hồn cao cả của con người Việt Nam, khi sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để sống với tình cảm chung của cả cộng đồng, của cả dân tộc và đất nước. Nhưng dù đã xác định như thế, ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà ông càng xót đau, tủi hổ.

    Đề đọc – hiểu 4

    Cho đoạn văn sau:

    (1) Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra.(2) Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? (3) Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư ? (4) Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu …(5) Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên: – (6) Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.

    (Ngữ Văn 9 tập 1- Nhà xuất bản Giáo dục 2022)

    1. Cho biết đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Ai là tác giả? Nêu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm đó?

    2. Xác định những câu là lời độc thoại nội tâm trong đoạn văn trên. Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật?

    3. Hãy viết một đoạn văn giới thiệu về nhân vật “ông lão” trong tác phẩm được xác định ở câu hỏi 1 (viết không quá nửa trang giấy thi).

    Gợi ý làm bài

    1. Đoạn văn trên trích trong tác phẩm Làng của Kim Lân. Hoàn cảnh sáng tác: 1948 những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    2. Độc thoại nội tâm: câu 2, 3, 4. Thể hiện tâm trạng: nỗi đau đớn, xót xa của ông Hai, thương thân, thương con khi nghĩ đến những đứa con của mình bị hắt hủi, xa lánh vì chúng là trẻ con của làng Chợ Dầu (trong tình huống có tin làng Chợ Dầu theo giặc).

    3. Cần nêu các ý sau:

    • Ông Hai – người nông dân quê ở làng Chợ Dầu – là người có tình yêu làng tha thiết, mãnh liệt.
    • Ông luôn kể và khoe, tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Đi sơ tán, ông nhớ không nguôi về làng mình, nhớ những ngày ở làng tích cực chuẩn bị kháng chiến: đào đường, đắp ụ…
    • Nghe tin làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây, ông choáng váng, đau đớn, tủi nhục… Ông đã trải qua những ngày căng thẳng, đấu tranh tư tưởng gay gắt giữa một bên là tình yêu làng, một bên là lòng trung thành với cách mạng và kháng chiến.
    • Khi tin được cải chính, ông vô cùng vui sướng, đi khoe về làng – mặc dù nhà ông đã bị đốt nhẵn… Tình yêu làng và yêu nước trong ông đã hòa làm một.
    • Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

    II. Các đề văn về bài Làng – Kim Lân

    Đề 1: Cảm nhận về tình yêu làng của ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Đề 2: Phân tích tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng

    Đề 3: Phân tích truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Đề 4: Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng

    Đề 5: Tóm tắt truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Đề 6: Cảm nhận về tình yêu làng của ông Hai trong truyện Làng

    Đề 7: Phân tích tình huống độc đáo trong truyện ngắn Làng (Kim Lân)

    Đề 8: Truyện ngắn Làng của Kim Lân gợi cho em những suy nghĩ gì?

    Đề bài liên hệ mở rộng tác phẩm Làng với các tác phẩm khác:

    Đề 9: Tình huống truyện độc đáo trong tác phẩm Làng và Chiếc lược ngà

    Với các đề văn bài Làng cùng các câu hỏi xoay quanh bài Làng – Kim Lân ở trên, Đọc tài liệu đã tổng hợp đầy đủ những nội dung chính xoay quanh tác phẩm, các em học sinh có thể từ đó liên hệ vào với đề bài cụ thể của mình để triển khai thành những bài văn chi tiết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện Làng Của Kim Lân.
  • Soạn Bài Làng Của Kim Lân
  • Soạn Bài Làng : Soạn Văn 9 Bài Làng Hay Và Siêu Ngắn Gọn Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Làng
  • Soạn Bài Làng Của Nguyễn Duy
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: Làng (Kim Lân)

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Thcs Đào Duy Từ Hà Nội
  • Soạn Bài: Trong Lòng Mẹ – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Trong Lòng Mẹ”
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu Của Nguyên Hồng)
  • Văn bản: “Làng” của Kim Lân

    I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Kim Lân.

    – Kim Lân (1920-2007), quê tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn.

    – Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

    – Ông là người viết ít nhưng rất thành công, có đóng góp quan trọng vào tiến tình phát triển của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX.

    2. Tác phẩm:

    a. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:

    – Truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    b. Nội dung chính:Tác phẩm đề cập tới tình yêu làng quê và lòng yêu nước cùng tinh thần kháng chiến của người nông dân phải rời làng đi tản cư khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra được thể hiện một cách chân thực , sâu sắc và cảm động ở nhân vật ông Hai.

    c. Bố cục: 3 phần:

    – Phần 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Phần 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

    – Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    3. Tóm tắt nội dung:

    Câu chuyện kể về ông Hai Thu, người làng Chợ Dầu. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, theo lời kêu gọi của cụ Hồ Chí Minh, toàn dân tham gia kháng chiến, kể cả hình thức tản cư. Do hoàn cảnh neo đơn, ông Hai đã cùng vợ con lên tản cư ở Bắc Ninh dù rất muốn ở lại làng chiến đấu.

    Ở nơi tản cư, tối nào ông cũng sang nhà bác Thứ bên cạnh để khoe về làng mình rằng làng ông có nhà cửa san sát, đường thôn ngõ xóm sạch sẽ. Ông khoe cái phòng thông tin, cái chòi phát thanh và phong trào kháng chiến của làng, khi kể về làng ông say mê, háo hức lạ thường.

    Ở đây, ngày nào ông cũng ra phòng thông tin để nghe tin tức kháng chiến, ông vui mừng trước những chiến thắng của quân dân ta. Nhưng rồi một hôm, ở quán nước nọ, ông nghe được câu chuyện của một bà dưới xuôi lên tản cư nói rằng làng Dầu của ông theo giặc. Ông vô cùng đau khổ, xấu hổ, cúi gầm mặt đi thẳng về nhà.

    Suốt ngày chẳng dám đi đâu, chẳng dám nói chuyện với ai, chỉ nơm nớp lo mụ chủ nhà đuổi đi. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai,không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần.

    Buồn khổ quá, ông tâm sự với đứa con út cho khuây khoả. Ông chớm có ý định về làng để xác minh sự thật nhưng lại tự mình phản đối vì nghĩ về làng, làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ bởi làng ông đã theo Tây mất rồi.

    Thế rồi một hôm có ông chủ tịch dưới xã lên chơi cải chính tin làng ông theo giặc. Ông lão sung sướng mùa tay đi khoe khắp làng rằng nhà ông đã bị đốt nhẵn. Tối hôm ấy, ông lại sang nhà bác Thứ kể về làng mình. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Tình huống truyện độc đáo, gây cấn.

    * Tình huống: Ông Hai rất yêu cái làng Chợ Dầu của mình. Bất gờ, ở nơi tản cư, ông Hai nghe được tin làng Chợ * Dầu theo giặc.

    – Tình huống ấy khiến ông đau xót, tủi hổ, day dứt trong sự xung đột giữa tình yêu làng quê và tình yêu nước, mà tình cảm nào cũng mãnh liệt, thiết tha. Đặt nhân vật vào tình huống gay gắt ấy, tác giả đã làm bộc lộ sâu sắc cả hai tình cảm nói trên ở nhân vật và cho thấy tình yêu nước, tinh thần kháng chiến lớn rộng bao trùm lên tình yêu làng, nó chi phối và thống nhất, mọi tình cảm khác trong con người Việt Nam thời kháng chiến.

    – Tình huống đối nghịch với tình cảm tự hào mãnh liệt về làng Chợ Dầu của ông Hai. Khác với suy nghĩ về một làng quê “Tinh thần cách mạng lắm” của ông. Tình huống ấy có vai trò:  tạo tâm lí, diễn biến gay gắt trong nhân vật, làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng,yêu nước ở ông Hai.

    2. Nhân vật ông Hai.

    a. Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe làng mình theo giặc đến kết thúc truyện.

    a. Trước khi nghe tin dữ:

    – Ở nơi tản cư, tình yêu làng của ông hai hoà nhập với tình yêu nước.

    – Xa làng, ở nơi tản cư ông nhớ làng da diết. Nỗi nhớ làng khiến ông thay tâm đổi tính: “Lúc nào ông cũng thấy bực bội, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm, hơi một tí là gắt, hơi một tý là chửi”.

    – Khi được nói chuyện về làng, ông vui náo nức đến lạ thường “Hai con mắt ông sáng hắt lên, cái mặt biến chuyển hoạt động”.

    – Ông quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, đến các tin chiến thắng của quân ta.

    + Tin một em bé trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cầm quốc kỳ trên tháp rùa.

    + Một anh trung đội trưởng sau khi giết được 7 tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng.

    + Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người mua hàng đã bắt sóng được tên quan hai bốt ngay giữa chợ mà “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên”.

    – Yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc kháng chiến của làng. Quan tâm tha thiết, nồng nhiệt đến cuộc kháng chiến. Đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc, là niềm vui mộc mạc của một tấm lòng yêu nước chân thành.

    ⇒ Ông Hai là người nông dân có tính tình vui vẻ, chất phác, có tấm lòng gắn bó với làng quê và cuộc kháng chiến.

    b. Khi nghe tin làng Dầu theo giặc:

    sững sờ,xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”

    + Nỗi bất hạnh lớn đã đổ sụp xuống đầu ông, ông sững sờ, xấu hổ, uất ức: “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui,niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ

    + Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ  trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông,cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

    + Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ  trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

    + Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm nớ, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.

    ⇒ Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước cái tin làng mình theo giặc.

    + Khi nghe tin làng Dầu theo giặc, tình yêu làng quê và tinh thần yêu nước của ông Hai đã có một cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông Hai đã dứt khoát chọn lựa theo cách của ông: “Làng thì yêu thật nhưng làng đã theo Tây thì phải thù”, tình yêu làng nước đã rộng lớn hơn bao trùm lên tình cảm với làng quê. Nhưng dù xác định như thế, ông Hai vẫn không thể dứt bỏ tình cảm với làng quê, vì thế mà càng đau xót, tủi hổ.

    + Khi mụ chủ nhà biết chuyện, có ý muốn đuổi khéo gia đình ông đi, ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng  khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây,phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi.Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây , tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn.Quê hương và Tổ quốc,bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Mối mâu thuẫn trong nội tâm và tình thế của nhân vật như đã thành sự bế tắc, đòi hỏi phải được giải quyết.

    + Đau khổ, ông không biết tâm sự cùng ai ngoài đứa con bé bỏng. Yêu làng Dầu, ông muốn khắc sâu vào trái tim bé nhỏ của con tình cảm với làng, với kháng chiến, với Cụ Hồ, đó cũng chính là tấm lòng thuỷ chung “trước sau như một” với cách mạng của ông. Tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước.

    ⇒ Đau khổ tột cùng khi nghe tin làng mình theo giặc nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt với cuộc kháng chiến thì vẫn không hề thay đổi. Tình quê và lòng yêu nước thật sâu nặng và thiêng liêng. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu xa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến. Ngần ấy tuổi đầu mà nước mắt ông cứ ròng ròng khi nghĩ về làng. Nỗi đau ấy mới đáng trân trọng làm sao bởi đó là nỗi đau của một con người danh dự của Làng như chính bản thân mình.

    c. Khi tin đồn được cải chính:

    – Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu

    + Thái độ của ông thay đổi hẳn “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. Ông lại chạy đi khoe khắp nơi “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.

    – Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân

    – Càng thêm yêu và tự hào về làng. Càng thêm tin tưởng vào cách mạng, tin tưởng vào cụ Hồ và Ủy ban kháng chiến.

    3. Tấm lòng của ông Hai với làng quê, đất nước, với cuộc kháng chiến qua cuộc trò chuyện với đứa con út.

    – Trong tâm trọng bị dồn nén và bế tắc, ông Hai chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời thủ thỉ tâm sự với đứa con nhỏ còn rất ngây thơ.

    “… Ông lão ôm thằng con út lên lòng, vỗ nhè nhẹ vào lưng nó, khẽ hỏi:

    – Là con thầy mấy lại con u.

    – Thế nhà con ở đâu?

    – Nhà ta ở làng Chợ Dầu.

    – Thế con có thích về làng chợ Dầu không ?

    Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:

    – Có.

    Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:

    Thằng bé dơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:

    – Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

    Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:

    Anh em đồng chí có biết cho bố con ông.

    Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.

    Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai…”.

    – Đây là một đoạn văn diễn tả rất cảm động và sinh động nỗi lòng sâu sa, bền chặt, chân thành của ông Hai – một người nông dân – với quê hương, đất nước, với cách mạng và kháng chiến.

    – Qua những lời tâm sự với đứa con nhỏ, thực chất là lời tự nhủ với mình, tự giãi bày nỗi lòng mình, ta thấy rõ ở ông Hai:

    + Tình yêu sâu nặng với cái làng chợ Dầu (Ông muốn đứa con nhỏ, thực chất ghi nhớ câu Nhà ta ở làng Chợ Dầu).

    + Tấm lòng thuỷ chung với kháng chiến, với cách mạng mà biểu tượng là cụ Hồ (Anh em đồng chí có biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông). Tình cảm ấy là sâu nặng, bền vững và thiêng liêng (Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai).

    ⇒ Từ một người nông dân yêu làng, ông Hai trở thành người công dân nặng lòng với kháng chiến.Tình yêu làng, yêu nước đã hòa làm một trong ý nghĩ, tình cảm, việc làm của ông Hai. Tình cảm ấy thống nhất,hòa quyện như tình yêu nước được đặt cao hơn, lớn rộng lên tình làng. Đây là nét đẹp truyền thống mang tinh thần thời đại. Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

    4. Nghệ thuật.

    -Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách. Truyện khắc hoạ thành công nhân vật ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước tha thiết. Đặc biệt, việc đặt nhân vật vào tình huống cụ thể góp phần thể hiện tính cách, diễn biến và chiều sâu tâm trạng nhân vật.

    – Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc, tinh tế. Tác giả miêu tả rất cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt, diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. Điều đó chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc người nông dân và thế giới tinh thần của họ.

    + Ngôn ngữ nhân vật lúc đối thoại, lúc độc thoại mang đậm chất nông thôn, nhuần nhuỵ mà đặc sắc, gợi cảm. Chân dung sống động, đẹp đẽ của người nông dân thời kỳ đầu kháng chiến. Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân. Lời trần thuật và lời nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu, do truyện được trần thuật chủ yếu ở điểm nhìn của nhân vật ông Hai. Ngôn ngữ của nhân vật ông Hai vừa có nét chung của người nông dân, lại mang đậm cá tính của nhân vật nên rất sinh động.

    * Liên hệ:

    * Tác phẩm viết về tình cảm quê hương:

    – Lòng yêu nước (E-ren-bua)

    – Quê hương (Đỗ Trung Quân)

    – Quê hương (Giang Nam)

    – Quê hương (Tế Hanh)

    – Lao xao (Duy Khán)

    – Buổi học cuối cùng (Đô-đê)

    * Nét chung của các tác phẩm:

    – Tình yêu thiết tha đối với quê hương, đất nước.

    – Xây dựng những biểu tượng đẹp, kì vĩ.

    * Nét riêng của “Làng”:

    – Những truyện ngắn và thơ trên đều viết về lòng yêu quê hương đất nước nhưng ở đó tình cảm mới đơn thuần là tình yêu, chưa mang tính khái quát, chưa có tình huống rõ ràng để bộc lộ tình yêu ấy.

    – Còn ở truyện ngắn “Làng”, tình yêu làng ở ông Hai đã trở thành niềm say mê, hãnh diện, thành thói quen khoe làng của mình.

    – Tình yêu làng quê phải được đặt trong tình yêu nước, thống nhất với tinh thần kháng chiến khi đất nước đang bị xâm lược và cả dân tộc đang tiến hành cuộc kháng chiến.

    – “Làng” có tình huống được xây dựng hết sức đặc sắc, bất ngờ mà hợp lý. “Làng” là lời khẳng định giai đoạn tìm đường và nhận đường của nền văn hoá mới. Văn hoá kháng chiến chống Pháp trở thành một bộ phận của kháng chiến, tích cực tham gia kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến, cho niềm tin.

    Dàn ý phân tích truyện ngắn :Làng” của Kim lân

    I. Mở bài.

    – Về đề tài quê hương đất nước trong văn học: Đây là một đề tài quen thuộc của văn học nhưng không bao giờ xưa cũ.

    – Giới thiệu về tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân: Một tác phẩm viết về đề tài quen thuộc nhưng vẫn để lại những rung động sâu sắc trong lòng độc giả bởi tình yêu làng yêu nước và tinh thần kháng chiến của nhân vật ông Hai- nhân vật trung tâm của tác phẩm.

    II. Thân bài.

    1. Hoàn cảnh đặc biệt của ông Hai:

    + Xuất thân là một người nông dân quanh năm gắn bó với lũy tre làng.

    + Một người yêu làng nhưng phải rời làng đi tản cư.

    2. Cuộc sống của ông Hai ở nơi tản cư.

    a. Tình cảm của ông Hai với làng.

    – Ông đau đáu nhớ về quê hương, nghĩ về “những ngày làm việc cùng anh em”, ông nhớ làng.

    – Ông khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh, phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao bằng ngọn tre.

    – Ông luôn đến phòng thông tin nghe ngóng tình hình về ngôi làng của mình.

    b. Tình cảm của ông Hai với đất nước, với kháng chiến.

    – Ông Hai yêu nước và giàu tinh thần kháng chiến.

    + Đến phòng thông tin đọc báo, nghe tin tức về kháng chiến.

    + Lúc nào cũng quan tâm đến tình hình chính trị thế giới, các tin chiến thắng của quân ta.

    + Trước những tin chiến thắng của quân ta, ruột gan cứ múa cả lên.

    ⇒ ngôn ngữ quần chúng, độc thoại ⇒ Tự hào, vui sướng, tin tưởng khi nghe tin về cuộc kháng chiến, đó là niềm vui của một con người biết gắn bó tình cảm của mình với vận mệnh của toàn dân tộc.

    2. Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình theo giặc.

    a. Khi vừa nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

    – Khi mới nghe tin, ông sững sờ, xấu hổ:

    +“Cổ họng nghẹn ắng, da mặt tê rân rân”.

    + Lặng đi không thở được, giọng lạc đi.

    + Lảng chuyện, cười nhạt, cúi gằm mặt xuống mà đi.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tầm lí nhân vật ⇒ bẽ bàng, xấu hổ, ê chề nhục nhã.

    b. Về đến nhà trọ.

    – Nằm vật ra giường, tủi thân, nước mắt giàn ra.

    – Ông tự hỏi và buồn thay cho số phận những đứa con của mình: “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư?”

    – Ông nắm chặt tay, rít lên: “chúng bay … mà nhục nhã thế này”.

    ⇒ Nghệ thuật miêu tả tâm trạng qua hành động, thái độ, cử chỉ ⇒ Nỗi cay đắng tủi nhục, uất hận trước tin làng theo giặc.

    c. Những ngày sau đó.

    – Không dám đi đâu, chỉ quanh quẩn ở nhà, chột dạ, nơm nớp, lủi ra một góc, nín thít ⇒ Nỗi ám ảnh nặng nề, biến thành sự sợ hái thường xuyên.

    – Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi: ông bế tắc, tuyệt vọng.

    – Ông băn khoăn trước quyết định “hay là về làng” nhưng cuối cùng ông đã gạt bỏ ngay ý nghĩ bởi đối với ông: “làng đã theo Tây, về làng nghĩa là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ”.

    – Ông trò chuyện với đứa con út để khẳng định thêm : “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.

    3. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin cải chính.

    – Thái độ ông Hai thay đổi hẳn:

    + “ cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”.

    + mồm bỏm bẻm nhai trầu, mắt hấp háy.

    + Chạy đi khoe khắp nơi về làng của mình.

    ⇒ Vui mừng tột độ, tự hào, hãnh diện khi làng không theo giặc, cũng đồng thời thấy được tình yêu làng, yêu nước của người nông dân như ông Hai.

    III. Kết bài

    – Khái quát về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

    – Liên hệ tới lòng yêu làng quê, yêu đất nước hôm nay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Truyện Ngữ Văn (Phần 1
  • Tình Huống Truyện Độc Đáo Của Truyện Ngắn Làng
  • Đề Đọc Hiểu: Sống Sao Trong Thời Đại Số + Hương Làng
  • Đề Đọc Hiểu Có Đáp Án: Hạt Gạo Làng Ta
  • Bộ Đề Thi Thử Môn Văn Có Đáp Án, Đề Số 94
  • Soạn Bài + Tóm Tắt Văn Bản Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Văn 9 Trang 28 Ngắn Gọn Nhất: Cho Đề Bài: Con Trâu Ở Làng Quê Việt Nam
  • Soạn Bài: Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Nhất
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Một Tác Phẩm Tự Sự Đã Học Trong Chương Trình Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài Làng Ngắn Nhất
  • 1 – Tác giả:

    – Tên khai sinh Nguyễn Văn Tài (1920 – 2007), quê Từ Sơn – Bắc Ninh.

    – Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, Kim Lân chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết văn từ năm 1941.

    – Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Vốn am hiểu và gắn bó sâu sắc cuộc sống nông thôn, Kim Lân hầu như chỉ viết về đề tài sinh hoạt ở làng quê và cảnh ngộ của người nông dân.

    – Một số truyện đã thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.

    – Ông được dư luận chú ý nhiều hơn khi đi vào những đề tài độc đáo như tái hiện sinh hoạt văn hóa phong phú ở thôn quê, qua đó góp phần biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân.

    – Sau cách mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn và vẫn viết về làng quê Việt Nam – mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc.

    – Ngoài hoạt động sáng tác, nhà văn Kim Lân còn tham gia sân khấu và điện ảnh,ông kịch, đóng phim. (Tiêu biểu là vai Lão Hạc trong bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”)

    – Năm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Ông mất năm 2007, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh hen suyễn.

    – Các tác phẩm tiêu biểu: Nên vợ nên chồng, Vợ nhặt, Con chó xấu xí, Làng,…

    2. Tác phẩm:

    – “Làng” được viết và đăng báo trên tạp chí Văn nghệ năm 1948 – giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì này thì người dân nghe theo chính sách của chính phủ: kêu gọi nhân dân ta tản cư, những người dân ở vùng địch tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để chúng ta cùng kháng chiến lâu dài.

    – Kim Lân kể lại: “Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán. Trên khu ở mới, có tin đồn làng tôi là làng Việt gian. Mọi người đều nhìn những người dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường. Tôi yêu ngôi làng của tôi và không tin làng tôi lại có thể đi theo giặc Pháp. Tôi viết truyện ngắn “Làng” như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan cho làng tôi”. (Theo “Văn lớp 9 không khó như bạn nghĩ”).

    – Đoạn 1: Từ đầu…đến… “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”: Ông Hai trước khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    – Đoạn 2: Tiếp…đến…”cũng vợi được đi đôi phần”: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng mình theo giặc.

    – Đoạn 3: Còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông

    không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    b. Tình huống truyện trong truyện ngắn “Làng”:

    – Đó là khi ông Hai nghe được tin làng Chợ Dầu theo giặc.

    a. Trước khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc:

    – Nhớ làng da diết – muốn về làng, muốn tham gia kháng chiến.

    – Mong nắng cho Tây chết.

    b. Tâm trạng ông Hai khi nghe tin làng theo giặc:

    – Khi nghe tin xấu ông Hai sững sờ, xấu hổ, uất ức: “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi tưởng như không thở được”. Từ đỉnh cao của niềm vui, niềm tin ông Hai rơi xuống vực thẳm của sự đau đớn, tủi hổ vì cái tin ấy quá bất ngờ. Khi trấn tĩnh lại được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng rồi những người tản cư đã kể rảnh rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở dưới ấy lên” làm ông không thể không tin. Niềm tự hào về làng thế là sụp đổ, tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy ông mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như chết mất một lần nữa.

    – Từ lúc ấy trong tâm trí ông Hai chỉ còn có cái tin dữ ấy xâm chiếm, nó thành một nỗi ám ảnh day dứt. Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông”cúi gằm mặt mà đi”. Về đến nhà ông nằm vật ra giường rồi tủi thân nhìn lũ con “nước mắt ông lão cứ giàn ra”. Bao nhiêu điều tự hào về quê hương như sụp đổ trong tâm hồn người nông dân rất mực yêu quê hương ấy. Ông cảm thấy như chính ông mang nỗi nhục của một tên bán nước theo giặc, cả các con ông cũng sẽ mang nỗi nhục ấy.

    – Suốt mấy ngày ông không dám đi đâu. Ông quanh quẩn ở nhà, nghe ngóng tình hình bên ngoài. “Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông… là ông lủi ra một nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”

    – Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc, tuyệt vọng khi nghĩ tới tương lai. Ông không biết đi đâu, về làng thi không được, vì về làng lúc này là đồng nghĩa với theo Tây, phản bội kháng chiến. Ở lại thì không xong, vì mụ chủ nhà đã đánh tiếng xua đuổi. Còn đi thi biết đi đâu bởi ai người ta chưa chấp dân làng Chợ Dầu phản bội. Nếu như trước đây, tình yêu làng và tình yêu nước hòa quyện trong nhau thì lúc này, ông Hai buộc phải có sự lựa chọn. Quê hương và Tổ quốc, bên nào nặng hơn? Đó không phải là điều đơn giản vì với ông, làng Chợ Dầu đã trở thành một phần của cuộc đời, không dễ gì vứt bỏ; còn cách mạng là cứu cánh của gia đình ông, giúp cho gia đình ông thoát khỏi cuộc đời nô lệ. Cuối cùng, ông đã quyết định: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Như vậy, tình yêu làng dẫu có thiết tha, mãnh liệt đến đâu cũng không thể mãnh liệt hơn tình yêu đất nước. Đó là biểu hiện vẻ đẹp trong tâm hồn của con người Việt Nam, khi cần họ sẵn sàng gạt bỏ tình cảm riêng tư để hướng tới tình cảm chung của cả cộng đồng.

    c. Tâm trạng của ông Hai khi tin làng mình theo giặc được cải chính.

    – Đúng lúc ông Hai có được quyết định khó khăn ấy thì cái tin làng Chợ Dầu phản bội đã được cải chính. Sự đau khổ của ông Hai trong những ngày qua nhiều bao nhiêu thì niềm phấn khởi và hạnh phúc của ông lúc này càng lớn bấy nhiêu. Ông “bô bô” khoe với mọi người về cái tin làng ông bị “đốt nhẵn”, nhà ông bị “đốt nhẵn”. Nội dung lời “khoe” của ông có vẻ vô lí bởi không ai có thể vui mừng trước cảnh làng, nhà của mình bị giặc tàn phá. Nhưng trong tình huống này thì điều vô lí ấy lại rất dễ hiểu: Sự mất mát về vật chất ấy chẳng thấm vào đâu so với niềm vui tinh thần mà ông đang được đón nhận. Nhà văn Kim Lân đã tỏ ra rất sắc sảo trong việc nắm bắt và miêu tả diễn biến tâm lí của nhân vật.

    1. Nội dung:

    Truyện thể hiện chân thực, sinh động tình cảm yêu làng quê thống nhất với lòng yêu đất nước ở nhân vật ông Hai.

    -Tác giả sáng tạo tình huống truyện có tính căng thẳng, thử thách.

    -Xây dựng cốt truyện tâm lí (đó là chú trọng vào các tình huống bên trong nội tâm nhân vật).

    -Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tự nhiên mà sâu sắc,tinh tế.

    -Ngôn ngữ đặc sắc,sinh động, mang đậm chất khẩu ngữ, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Làng Hay Nhất Lớp 9
  • Soạn Bài Lớp 6: Phương Pháp Tả Cảnh
  • Tả Lũy Tre Làng Em
  • Soạn Bài Phương Pháp Tả Cảnh
  • Phân Tích Tình Huống Độc Đáo Trong Truyện Ngắn Làng
  • Soạn Bài: Dọn Về Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Dọn Về Làng Của Nông Quốc Chấn
  • Soạn Bài Đọc Thêm: Dọn Về Làng Siêu Ngắn
  • Tổng Hợp Kiến Thức Bài Dọn Về Làng
  • Tuần 14. Hạt Gạo Làng Ta
  • Điều Tác Giả Muốn Gửi Gắm Qua Bài Hạt Gạo Làng Ta Là Gì
  • Soạn bài: Dọn về làng

    Dọn về làng là những cảm xúc, niềm vui khi được trở về làng. Qua đó cũng toát lên niềm căm hờn giặc của nhân dân Cao – Bắc – Lạng. Điều đặc biệt ở đây tác giả đã dùng các câu chữ rất tinh tế để bày tỏ, bộc lộ cảm xúc của con người.

    Phần 1 (6 câu đầu + 15 câu cuối): niềm vui khi được dọn về làng

    Phần 2 ( 31 câu giữa) cuộc sống gian khổ và niềm căm hờn giặc của người dân Cao- Bắc- Lạng

    Dọn về làng Câu 1 (trang 141 sgk ngữ văn 12 tập 1):

    Cuộc sống gian khổ của người dân Cao Bắc Lạng được thể hiện qua các hình ảnh:

    + Mấy năm: thời gian kéo dài

    + Quên tết… quên rằm

    + Chạy hết núi khe, cay đắng…

    + Lán sụp, nát cửa, vắt bám

    + Mẹ địu em chạy, con sau lưng tay dắt bà, vai đầy tay nải

    + Cuộc sống yên ấm bị đảo lộn, nhà cửa tan hoang, gia đình li biệt

    + Cha ngã xuống, phủ mặt cho chồng, máu đầy tay

    → Hiệu quả nghệ thuật của việc xây dựng cảnh tượng thê thảm như trên tạo ấn tượng mạnh vì nó tác động người đọc

    – Tội ác của giặc Pháp:

    + Lán đốt trơ trụi, súng nổ, Tây lùng

    + Áp quần bị vơ vét

    + Cha bị bắt, bị đánh chết

    + Chôn cất cha bằng khăn của mẹ, liệm bằng áo của con

    + Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt

    → Giặc Pháp tàn bạo, ác độc, qua đó thể hiện sự căm thù đến tột độ và muốn trả thù của tác giả

    Dọn về làng Câu 2 (trang 141 sgk ngữ văn 12 tập 1):

    Nét độc đáo trong cách thể hiện niềm vui Cao- Bắc- Lạng được giải phóng được tác giả miêu tả trong dọn về làng

    – Hình ảnh vui vẻ của người dân cười vang, xuống làng, người nói cỏ lay, ô tô kêu vang đường, ríu rít tiếng cười con trẻ

    – Niềm vui tự do được diễn tả chân chất, tươi vui theo cách nói của người dân Tây Nguyên

    – Ngôn từ mộc mạc, lối thơ giản dị, ý thơ chân thực, tác giả diễn tả niềm vui đủ cung bậc, màu sắc

    Dọn về làng Câu 3 (trang 141 sgk ngữ văn 12 tập 1):

    Trong dọn về làng màu sắc dân tộc thể hiện qua lối nói so sánh có hình ảnh, kết hợp với từ ngữ của nhà thơ

    + Người đông như kiến, súng đày như củ, người nói cỏ lay trong rừng rậm

    + Hổ không dám đến đẻ con trong vườn chuối

    – Từ ngữ mộc mạc, chân thật: quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy, mày, tao…

    – Cách diễn tả nỗi đau, niềm vui tự do, độc lập của tác giả thật gần gũi, thân thuộc, hồn nhiên như chính tấm lòng người dân miền núi.

    Bố cục Dọn về làng:

    Phần 1 (2 khổ đầu): Sự trăn trở trước ngày lên đường

    Phần 2 (9 khổ tiếp): Khát vọng gắn bó với nhân dân, kỉ niệm kháng chiến nghĩa tình

    Phần 3 (còn lại) khúc hát yêu cuộc đời, yêu đất nước

    Dọn về làng là một cách diễn tả nỗi đau, niềm vui tự do, hạnh phúc của tác giả. Một cảm giác rất thân thuộc, gần gũi và hồn nhiên như chính tấm lòng của người dân miền núi. Theo Tiepsucmuathi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đọc Thêm Dọn Về Làng
  • Bài Thơ: Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn
  • Soạn Bài Dọn Về Làng (Nông Quốc Chấn)
  • Soạn Bài : Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Tóm Tắt, Bố Cục Văn Bản Những Đứa Trẻ Lớp 9
  • Những Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Văn Bản Làng Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Hương Làng (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022 Trường Thpt Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 5)
  • Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi
  • Tổng Hợp Kiến Thức Đọc Hiểu Văn Bản Môn Ngữ Văn Đầy Đủ Nhất
  • Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi, Gợi Dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825
  • Tóm tắt văn bản Làng mẫu số 1

    Truyện Làng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, một lòng đi theo cách mạng

    Truyện ngắn Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Kim Lân, nhân vật chính của truyện là ông Hai. Ông Hai là một người con của làng chợ Dầu, cũng như những người nông dân yêu nước khác ông đi theo cách mạng, làng chợ Dầu của ông cũng yêu cách mạng, đấu tranh cho cuộc kháng chiến rất oanh liệt. Ông Hai rất tự hào về cái làng Dần của mình, không kể được tình yêu của ông dành cho ngôi làng nghèo mà đượm tịnh đượm nghĩa như vậy. Do hoàn cảnh bắt buộc phải tàn cư không thể ở lại làng cùng anh em mà chiến đấu, ông Hai buồn lắm. Không còn cách nào khác ông tự tặc lưỡi “thôi thì đi tản cư cũng là kháng chiến”. Sống ở nơi tản cư bó buộc cả về vật chất lẫn tinh thần, ngoài những lúc làm việc cứ ngơi ra là ông Hai nghĩ về Làng, ông nhớ Làng da diết, ông thường sang nhà bác Thứ hàng xóm uống nước rồi thao thao kể lại những chuyện hồi ở làng, chuyện đánh giặc, bắt Tây với vẻ tự hào lắm. Một hôm ông Hai lân la ra phòng thông tin để nghe tin tức, trên đường về ông lão gặp một nhóm tản cư từ dưới lên. Thấy dân tản cư ông lại xấn tới hỏi han chuyện làng quán, bất ngờ ông hay tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Tin làng chợ Dầu làm Việt gian theo Tây chẳng khác nào như một tin dữ ập đến, “cổ họng ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân”, “tưởng như không thở được”. Ông cúi gằm mặt xuống đi về, về đến nhà ông lão bằm vật xuống giường như mất hết sức lực, trong đầu ông không thể tưởng tượng được có một ngày làng chợ Dầu làm Việt gian, ông nhẩm đếm lại một lượt những người trong làng, toàn những người yêu nước, họ đã ở lại để chiến đấu không thể theo Tây được, nhưng ai hơi đâu mà bịa chuyện. Bao nhiêu suy nghĩ nhảy múa trong đầu, giằng xe nhau. Từ sau khi nghe tin đó, ông không dám ra khỏi nhà, ông nghe ngóng mọi người bàn tán, ông xấu hổ không dám nhìn ai, ông sợ mọi người biết chuyện làng chợ Dầu của ông theo Tây thì thật không còn đất mà sóng. Khi mụ chủ nhà bóng gió đòi đuổi cả nhà ông đi thì chủ tịch xã đích thân đi cải chính, làng Dầu của ông không theo Tây. Đây là chuyện vui như bắt được vàng, ông lão đi khoe khắp nơi, đến cái nhà của ông bị Tây đốt nhẵn nhụi mà ông cũng xem đó như thể chuyện vui nhất đời.

    Tóm tắt văn bản Làng mẫu 2

    Ông Hai là một người con của làng Dầu, cũng như bao nhiêu người con khác ông rất yêu quê hương, yêu làng xóm của mình. Kháng chiến chống Pháp theo chủ trương của chính phủ động viên mọi người đi sơ tản, gia đình ông cũng thuộc diện ra đi. Thật tâm trong lòng ông không hề muốn đi một chút nào, ông muốn ở lại cùng những người anh em của mình chiến đấu để giữ làng, giữ nước. Thế nhưng nhìn vợ con cám cảnh ở nơi tản cư không có người nương tựa ông đành dứt áo ra đi, âu “đi tản cử cũng là kháng chiến” nghĩ vậy lòng ông nhẹ nhõm thanh thản đi một chút. Đến nơi tản cư như đi tù, ông luôn khó chịu, bực bội với tất cả mọi thứ: gian nhà nhỏ tối ẩm thấp, tiếng lầm rầm tính tiền của vợ lão, mụ chủ nhà tham ăn chửi tục, nguyên nhân cho tất cả những bực bội đó là bởi vì ông nhớ nhà, nhớ quê hương. Thân thể ông Hai ở nơi đây nhưng tâm trí ông lại ở lại làng Dầu. Niềm vui nho nhỏ mỗi ngày của ông Hai là sang nhà bác Thứ hàng xóm thao thao kể chuyện về làng ông, những trận đánh Tây cùng với mọi người. Mỗi khi kể về những chuyện trước đó ông lại càng nhớ quê nhiều hơn. Một hôm cũng như các hôm khác ông ra phòng thông tin để nghe tin tức, sở dĩ ông phải giả vờ xem ảnh rồi nghe lỏm người ta đọc báo là bởi vì ông Hai đọc không thạo. Nghe đọc tin tức quân ta thắng liên tiếp nhiều trận khiến lòng ông như nhảy múa, ông ghé ngay quán nước nhấp ngụm trà, hút điếu thuốc lào như tự thưởng cho mình. Trong quán nước bỗng ông nghe được tin của mấy người tản cư từ dưới lên đồn nhau làng Dầu của ông theo Tây làm Việt gian, hỡi ôi tin đó như sét đánh, “tưởng như không thể thở được” “cổ họng nghẹn lại”. Ông bước về nhà nằm vật xuống không thể tin vào những gì mình vừa nghe thấy, liền mấy ngày sau đó ông không bước ra khỏi nhà một bước, vừa xấu hổ, vừa tủi nhục, vừa buồn bã. Đã thế bà chủ nhà nghe tin đồn cũng có ý muốn đuổi nhà ông đi, ông Hai não nề, không có nơi nào chứa chấp người của làng Việt gian hết, ông cũng không thể về quê, về quê để càng đau lòng hơn hay sao. Đang lúc rối rắm thì trưởng thôn Dầu cải chính, đó chỉ là tin đồn thất thiệt, ông Hai vui mừng khôn siết, ông nhảy múa đi khoe khắp nơi cái tin được cải chính đó, ông khoe nhà ông bị đốt sạch sẽ rồi, làng ông bị Tây đánh nhưng vẫn kiên cường.

    Nhân vật ông Hai có lòng yêu nước rất sâu sắc

    Bài tóm tắt văn bản Làng mẫu 3

    Kim Lân là một nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam, truyện ngắn Làng được ngay giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1948. Chuẩn bị cho cuộc kháng chiển trường kỳ của dân tộc chính phủ kêu gọi người dân hãy di tản từ vùng tam chiến đến chiến khu. Truyện ngắn “Làng” đề cao tinh thần yêu nước, yêu quê hương. Qua nhân vật chính thể hiện một cách chân thực, cảm động về tinh thần kháng chiến của người dân, dù có ở nơi tản cư cũng một lòng hướng về cuộc kháng chiến. Truyện xoay quanh nhân vật ông Hai, gia đình ông Hai nghe theo chính phủ đi di tản, tuy ông và gia đình ở nơi tản cư nhưng ông vẫn không nguôi ngoai được nỗi nhớ quê nhà, hàng ngày ông momg ngóng tin tức về làng chợ Dầu của ông. Dẫu cuộc sống ở nơi tản cư rất khó khăn nhưng cứ nghe tin chiến thắng của dân ta lại khiến ông vui vẻ, bỗng một hôm ông nghe tin đồn làng chợ Dầu của ông theo Tây, tin tức đó với ông như một cú sốc lớn đên “không thể thở nổi”. Từ sau khi nghe tin đồn đó ông Hai không dám bước chân ra khỏi nhà, ông sợ ánh mắt soi mói dòm ngó của hàng xóm xung quanh, rồi đây mấy đứa con của ông sẽ bị mang danh là người của làng Việt gian. Sự thất vọng, sự xấu hổ cũng không sánh bằng nỗi buồn trong ông. Đang lúc bị chủ nhà đuổi đi vì không chứa dân Việt gian thì tin đồn được cải chính, tin này vui đến mức ruột gan ông như nhảy múa, từ bây giờ ông lại có thể ngẩng cao đầu với mọi người, các con của ông lại được làm người rồi.

    Bài tóm tắt văn bản Làng mẫu 4

    Ông Hai dù ở nơi tản cư vẫn một lòng hướng về quê hương

    Truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân là câu chuyện kể về một lão nông tên là Hai, ông Hai sinh ra và lớn lên ở làng chợ Dầu, ông luôn tự hào về quê hương của mình có những con người kiên trung, dũng cảm, một lòng đi theo cụ Hồ, đi theo cách mạng. Khi phải từ bỏ quê hương cùng gia đình đi tản cư lòng ông đau như cắt. Ở nơi ở mới nhưng một lòng ông vẫn đau đáu nhớ về làng chợ Dầu. Để vơi bớt nỗi nhớ quê hương hàng ngày ông đều đi sang nhà bác hàng xóm rồi thao thao kể chuyện làng ông với niềm tự hào, ông kể làng chợ Dầu ông đường toàn lát đá xanh, khắp đường làng cuối xóm bùn không dính đến gót chân, rồi làng chợ Dầu của ông có phòng thông tin tuyên truyền rộng nhất vùng, cái chòi phát thanh cao bằng ngọn tre. Bao giờ câu chuyện của ông Hai cũng bắt đầu một cách say sưa, hào hứng khi kể về làng và kết thúc bằng giọng chùng xuống, ánh mắt đượm buồn “lần này đi không biết đến bao giờ mới được quay trở lại”. Cuộc sống ở nơi tản cư không có công việc cộng thêm nỗi nhớ quê khiến ông lão lúc nào cũng bực bội, ông càu gắt vợ con, chuyện gì cũng làm cho ông không vừa mắt, từ chuyện gian nhà thấp, tối bộn bề với những dây quần áo ẩm sì, tiếng mụ chủ nhà reo réo chửi những trưa hè, chuyện đàn gà của mụ vặt hết luống rau ông trồng rồi chuyện vợ ông rì rầm tính toán tiền nong. Khi bực bội chỉ có cách đi ra khỏi ngôi nhà đó mới thấy nhẹ nhõm, một hôm ông đến phòng thông tin để nghe lỏm người ta đọc tin tức trên mấy tờ báo, nghe tin thắng trận của quân ta làm ruột gan ông lão vui đến nhảy múa cả lên, ông náo nức bước ra quán nước ngồi gặp một đám người cũng là dân tản cư dưới xuôi lên, ông lân la hỏi chuyện làng Dầu thì hay tin làng chợ Dầu của ông bây giờ đã theo Tây hết. Chuyện làng Dầu theo Tây làm ông lão xấu hổ tới mức ông đứng dậy giả vờ vươn vai, cười nhạt một tiếng, đánh lảng sang chuyện khác rồi đi về. Mấy ngày hôm sau ông không bước chân ra ngoài nửa bước, ông sợ hàng xóm nhắc đến hai chữ “Việt gian” lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như đang bàn chuyện làng ông. Đã vậy mụ chủ nhà đã đánh tiếng là không muốn cho nhà ông ở nữa vì “có lệnh đuổi hết Việt gian theo Tây không cho ở vùng này nữa” Ông Hai lặng ngồi, đầu óc rồi bời, biết đi đâu bây giờ, ở đâu người ta cũng xua đuổi, mà nếu không xua đuổi thì mình cũng không còn mặt mũi nào mà đi đến đâu được nữa. Ông cũng không thể về làng vì làng đã bỏ cụ Hồ, đã đi theo Tây thì còn về làm gì nữa. Ông lão chẳng biết làm gì chỉ biết trút nỗi lòng mình cho đứa con, cụ Hồ soi xét cho lòng bố con ông, bố con ông không bao giờ dám sai đơn. Đang lúc rồi bời thì tin đồn làng chợ Dầu theo Tây được cải chính, đích thân chủ tích làng lên để cải chính, ông lão vui mừng đi khoe khắp nơi. Tối hôm đó ông lại sang bác Thứ, kể chuyện giặc đến đốt phá làng thế nào, làng Dầu chống cự ra sao, tỉ mỉ như chính ông cũng tham dự trận đánh ấy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Em Hãy Giới Thiệu Về Nhà Văn Kim Lân Và Truyện Ngắn Làng
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9 Chuẩn Nhất, Học Kì 2
  • Giáo Án Bài Làng (Trích) (Tiết 2)
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9
  • Giáo Án Bài Làng (Trích) (Tiết 1)
  • Soạn Văn Bài: Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiết 4: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Thuyết Minh Con Trâu Làng Việt Nam ( Dùng Nghệ Thuật , Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh ) Câu Hỏi 1143264
  • Những Kiểu Bài Thường Gặp Văn Thuyết Minh 9
  • Bài Văn Mẫu Lớp 9: Thuyết Minh Về Con Trâu
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9
  • Soạn văn bài: Ôn tập về văn bản thuyết minh

    I. Ôn tập lý thuyết

    Câu 1: Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm tính chất, nguyên nhân … của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội.

    Câu 2: Xem lại câu trả lời ở mục I.2.a của bài “Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh”

    Câu 3: Muốn làm tốt bài văn thuyết minh, người viết phải quan sát sự vật, hiện tượng cần thuyết minh hoặc tra cứu sách vở, hỏi han những người hiểu biết để có kiến thức đáng tin cậy. Ngoài ra, phải xác đỉnh rõ phạm vi tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh, sử dụng phương pháp thuyết minh thích hợp, ngôn từ chính xác, dễ hiểu. Bài văn thuyết minh phải làm nổi bật được bản chất, đặc trưng của hiện tượng, sự vật cần thuyết minh, để tránh sa vào trình bày các biểu hiện không tiêu biểu, không quan trọng.

    Câu 4: Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phân tích, phân loại.

    II. Luyện tập

    Câu 1: Hãy nêu cách lập ý và lập dàn bài đối với các đề bài sau (gợi ý chung và ví dụ cụ thể)

    * Giới thiệu một đồ dùng

    a. Mở bài: Giới thiệu đồ dùng một cách chung nhất.

    b. Thân bài:

    c. Kết bài: Bày tỏ thái độ đối với đồ dùng

    * Giới thiệu một danh lam thắng cảnh:

    a. Mở bài: Giới thiệu chung về thắng cảnh (vị trí địa lý, bao gồm những bộ phận nào ….)

    b. Thân bài: lần lượt mô tả, giới thiệu từng phần trong danh lam thắng cảnh.

    c. Kết bài: Vị trí của thắng cảnh trong đời sống tình cảm của con người.

    * Giới thiệu một thể loại văn học

    a. Mở bài: Nêu định nghĩa chung về thể loại đó.

    b. Thân bài: Nêu các đặc điểm của thể loại đó (có ví dụ kèm theo minh họa)

    c. Kết bài: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của thể loại văn học đó.

    Giới thiệu một phương pháp (làm đồ dùng học tập, thí nghiệm)

    a. Nguyên vật liệu

    b. Cách thức tiến hành (giới thiệu theo trình tự)

    c. Kết quả thu được và yêu cầu chất lượng đối với đồ dùng học tập hay thí nghiệm đó.

    Câu 2: Tập viết đoạn văn theo các đề bài sau:

    a. Giới thiệu một đồ dùng:

    Chiếc bàn học của em do chính ba em làm từ những tấm ván và thanh gỗ lựa từ đống củi mẹ mới mua. Suốt một ngày chủ nhật cưa, bào, đục, đẽo… không ngơi tay, ba em đã đóng xong chiếc bàn xinh xắn. Nó được kê ngay cửa sổ, hướng đông nên suốt ngày có đủ ánh sáng. Hình dáng chiếc bàn này giống hệt chiếc bàn ở lớp nhưng kích thước của nó chỉ bằng một nửa. Mặt bàn được bào nhẵn. Ba em đánh véc-ni thật kĩ. Các đường vân nổi lên rất đẹp. Dưới mặt bàn là hai ngăn rộng rãi, đủ để đựng sách vở và đồ dùng học tập. Bàn đóng liền với ghế, có chỗ dựa lưng thoải mái. Ba mua cho em một cây đèn nê-ông nhỏ, bệ đèn là chiếc giá cắm bút bằng nhựa màu hồng. Cây đèn được gắn cố định vào mặt bàn để buổi tối em có đủ ánh sáng học bài.

    b. Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em:

    Thành phố Nha Trang là một trung tâm du lịch lớn của cả nước với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, điều kiện thiên nhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, cùng với nền tảng về lịch sử, nhân văn của mình. Nha Trang – Khánh Hoà có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch đa dạng. Nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Khánh Hòa, thành phố Nha Trang có diện tích 251 km2, bao gồm 27 xã, phường và 19 hòn đảo, với trên 2.500 hộ và khoảng 15.000 người sống trên các đảo. Đảo lớn nhất là Hòn Tre rộng 36km2 nằm che chắn ngoài khơi khiến cho vịnh Nha Trang ( nằm trong số 29 vịnh đẹp nhất trên thế giới) trở nên kín gió và êm sóng. Nơi đây được nhiều du khách mệnh danh là “Hòn ngọc viễn đông” nhờ những bãi tắm đẹp, con đường nhựa xanh sạch, các ngôi biệt thự ẩn mình trong rừng hoa và cây xanh.

    c. Giới thiệu một thể loại văn học:

    Lục bát là một thể thơ dân tộc với số lượng tiếng cố định: dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát). Thể thơ này gieo vần lưng và vần chân về luật bằng trắc, chỉ có quy định cho những tiếng chẵn mà thường là tiếng thứ 4 trắc, còn lại bằng. Về ngắt nhịp, thể thơ lục bát chủ yếu ngắt nhịp chẵn.

    d. Giới thiệu về một loài hoa.

    Cây hoa mai có nhiều loại, phổ biến nhất là mai vàng (Hoàng Mai), sau đó là mai tứ quý, rồi đến mai trắng (Bạch Mai) và mai chiếu thuỷ.Cây mai vàng dễ sống, ưa đất gò pha cát hoặc đất bãi ven sông. Có thể trồng đại trà thành vườn rộng hàng vài mẫu mà cũng có thể trồng dăm cây trong vườn, hoặc trong chậu sứ. Đất trồng mai có độ ẩm vừa phải và không úng nước. Phân bón cho mai thường là phân bò khô trộn với tro bếp, khô dầu và một ít u-rê, ka-li…

    e. Giới thiệu một loài động vật.

    Chú thỏ con nhà tôi xinh thật là xinh. Chú có cái mũi đo đỏ lúc nào cũng ươn ướt luôn hít hít thở thở. Bộ ria mọc hai bên mép cũng trắng như cước. Đôi mắt đỏ hồng tròn xoe như hai hòn bi trông rất hiền. Hai tai thỏ như hai lá doi lúc nào cũng vểnh lên.

    f. Giới thiệu về một sản phẩm mang bản sắc Việt Nam

    Nghĩ đến người Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến tà áo dài, bánh chưng.. nhưng không thể nhắc đến những chiếc nón lá của những thiếu nữ, dù hiện nay lớp thanh niên nam nữ dùng nhiều đến muc. Nón có hình chóp, được làm từ lá cọ, dừa và các thanh tre được vuốt nhỏ, chuốt trơn. Ở nước ta có một số vùng nổi tiếng làm nón mà khi đi du lịch, người ta không thể không mua làm quà tặng người thân. Đó là Huế, Quảng Bình, Hà Tây (làng Chuông).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 10 Siêu Ngắn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh (Siêu Ngắn)
  • Soạn Tóm Tắt Văn Bản Thuyết Minh Siêu Ngắn
  • Lập Dàn Ý Chi Tiết Thuyết Minh Về Văn Bản Nhớ Rừng..
  • Soạn Bài Luyện Tập Về Văn Bản Tường Trình

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Tường Trình (Chi Tiết)
  • Soạn Văn 10 Bài: Văn Bản
  • Soạn Văn 10 Bài: Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Vượt Thác (Võ Quảng)
  • Soạn Bài Vượt Thác Ngắn Nhất
  • Soạn bài Luyện tập về văn bản tường trình

    I. Ôn tập lí thuyết

    1. Mục đích viết tường trình: trình bày thiệt hại hay mức độ trách nhiệm của người tường trình trong các sự việc xảy ra hậu quả cần xem xét.

    2. Tường trình và báo cáo có những điểm giống và khác nhau:

    + Khác: Báo cáo thì trình bày những công việc đã làm, đã thực hiện được để người khác được biết. Tường trình: trình bày thiệt hại hoặc mức độ trách nhiệm của người tường trình trong các sự việc xảy ra sự việc cần xem xét lại.

    Văn bản tường trình phải có đầy đủ họ tên người gửi, người nhận, địa điểm.

    II. Luyện tập Bài 1 ( trang 137 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

    a, Trong tình huống này cần phải viết bản kiểm điểm.

    b, Không dùng văn bản tường trình mà dùng Báo cáo kế hoạc thực hiện đại hội.

    c, Không dùng văn bản tường trình mà phải dùng bản Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch.

    Bài 2 (trang 137 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

    Một số tình huống cần viết bản tường trình:

    – Các bạn trong lớp phát hiện trong lớp học mất một chiếc bàn và một chiếc ghế học sinh.

    – Tường trình việc có ai đó đã vẽ bậy lên bức tường mới được quét vôi.

    Bài 3 ( trang 137 sgk Ngữ văn 8 tập 2):

    Bản tường trình về việc làm hỏng dụng cụ thí nghiệm

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

    Hà Nội, ngày 10/12/2017 BẢN TƯỜNG TRÌNH Về việc làm hỏng dụng cụ thí nghiệm

    Kính gửi: Cô Nguyễn Thanh Thảo giáo viên phụ trách môn Hóa học.

    Em là: Phạm Việt Dũng, học sinh lớp 8A học sinh trường THCS Bình Minh xin phép được tường trình với cô một việc như sau:

    Trong giờ học Hóa tiết 2-3 ngày hôm nay do em sơ ý đã làm đổ vỡ 3 ống nghiệm và 1 lọ nước cất. Em xin lỗi cô vì đã không tuân thủ những quy định trong phòng thí nghiệm. Em xin chịu trách nhiệm về lỗi của mình.

    Người làm tường trình

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Luyện Tập Làm Văn Bản Tường Trình
  • Soạn Bài Văn Bản Tường Trình Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Soạn Bài Sang Thu (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Sau Phút Chia Li Của Đoàn Thị Điểm
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Sau Phút Chia Li
  • Bài 20. Ôn Tập Về Văn Bản Thuyết Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Rèn Luyện Kĩ Năng Sử Dụng Câu Trong Văn Bản Thuyết Minh Cho Học Sinh Lớp 10 Thpt.
  • Cách Làm Bài Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài Luyện Tập Viết Đoạn Văn Thuyết Minh
  • Soạn Bài Luyện Tập Viết Đoạn Văn Thuyết Minh (Siêu Ngắn)
  • Luyện Tập Viết Đoạn Văn Thuyết Minh
  • Thời gian

    Hoạt động của GV và HS

    Nội dung bài học

    PTNL

    3′

    ? Muốn viết được bài giới thiệu một danh lam thắng cảnh nào đó, chúng ta cần phải làm gì?

    – Chúng ta phải đến nơi thăm thú, quan sát hoặc tra cứu sách vở, hỏi han những người hiểu biết về nơi ấy.

    ? Nêu bố cục của một bài thuyết minh về danh lam thắng cảnh?

    MB: Giới thiệu về danh lam thắng cảnh

    TB:

    + Vị trí địa lí, lịch sử hình thành

    + Đặc điểm, cấu trúc kết cấu

    + ….

    KB: Ý nghĩa,vai trò của danh lam thắng cảnh.

    Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ

    Tái hiện

    2′

    – Các tiết trước các em đã được tìm hiểu về như thế nào là văn bản thuyết minh và các đặc điểm cũng như là cách làm một bài văn thuyết minh. Tiết ngày hôm nay chúng ta sẽ cùng ôn lại và củng cố thêm cho thể loại văn bản này!

    Hoạt động 2: Giới thiệu bài mới

    Lắng nghe

    15′

    PPDH: Vấn đáp

    HTTDH: Toàn lớp

    ?VB thuyết minh có vai trò và tác dụng ntn trong đời sống?

    – Đáp ứng nhu cầu hiểu biết của con người cung cấp cho con người những tri thức về tự nhiên, xã hội để có thể vận dụng phục vụ lợi ích của mình

    ?Nhắc lại đặc điểm tính chất của các kiểu VB khác?

    Kiểu VB

    Đặc điểm, tính chất

    Mục đích

    TS

    Kể lại sự kiện, câu chuyện đã xỷ ra

    Làm cho người đọc cảm nhận là chủ yếu

    MT

    Tả lại đặc điểm của cảnh vật, con người…

    BC

    Bộc lộ tình cảm, cảm xúc

    NL

    Trình bày luận điểm bằng lập luận

    Để người đọc, người nghe hiểu

    TM

    Giới thiệu về SV, HT tự nhiên, xã hội

    HIểu bản chất của sự việc, sự vật…

    ?VB thuyết minh có những tính chất gì khác với văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận?

    – Ba tính chất trên chủ yếu làm cho người đọc, người nghe hiểu về đối tượng được TM, còn sự hấp dãn là điều nên có để Vb dễ đi vào lòng người.Vì vậy VBTM sử dụng ngôn ngữ chính xác, cô đọng, chặt chẽ và sinh động

    Như vậy VBTM mang ND khoa học để đạt được mục đích hiểu là chủ yếu chứ không phái cảm như TS, MT, BC.

    VNNL cũng nhằm mục đích hiểu là chủ yếu nhưng hiểu qua lập luận chứ khôngphải qua bản chất của SV, HT như trong VNTM.

    Muốn làm tốt VB thuyết minh, cần phải chuẩn bị những gì?

    – Bước 1: Học tập, quan sát, nghiên cứu, tích luỹ tri thức để nắm vững và sâu sắc đối tượng.

    – Bước 2: Lập ý và lập dàn ý

    – Bước 3: Viết bài

    – Bước 4: Sửa chữa bài viết

    ?Những phương pháp thuyết minh nào thường được chú ý vận dụng?

    – Nêu định nghĩa, giải thích

    – Liên hệ, hệ thống hoá

    – Nêu VD

    – Dùng số liệu

    – So sánh đối chiếu

    – Phân loại, phân tích

    ? Em hãy nêu dàn ý chung của một bài văn thuyết minh

    *Mở bài :

    Giới thiệu khái quát về đối tượng

    * Thân bài:

    Lần lượt giới thiệu từng mặt, từng phần, từng vấn đề đặc điểm của đối tượng.

    Nếu là thuyết minh một phương pháp thì cần theo 3 bước: chuẩn bị, quá trình tiến hành, kết quả theo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Ôn Tập Văn Thuyết Minh (Kết Cấu Và Lập Dàn Ý)
  • Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia
  • Soạn Bài Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên
  • Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Quốc Gia (Thân Nhân Trung)
  • Soạn Bài Hoạt Động Giao Tiếp Bằng Ngôn Ngữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100