Ôn Tập Văn Bản “hoàng Lê Nhất Thống Chí”

--- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn 9 Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Giải Đáp: Quản Trị Hành Chính Văn Phòng Tiếng Anh Là Gì?
  • Công Tác Soạn Thảo Văn Bản, Ban Hành Và Quản Lý Văn Bản Tại Cty, Hay!
  • Văn Bản Hành Chính Doanh Nghiệp
  • : Ngô Gia Văn Phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, trong đó hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753-1788), làm quan thời Lê Chiêu Thống, và Ngô Thì Du (1772-1840), làm quan dưới chiều nhà Nguyễn.

    2. Thể loại : (chí là một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).

    Cũng có thể xem Hoàng Lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi.

    3. Hoàn cảnh : hồi thứ 14, viết về sự kiện Quang Trung đại phá quân Thanh.

    Nội dung: Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lê nhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm hại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    * Đại ý: Đoạn trích miêu tả chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung, sự thảm bại nhục nhã của quân tướng nhà Thanh và số phận lũ vua quan phản nước, hại dân.

    – Trước thế mạnh của giặc, quân Tây Sơn ở Thăng Long, rút quân về Tam Điệp và cho người vào Phủ Xuân cấp báo với Nguyễn Huệ.

    – Nhận được tin ngày 24/11, Nguyễn Huệ liền tổ chức lại lực lượng chia quân làm hai đạo thuỷ – bộ.

    – Ngày : ” 30, quân của Quang Trung ra đến Tam Điệp, hội cùng Sở và Lân. Quang Trung đã khẳng định Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh“. Cũng trong ngày 30, giặc giã chưa yên, binh đao hãy còn mà ông đã nghĩ đến kế sách xây dựng đất nước mười năm sau chiến tranh. Ông còn mở tiệc khao quân, ngầm hẹn mùng 7 sẽ có mặt ở thành Thăng Long mở tiệc lớn. Ngay đêm đó, nghĩa quân lại tiếp tục lên đường. Khi quân Tây Sơn ra đến sông Thanh Quyết gặp đám do thám của quân Thanh, Quang Trung ra lệnh bắt hết không để sót một tên.

    – “Hoàng Lê nhất thống chí” là một cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng chữ Hán được viết theo thể chương hồi do nhiều tác giả trong Ngô Gia Văn Phái (Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du…) sáng tác. Đây là một bức tranh sâu rộng vừa phản ánh được sự thối nát, suy tàn của triều đình Lê Trịnh, vừa phản ánh được sự phát triển của phong trào Tây Sơn.

    – Trong hồi thứ 14 của tác phẩm, hình tượng người anh hùng Quang Trung hiện lên thật cao đẹp với khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt và tài thao lược hơn người.

    – Từ đầu đến cuối đoạn trích, Nguyễn Huệ luôn luôn là con người hành động một cách xông xáo, nhanh gọn có chủ đích và rất quả quyết.

    – Nghe tin giặc đã đánh chiếm đến tận Thăng Long mất cả một vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao núng ” định thân chinh cầm quân đi ngay “.

    – Rồi chỉ trong vòng hơn một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: ” tế cáo trời đất “, lên ngôi hoàng đế, dốc xuất đại binh ra Bắc…

    * Ngay khi mấy chục vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị hùng hổ kéo vào nước ta, thế giặc đang mạnh, tình thế khẩn cấp, vận mệnh đất nước ” ngàn cân treo sợi tóc “, Nguyễn Huệ đã quyết định lên ngôi hoàng đế để chính danh vị, lấy niên hiệu là Quang Trung.

    – Qua lời dụ tướng sĩ trước lúc lên đường ở Nghệ An, Quang Trung đã chỉ rõ “đất nào sao ấy” người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác“. Ông còn vạch rõ tội ác của chúng đối với nhân dân ta: ” Từ đời nhà hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”.

    – Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập của cha ông ta từ ngàn xưa như: Trưng nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành…

    – Quang Trung đã dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người Phù Lê “thay lòng đổi dạ” với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính chí tình, vừa nghiêm khắc: “các người đều là những người có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai”.

    – Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Sở và Lân ta thấy rõ: Ông rất hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì ” quân thua chém tướng” nhưng không hiểu lòng họ, sức mình ít không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp để tập hợp lực lượng. Vậy Sở và Lân không bị trừng phạt mà còn được ngợi khen.

    – Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao và sử dụng như một vị quân sĩ ” đa mưu túc trí ” việc Sở và Lân rút chạy Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao.

    – Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đất nào vậy mà vua Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột ” phương lược tiến đánh đã có tính sẵn “.

    – Đang ngồi trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 tới ta hoà bình. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được vì xỉ nhục của nước lớn còn đó. Nếu ” chờ 10 năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng “.

    Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà vua Quang Trung hoạch định kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tiết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.

    – Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng đội quân vẫn chỉnh tề cũng là do tài tổ chức của người cầm quân.

    – Vua Quang Trung thân chinh cầm quân không phải chỉ trên danh nghĩa. Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.

    – Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy này, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù.

    – Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng cũng được khắc hoạ lẫm liệt: trong cảnh ” khói tỏ mù trời, cách gang tấc không thấy gì” nổi bật hình ảnh nhà vua ” cưỡi voi đi đốc thúc ” với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.

    – Hình ảnh người anh hùng được khắc hoạ khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dùng binh như thần; là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.

    Với ý thức tôn trọng sự thực lịch sử và ý thức dân tộc, những người trí thức – các tác giả Ngô Gia Văn Phái là những cựu thần chịu ơn sâu, nghĩa nặng của nhà Lê, nhưng họ đã không thể bỏ qua sự thực là ông vua nhà Lê yếu hèn đã cõng rắn cắn gà nhà và chiến công lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn, làm nổi bật hình ảnh vua Quang Trung – người anh hùng áo vải, niềm tự hào lớn của cả dân tộc. Bởi thế họ đã viết thực và hay đến như vậy về người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ.

    Tôn Sỹ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:

    + Kéo quân vào Thăng Long dễ dàng ” ngày đi đêm nghỉ” như ” đi trên đất bằng“, cho là vô sự, không đề phòng gì, chỉ lảng vảng ở bên bờ sông, lấy thanh thế suông để doạ dẫm.

    + Hơn nữa y còn là một tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư ra sao. Dù được vua tôi Lê Chiêu Thống báo trước, y vẫn không chút đề phòng suốt mấy ngày Tết ” chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng, không hề lo chi đến việc bất chắc “, cho quân lính mặc sắc vui chơi.

    – Khi quân Tây Sơn đánh đến nơi, tướng thì sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp… chuồng trước qua cầu phao, quân thì lúc lâm trận “ai nấy đều rụng rời, sợ hãi, xin ra hàng hoặc bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết, ” quân sĩ các doanh nghe thấy đều hoảng hốt, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều“, ” đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa“. Cả đội binh hùng, tướng mạnh, chỉ quen diễu võ dương oai bây giờ chỉ còn biết tháo chạy, mạnh ai nấy chạy, ” đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi “.

    * Nghệ thuật: kể chuyện, xen kẽ với những chi tiết tả thực thật cụ thể, chi tiết, sống động với nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứng tâm trạng hả hê, sung sướng của người viết cũng như của dân tộc trước thắng lợi của Sơn Tây.

    – Lê Chiêu Thống và những bề tôi trung thành của ông ta đã vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh của cả dân tộc đặt vào tay kẻ thù xâm lược, lẽ tất nhiên họ phải chịu đựng nỗi sỉ nhục của kẻ đi cầu cạnh, van xin, không còn đâu tư cách bậc quân vương, và kết cục cũng phải chịu chung số phận bi thảm của kẻ vọng quốc.

    – Khi có biến, quân Thanh tan rã, Lê Chiêu Thống vội vã cùng mấy bề tôi thân tín ” đưa thái hậu ra ngoài“, chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền dân để qua sông, ” luôn mấy ngày không ăn “. May gặp người thổ hào thương tình đón về cho ăn và chỉ đường cho chạy trốn. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, vua tôi chỉ còn biết nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt, và sau khi sang đến Trung Quốc phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.

    : Xen kẽ kể với tả sinh động, cụ thể gây ấn tượng mạnh. Ngòi bút đậm chút xót thương của tác giả bề tôi trung thành của nhà Lê.

    – Tất cả đều là tả thực, với những chi tiết cụ thể, nhưng âm hưởng lại rất khác nhau:

    – Đoạn văn trên nhịp điệu nhanh, mạnh, hối hảngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp”, “tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau…“, ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứa tâm trạng hả hê, sung sướng của người thắng trận trước sự thảm bại của lũ cướp nước.

    – Ở đoạn văn dưới, nhịp điệu có chậm hơn, tác giả dừng lại miêu tả tỉ mỉ những giọt nước mắt thương cảm của người thổ hào, nước mắt tủi hổ của vua tôi Lê Chiêu Thống, cuộc theíet đãi thịnh tình ” giết gà, làm cơm” của kẻ bề tôi… âm hưởng có phần ngậm ngùi, chua xót. Là những cựu thần của nhà Lê, các tác giả không thể không mủi lòng trước sự sụp đổ của một vương triều mà mình từng phụng thờ, tuy vẫn hiểu đó là kết cục không thể tránh khỏi.

    Bài tập 2: Đọc đoạn trích ” Quân Thanh sang……không nói trước”

    a. Những lời trên Quang Trung nói ở đâu?

    b. Đọc đoạn văn này em thấy giống thể loại gì trong văn học cổ?

    c. Đọc đến hai câu cuối, em liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài nào của văn học cổ? do ai viết? mục đích viết?

    d. Nội dung đoạn văn gồm mấy ý chính? Đó là những ý gì?

    Hai câu cuối khiến ta liên tưởng thấy giống như những lời văn trong bài ” Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn.Mục đích viết : kêu gọi quân sĩ học tập ” Binh thư yếu lược” để đánh giặc Nguyên- Mông

    Bài tập 3: Trong hồi thứ 14 có đoạn viết ” chúng tôi Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván….máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại”

    a. Nhận xét nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích trên?

    b. Đoạn trích trên cho em hiểu gì về người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ?

    a. Nghệ thuật đặc sắc : Trần thuật theo diễn biến sự việc; trần thuật xen lẫn miêu tả: tả việc làm -tả hình ảnh Quang Trung, tả quân sĩ Quang Trung, tả quân Thanh, tả không gian chung của trận đánh

    b. Đoạn trích cho ta hiểu :

    Nguyễn Huệ là người có tài thao lược, sáng tạo ra phương tiện độc đáo để chiến đấu

    Là vị tướng có tài tổ chức trận đánh: bố trí quân lính, lúc thì sử dụng binh khí, lúc thì đánh giáp lá cà

    Quang Trung không những là một vị tướng có tài mà còn là một người anh hùng trực tiếp xông pha chiến trận từ lúc bắt đầu trận đánh cho đến khi trận đánh kết thúc

    → Miêu tả chính xác chân dung kẻ cướp nước. Cả đội quân trước đây hùng hổ, huyênh hoang, ngạo mạn thì giờ đây xộc xệch, bấn loạn, dẫm đạp lên nhau mà chạy trốn. Quả là sự thảm bại nhục nhã

    → Đường đường là vua của một nước nhưng tự biến mình thành kẻ thù của cả dân tộc → cuối cùng đã phải trả giá

    Bài tập 5: Viết đoạn văn khoảng 10 câu theo kiểu qui nạp, trình bày cảm nhận của em về trí tuệ nhạy bén,sáng suốt của người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ thể hiện trong đoạn trích hồi thứ 14 của ” Hoàng Lê nhất thống chí”. Trong đoạn văn có sử dụng cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp?

    Trước hết, trí tuệ nhạy bén, sáng suốt của Quang Trung thể hiện trong việc lên ngôi. Trước biến cố lớn của đất nước, Nguyễn Huệ lên ngôi là điều cần thiết để chính vị hiệu yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, tập hợp sức mạnh đoàn kết để đánh đuổi giặc Thanh. Không những vậy, trí tuệ nhạy bén, sáng suốt của vua còn thể hiện trong việc phân tích thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch. Trong lời phủ dụ quân sĩ ở Nghệ An,với trí tuệ sáng suốt,ông đã nêu bật dã tâm của địch: người phương Bắc không phải nòi giống ta, bụng dạ ắt khác Bên cạnh đó ông đã khéo léo nhắc lại truyền thống đánh giặc để kích thích lòng quân,từ đó phân tích rõ cái được,cái mất,cái lợi,cái hại: mọi việc lợi, hại, được, mất ấy đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Cách phân tích sáng suốt, thấu tình đạt lí ấy đã giúp quân sĩ thấy được thời cuộc, từ đó có hành động cứu nước.Ông còn thấy rõ tình hình lúc này Bắc Hà mới yên,lòng người chưa phục,Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có núi sông để nương tựa, người trong kinh kì làm nội ứng cho giặc thì làm sao mà có thể cử động được. Qua những lời phân tích ấy, có thể thấy rõ vua Quang Trung là người sắc sảo, sáng suốt trong việc xác định thế tương quan chiến lược giữa ta và địch.Trong cách dùng người, Quang Trung cũng rất sáng suốt nhạy bén. Khi Sở, Lân mang gươm trên lưng mà xin chịu tội, ông đã không trách tội mà còn khen ngợi rằng họ đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của giặc, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu,bên trong thì kích thích lòng quân,bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng,kế ấy là rất đúng Qua lời khen ấy ta càng thấy rõ trí tuệ của người anh hùng trong việc xét đoán và dùng người. Tóm lại, qua đoạn trích hồi thứ 14 của Hoàng Lê nhất thống chí, với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả đã tái hiện chân thực, sinh động hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung-Nguyễn Huệ là người có trí tuệ nhạy bén,sáng suốt.

    (1): Lời dân trực tiếp

    (2): Lời dẫn gián tiếp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 9 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Hồi Thứ 14 Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bài Tóm Tắt: Hoàng Lê Nhất Thống Chí Cực Hay, Ngắn (5 Mẫu).
  • Dàn Ý Cảm Nghĩ Của Em Về Hình Ảnh Bọn Cướp Nước, Bán Nước Trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Sơ Đồ Tư Duy Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Chi Tiết)
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Cảm Nhận Về Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • + Ngô Thì Chí (1753 – 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống.

    + Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới triều Nguyễn.

    Tin quân Thanh kéo vào Thăng Long, tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về núi Tam Điệp. Ngày 25 tháng Chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua (hiệu là Quang Trung) ở Phú Xuân, tự mình đốc suất lại binh để chuẩn bị tiến quân ra Bắc diệt Thanh.

    Dọc đường vua Quang Trung cho tuyển thêm lính, mở cuộc duyệt binh lớn và chia quân thành các ngả để tiến ra Bắc. Ra chỉ dụ tướng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp, hẹn đến ngày mồng 7 Tết thắng lợi sẽ mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long.

    Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đó khiến quân Thanh đại bại. Rạng sáng ngày mồng 3 Tết, nghĩa quân đã tiến vào Thăng Long, bí mật bao vây đồn Hạ Hồi, dùng mưu để quân giặc đầu hàng và hạ đồn một cách dễ dàng.

    Ngày mồng 5 Tết, nghĩa quân tiến vào công đồn Ngọc Hồi. Quân giặc chống trả quyết liệt, cuối cùng phải chịu đầu hàng, Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử, Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến trốn chạy theo.

    – Phần một: Từ đầu đến ” năm Mậu thân 1788″: Tin quân Thanh đã chiếm thành Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

    – Phần hai: Tiế theo đến ” kéo vào thành”: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của nghĩa quân Tây Sơn.

    – Phần ba: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và số phận thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    II. Trọng tâm kiến thức

    + Vua Quang Trung đã khẳng định chủ quyền dân tộc: ” Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy, đều đã phân biệt rõ ràng… Người phương Bắc không phải nòi giống nước ta “.

    + Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời nói của Quang Trung với Lân và Sở, ta thấy: ông rất hiểu tình thế buộc phải rút quân để bảo toàn lực lượng của hai vị tướng này. Đúng ra thì ” quân thua chém tướng “. Nhưng ông hiểu lòng họ, sức ít không thể địch nổi quân hùng tướng hổ nhà Thanh.

    + Đối với Ngô Thì Nhậm, ông hiểu tường tận năng lực, khả năng ” đa mưu túc trí ” của vị quân sĩ này. Việc Lân và Sở rút chạy, Quang Trung cũng đoán là do Nhậm chủ mưu, vừa là để bảo toàn lực lượng, vừa gây cho địch sự chủ quan. Ông đã tính đến việc dùng Nhậm là người biết dùng lời khéo léo để dẹp việc binh đao sau này.

    – Đang lo việc đánh giặc, Quang Trung đã tính sẵn cả kế hoạch sau chiến thắng (kế hoạch cho mười năm sau), tìm cách ngoại giao với giặc để có thể dẹp ” việc binh đao“, ” cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng “,…

    + Ngày 25 tháng Chạp bắt đầu xuất quân từ Phú Xuân (Huế).

    + Vượt khoảng 350 km đường đèo, núi, đến ngày 29 đã tới Nghệ An.

    + Tổ chức tuyển quân, duyệt binh chỉ trong một ngày.

    + Ngay hôm sau, vượt khoảng 150 km, tiến ra Tam Điệp.

    + Đêm 30 tháng Chạp ” lập tức lên đường ” tiến thẳng Thăng Long. Vừa hành quân vừa đánh giặc và giữ bí mật đến bất ngờ.

    + Ở trận Hạ Hồi, bằng chiến thuật nghi binh đã giúp nghĩa quân chiến thắng vẻ vang mà không tốn một hòm tên, mũi đạn.

    + Ở trận Ngọc Hồi, cho quân làm những tấm ván ghép, bên ngoài phủ rơm dấp nước nên binh lính tiến sát đồn mà không bị đạn hỏa công.

    – Đối lập với hình ảnh của nghĩa quân Tây Sơn:

    + Tướng Tôn Sĩ Nghị: ” sợ mất mật, ngựa không còn kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhằm hướng Bắc mà chạy “; Sầm Nghi Đống thì thắt cổ tự tử.

    + Quân ” đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều… đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa “.

    – Cả một đội binh hùng tướng mạnh mấy chục vạn người diễu võ dương oai giờ đây chỉ còn biết tháo chạy ” đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi “.

    – Nguyên nhân của sự thất bại:

    – Họ không còn tư cách của bậc quân vương mà phải chịu số phận nhục nhã của kẻ cầu cạnh, van xin và kết cục chịu chung số phận thảm hại của kẻ vong quốc: Lê Chiêu Thống cũng vội vã cùng kẻ thân tín chạy bán sống, bán chết, ” luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều mệt lử“, chỉ biết ” nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt “.

    Hoàng Lê nhất thống chí lựa chọn trình tự kể theo diễn biến của các sự kiện lịch sử.

    – Khắc họa nhân vật lịch sử với ngôn ngữ kể, tả chân thực, sinh động.

    – Giọng điệu trần thuật thể hiện thái độ của tác giả với vương triều Lê, với chiến thắng của nhân dân, dân tộc với bọn cướp nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Phân Tích Nhân Vật Nguyễn Huệ Trong Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Phân Tích Hồi Thứ 14 Trích Trong Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Gia Văn Phái
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngữ Văn 9 Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Nét Cơ Bản Về Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Bộ Câu Hỏi Ôn Tập Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Cảm Nhận Cái Hay Của Hồi Mười Bốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí – Ngô Gia Văn Phái
  • Cảm Nhận Vẻ Đẹp Hình Ảnh Hai Cây Phong Trong Đoạn Trích Hai Cây Phong
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu về nhóm tác giả Ngô gia văn phái trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Văn bản Hoàng Lê nhất thống chí được trích phần lớn hồi thứ mười bốn trong tổng số 17 hồi của cuốn tiểu thuyết cùng tên, viết về sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh.

    * Thể loại: Văn bản được viết theo thể loại chí (một lối văn ghi chép sự vật, sự việc).

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Đoạn trích Hoàng Lê nhất thống chí có thể được chia làm 3 phần:

    • Phần 3: còn lại : Sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    Câu 2:

    * Qua đoạn trích tác phẩm, em cảm nhận người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ:

    • Mạnh mẽ, quyết đoán, có kiến thức, am hiểu lịch sử, bình dị, gần gũi với mọi người.
    • Là một người có tài năng quân sự: hành quân thần tốc, có phán đoán tài tình, mưu kế kì diệu.
    • Sáng suốt trong việc dùng người, có tầm nhìn xa trông rộng: ông hiểu rõ được bản chất của bọn Sở, Lân và kế lui quân của Ngô Thì Nhậm, định sẵn mưu lược, tính kế lâu dài
    • Thấu tình đạt lí: Ông tha tội cho tướng Sở, Lân mặc dù họ thua trận, đánh giặc vì đại nghĩa.

    * Theo em, nguồn cảm hứng đã chi phối ngòi bút tác giả khi tạo dựng hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ là tư tưởng trung quân của Nho giáo trong tác giả với nhà Lê. Ngô gia văn phái vốn rất trung thành với nhà Lê nhưng họ lại viết về vua Quang Trung với đầy tinh thần ngợi ca vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Chính nhờ đó đã tạo cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao và tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Và đây cũng là đặc điểm quan trọng của một tác phẩm tiểu thuyết lịch sử.

    Câu 3:

    Sự thảm bại của quân tương nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân đã được miêu tả:

    * Quân tướng nhà Thanh:

    • Sầm Nghi Đống thắt cổ chết, Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp chuồn trước qua cầu phao”
    • Quân lính thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối; tan tác chạy tranh nhau sang sông, rơi xuống nước làm sông tắc nghẽn.

    * Vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân:

    • Lê Chiêu Thống vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động “cõng rắn cắn gà nhà”; cướp thuyền bỏ chạy, mấy ngày không ăn mệt lử, cuống quýt, than thở, oán giận, chảy nước mắt, đau đớn, nhục nhã trước quân Thanh.

    Ngòi bút miêu tả hai cuộc tháo chạy của quân tướng nhà Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống có sự khác biệt. Trong đoạn văn miêu tả cuộc tháo chạy của Lê Chiêu Thống rơi vào tình cảnh khốn quẫn, nhưng vẫn gửi gắm vào đó một chút cảm xúc ngậm ngùi của người bề tôi cũ.

    Câu 4:

    Nhận xét về nghệ thuật trần thuật của đoạn trích: Đoạn trích không ghi chép những sự kiện một cách gấp gáp qua từng mốc thời gian, mà miêu tả cụ thể hành động, lời nói. Đoạn trích đã miêu tả được thế đối lập giữa hai đội quân: xộc xệch, nhát gan với xông xáo, dũng mãnh, có tổ chức.

    4.2

    /

    5

    (

    13

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Tỉnh Đồng Tháp
  • Văn Bản Hợp Nhất 03/vbhn
  • Chất Lượng Ban Hành Văn Bản Hành Chính Tại Ubnd Cấp Xã Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Tư Vấn Soạn Thảo Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa
  • Một Số Sai Sót Trong Quá Trình Soạn Thảo Văn Bản Qppl Ở Cấp Tỉnh
  • Bài 5. Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Câu Hỏi Tác Phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Cảm Nghĩ Về Người Anh Hùng Nguyễn Huệ Trong Hồi Thứ Mười Bốn Của Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Dàn Ý Phân Tích Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Nhất
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Văn bản

    Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    H

    i

    T

    h

    14

    NGÔ GIA VĂN PHÁI

    1. Tác giả.

    – Dòng họ Ngô Thì ở làng tả Thanh Oai – Hà Tây viết.

    – Ngô Thì Chí ( 1753 -1788 ) viết 7 hồi đầu.

    – Ngô Thì Du ( 1772 – 1840 ) viết 7 hồi tiếp.

    – 3 hồi khác do một ngưuời khác viết.

    -Tác phẩm viết bằng chữ Hán, có quy mô lớn gồm 17 hồi.

    – Nội dung: Ghi chép về sự thống nhất của vuong triều nhà Lê và tái hiện lại một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

    2. Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí.

    3. Th? lo?i: Ti?u thuy?t chuong h?i vi?t theo th? Chí ( là thể văn ghi chép lại sự vật, sự việc. Đây là thể văn vừa có tính chất văn học vừa có tính chất lịch sử.)

    Tên tác phẩm có nghĩa là: Cuốn sách gi chép về sự thống nhất của vuương triều nhà Lê viết theo thể chí.

    Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí đưuợc coi là Tiểu thuyết lịch sử chưuơng hồi

    Nội dung: Viết về những sự kiện lịch sử, chịu ảnh hưuởng lối viết của tiểu thuyết chưuơng hồi Trung Quốc.

    Hình thức: Có kết cấu, nghệ thuật khắc họa nhân vật, cách miêu tả, tự sự lại rất đậm chất tiểu thuyết.

    Hồi thứ 14

    Ghi lại sự kiện vua Quang Trung đại phá quân Thanh vào mùa xuân năm 1789, lập nên triều đại Tây Sơn. Phản ánh bộ mặt thảm hại của bọn cuướp nưuớc và bán nuớc.

    Tóm tắt.

    Quân Thanh kéo vào Thăng Long, tuướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở lui quân về vùng núi Tam Điệp. Đuược tin Quang Trung rất giận, bèn họp tuướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Nhưng nghe mọi nguười đến họp khuyên Ông đã lên ngôi vua ở Phú Xuân, tự đốc xuất đại binh nhằm ngày 25 tháng Chạp năm 1788 tiến quân ra Bắc diệt Thanh. Dọc đưuờng vua Quang Trung cho kén thêm quân lính, mở cuộc duyệt binh lớn, chia quân thành các đạo, chỉ dụ tưuớng lĩnh, mở tiệc khao quân vào ngày 30 tháng Chạp. Hẹn đến ngày mùng 7 Tết thắng giặc mở tiệc ăn mừng ở Thăng Long. Đội quân của Quang Trung đánh đến đâu thắng đến đấy, khiến quân Thanh đại bại. Ngày mùng 3 Tết quân Tây Sơn công phá đồn Hà Hồi, sáng sớm ngày mùng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi, trưa mùng 5 Tết tiến binh đến Thăng Long. Tưuớng Thanh là Tôn Sĩ Nghị vội vã tháo chạy về nước, vua Lê Chiêu Thống cùng gia quyến vội vã chạy trốn theo.

    4. Phưuơng thức biểu đạt.

    Tự sự kết hợp với miêu tả và nghị luận.

    – Đoạn 1 (từ đầuhôm ấy là ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân 1788): Quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế cầm quân dẹp giặc.

    – Đoạn 2 (Vua QT tự mình đốc suất đại binh  rồi kéo vào thành): Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của QT.

    – Đoạn 3 (còn lại): Hình ảnh thất bại thảm hại của bọn xâm lăng và lũ vua quan bán nước.

    1.Hỡnh ?nh Quang Trung- Nguy?n Hu?.

    Khi Bắc Bình Vuương đuược tin cấp báo quân Thanh đã đến Thăng Long, Ông đã có phản ứng nhuư thế nào ?

    Nghe tin: Giận lắm, họp tuớng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay.

    Khi mọi nguười đến họp đã khuyên Ông điều gì ? Ông đã hành động nhưu thế nào ?

    Nghe lời tuướng sĩ lên ngôi Hoàng đế, sau đó hạ lệnh xuất quân ( 25/12/1788 )

    Qua thái độ và hành động trên tính cách nào của vua Quang Trung đưuợc bộc lộ ?

    Ngay thẳng, cuương trực, căm ghét bọn xâm lưuợc và những kẻ bán nuước.

    Khi nghe mọi nguười đến họp khuyên Quang Trung đã có nghe lời tưuớng sĩ, lên ngôi Hoàng đế… Việc làm đó chứng tỏ Ông là con nguười nhuư thế nào ?

    Thấu hiểu lẽ phải, có ý chí quyết tâm đánh đuổi quân xâm lưuợc.

    * Khi mới nghe tin:

    * Ngày 29 tháng 12 đến Nghệ An:

    Ngày 29 tháng 12 Quang Trung đã đến địa danh nào ? ở đây Ông đã có những việc làm gì ?

    Gặp ngưuời cống sĩ ở La Sơn hỏi việc đánh giặc.

    Kén lính ở Nghệ An và mở cuộc duyệt binh lớn.

    Sắp xếp đội ngũ và truyền cho quân sĩ ngồi nghe lệnh và dụ họ.

    Chỉ trong vòng ngày 29 Quang Trung làm đuược bao nhiêu là việc lớn. Những việc làm đó cho thấy Ông là một người luôn hành động nhưu thế nào ?

    Hành động mạnh mẽ, quyết đoán.

    LÍNH TÂY SƠN

    Quan sát lời chỉ dụ của vua Quang Trung với quân sĩ trong SGK trang 66 em thấy nội dung lời chỉ dụ nêu lên những gì ?

    Khẳng định chủ quyền đất nưuớc.

    Nêu lên dã tâm của giặc phưuơng Bắc.

    Tự hào về công lao đánh giặc ngoại xâm của cha ông.

    Tin tuưởng vào chính nghĩa của cuộc hành binh diệt Thanh và kêu gọi quân sĩ đánh giặc.

    Ra kỷ luật đối với quân sĩ.

    Từ lời dụ quân sĩ trên em thấy tài năng nào của Nguyễn Huệ đưuợc bộc lộ ?

    Tài khích lệ quân sĩ.Trí tuệ sáng suốt và nhạy bén.

    Lời chỉ dụ của Quang Trung_Nguyễn Huệ

    * Ngày 30 tháng 12 năm 1788

    Sau khi mở cuộc duyệt binh vào ngày 29 ở Nghệ An. Ngày hôm sau ( 30 Tết ) Quang Trung đã có quyết định gì ?

    Hạ lệnh xuất quân đến Tam Điệp.

    Mở tiệc khao quân.

    Xử trí hai tưuớng Sở và Lân

    Hoạch định kế sách đánh giặc và tính kế hoạch ngoại giao sau chiến tranh.

    Tại Tam Điệp, Quang Trung đã có những việc làm nào ?

    Tối 30 Tết thì lên đưuờng tiến quân ra Thăng Long.

    Tại Tam Điệp, Quang Trung đã xử trí 2 tưuớng Sở và Lân nhuư thế nào ? Từ cách xử trí ấy nói với em về một con nguười có phẩm chất nhuư thế nào ?

    Năng lực tiên đoán chính xác của một nhà quân sự có tài.

    Tầm nhìn xa trông rộng, một nhà chính trị có tưu tưuởng hòa bình.

    Nhạy bén, sáng suốt, độ luượng và công minh trong việc xét đoán bề tôi.

    Việc Quang Trung nói với tuướng sĩ về kế hoạch ngoại giao với nhà Thanh sau chiến tranh cho thấy đây là một vị vua có tấm nhìn và tuư tưởng nhuư thế nào ?

    Hành động mở tiệc khao quân, cho quân ăn Tết trước và tối 30 Tết lập tức lên đuường cùng lời hứa hẹn đón năm mới ở Thăng Long vào ngày mùng 7 Tết cho thấy năng lực đặc biệt nào ở vị vua này ?

    Ngoài “xe tăng voi lửa” kể trên, binh lính Tây Sơn còn được trang bị một loại vũ khí cá nhân là Hỏa hổ. Hỏa hổ là một loại vũ khí hình ống, một loại súng phun lửa có thể biến địch thành “cây đuốc sống”. Khi lâm trận, trong ống Hỏa hổ bắn nhựa thông ra, trúng phải đâu là lập tức bốc cháy. Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho cả quân chủng lục quân và thủy quân của nhà Tây Sơn.

    Nguyễn Huệ đã biến voi thành những “cỗ xe tăng” có sức mạnh áp đảo, trang bị đại bác và hỏa pháo trên lưng. Trên lưng mỗi quân voi có ba, bốn người lính chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp nơi, đốt cháy quân địch.

    Đội quân “voi lửa” của vua Quang Trung, người thiên tài quân sự cả đời cầm quân không hề biết thua trận là gì, đã hội đủ cả 3 yếu tố chiến thuật: Cơ động, đột kích và hỏa lực. Đây thật sự là một cuộc cách mạng voi chiến so với các thời kỳ trước đó.

    Qua phần 1 hình ảnh vua Quang Trung đưuợc tái hiện lên bằng biện pháp nghệ thuật nào ?

    Các biện pháp nghệ thuật ấy nói với em về một vị vua nhuư thế nào ?

    Kể bằng hành động, sự việc, lời nói cụ thể.

    Là một vị vua yêu nuớc, sáng suốt, có tài cầm quân.

    Bùi Thị Xuân tỉnh Bình Định

    Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, Bùi Thị Xuân sớm được học văn và học võ, người có nhan sắc, khéo tay và viết chữ đẹp. Đến khi theo học võ với Đô thống Ngô Mạnh, bà cũng nhanh chóng thành thạo, nhất là môn song kiếm.

    Với tài nghệ (ngoài tài kiếm thuật, bà còn giỏi bắn cung, cưỡi ngựa và luyện voi) cộng với lòng dũng cảm, Bùi Thị Xuân cùng chồng nhanh chóng trở thành những tướng lĩnh trụ cột, góp công lớn trong công cuộc dựng nghiệp của nhà Tây Sơn ngay từ buổi đầu, trận đại phá quân Mãn Thanh vào đầu xuân Kỷ Dậu (1789), bà chỉ huy đội tượng binh của đạo Trung quân do vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) chỉ huy

    2. Hình ảnh quân tướng nhà Thanh và bọn vua tôi phản nước:

    a, Quân tướng nhà Thanh:

    – Kiêu căng, chủ quan, chỉ lo ăn chơi.

    – Khi quân Tây Sơn đến, tướng Tôn Sĩ Nghị và binh lính bỏ chạy hoảng loạn.Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn

    → Sự thất bại thảm hại.

    b, Bọn vua tôi bán nước:

    – Hình ảnh vua quan Lê Chiêu Thống đớn hèn, nhục nhã, số phận gắn chặt với bọn giặc xâm lược

    → Nhục nhã.

    3. Ý nghĩa văn bản:

    Văn bản ghi lại hiện thực lịch sử hào hùng của dân tộc ta và hình ảnh người anh hùng Nguyễn Huệ trong chiến thắng mùa xuân năm Kỉ Dậu ( 1789)

    1753 – 1792

    III. Tổng kết: Ghi nhớ: sgk/72

    1. Nội dung: Ca ngợi vị vua anh hùng Nguyễn Huệ và tố cáo bè lũ bán nước vua tôi nhà Lê.

    2. Nghệ thuật: Giọng kể sôi nổi, tự hào

    IV.LUYỆN TẬP:

    Viết đọan văn nêu cảm nghĩ của em về người anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung trong chiến công thần tốc đại phá quân Thanh từ tối 30 đến mồng 5 tết Kỉ Dậu (1789)

    Bài 1

    Củng cố

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ 14)
  • Thuyết Minh Về Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Câu Hỏi 8502
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Văn Bản Hợp Nhất Thông Tư 30 Và 22 Về Đánh Giá Xếp Loại Học Sinh Tiểu Học Của Bộ Gd&đt
  • Văn Bản Số 03 Vbhn Bgdđt 2022
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Hành Chính Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính?
  • Thuật Ngữ Văn Bản Hành Chính
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04/vbhn
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04 Bộ Xây Dựng
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04 Điều Lệ Trường Mn
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    1. Hồi thứ mười bốn là một trong những phần hay nhất của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Qua hồi này, tác giả đã dựng lên hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ và sự thất bại thảm hại tất yếu của bọn xâm lược và lũ vua quan phản nước, hại dân một cách chân thực, sinh động. Nội dung này được cụ thể bằng những ý chính trong ba đoạn sau:

    – Đoạn từ đầu đến “hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).”: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, vua Lê thụ phong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, tự mình đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc.

    – Đoạn từ “Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh” cho đến “vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành…”: cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung đối với quân Thanh.

    – Đoạn từ “Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê” cho đến hết: Thất bại thảm hại của quân Tôn Sĩ Nghị và sự thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    2. Hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động, trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược… của một vị anh hùng dân tộc:

    – Hành động mạnh mẽ, quyết đoán:

    + tiếp được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay;

    + lên ngôi hoàng đế, đốc suất đại binh ra Bắc dẹp giặc;

    + gặp Nguyễn Thiếp để hỏi cơ mưu;

    + tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, phủ dụ quân sĩ, lên kế hoạch tiến quân đánh giặc;

    – Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình:

    + Phân tích tình hình, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc;

    + Lời lẽ sắc bén, chặt chẽ, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ: lời phủ dụ;

    + Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng của giặc, chiến thuật nghi binh…);

    + Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.

    – Ý chí quyết chiến quyết thắng, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc, tính toán trước sau chu toàn (trước khi đánh giặc đã tính đến cả đối sách với giặc sau khi chiến thắng)…

    Hình tượng vua Quang Trung đã được miêu tả với đầy đủ những phẩm chất của một vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt. Tác giả Ngô gia văn phái vốn trung thành với nhà Lê mà vẫn viết về vua Quang Trung đầy tinh thần ngợi ca như vậy là vì họ đứng trên tinh thần dân tộc mà phản ánh. Nhờ vậy, càng tạo ra cho tác phẩm sức thuyết phục, tính chân thực cao, chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự thật lịch sử. Đây cũng là điểm đặc sắc của thể loại tiểu thuyết lịch sử.

    3. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống phản nước, hại dân:

    + Tôn Sĩ Nghị bất tài, không nắm được tình hình thực tế, kiêu căng tự mãn, trễ nải quân cơ: “chỉ chăm chú vào yến tiệc, vui mừng, không hề lo chi đến việc bất trắc; khi quân Tây Sơn đánh đến thì “sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao”…

    + Quân tướng hèn nhát, thảm bại: khi nghe tiếng quân Tây Sơn, quân Thanh ở trong đồn Hạ Hồi “ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng”; ở đồn Ngọc Hồi quân thì “bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết”, tướng thì tự thắt cổ chết; thấy nghi binh thì “đều hết hồn hết vía, vội trốn”; khi nghe tin Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy “đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.”…

    + Vì lợi ích của dòng họ, vị thế nhà Lê mà trở thành những kẻ phản động, cõng rắn cắn gà nhà, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc;

    + Đớn hèn, nhục nhã trước quân Thanh;

    + Tháo chạy thục mạng, cướp cả thuyền của dân mà qua sông, khi đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị thì “nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt”, rồi chấp nhận phận vong quốc, sau này phải cạo đầu tết tóc như người Mãn Thanh…

    4. Về bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (một của quân tướng nhà Thanh, một của vua tôi Lê Chiêu Thống):

    – Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh được miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận trước sự thất bại thảm hại của kẻ thù cướp nước: âm hưởng nhanh, gợi tả sự tán loạn, tan tác…

    – Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi.

    Sở dĩ có sự khác biệt đó là vì: mặc dù tôn trọng tính khách quan trong phản ánh, song không thể chối bỏ được thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận; đối với quân tướng nhà Thanh, tác giả miêu tả với một tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống – dẫu sao thì cũng là vương triều mình đã từng phụng thờ.

    Văn bản này được trích từ Hồi 14 – tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái – tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Q- Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng uang Trung Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước.

    Khi đọc, chú ý giọng đối thoại và giọng của tiểu thuyết chương hồi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản Hành Chính Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính?
  • Thuật Ngữ Văn Bản Hành Chính
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04/vbhn
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04 Bộ Xây Dựng
  • Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn phân tích văn bản Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết chương hồi ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của xã hội phong kiến Việt Nam ba mươi năm cuối của thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Các tác giả Ngô Gia Văn Phái không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử tiêu biểu mà còn dựng lên được bức chân dung về người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Hình tượng này được thể hiện …

    Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn phân tích văn bản Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái

    Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết chương hồi ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng của xã hội phong kiến Việt Nam ba mươi năm cuối của thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX. Các tác giả Ngô Gia Văn Phái không chỉ ghi lại những sự kiện lịch sử tiêu biểu mà còn dựng lên được bức chân dung về người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ. Hình tượng này được thể hiện một cách sắc nét thông qua hồi mười bốn của tác phẩm.

    Ngô Gia Văn Phái đã tái hiện và điển hình hóa nhân vật lịch sử Quang Trung Nguyễn Huệ thành một biểu tượng anh hùng, có công lao lớn đối với đất nước. Trước hết, Nguyễn Huệ hiện lên là một con người mạnh mẽ, quyết đoán, xông xáo, nhanh gọn có chủ đích. Ngay khi nghe tin quân Thanh tấn công vào miền Bắc của nước ta, Nguyễn Huệ đã nhận định được mối nguy hại của quân thanh và sự cấp thiết của việc đánh đuổi nên ông đã quyết định lên ngôi hoàng đế và thân chinh dẫn quân ra Bắc.

    Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị tướng tài ba, có tài thao lược, ông đích thân đốc thúc đại quân, trực tiếp lãnh đạo cuộc tấn công ra Bắc. không chỉ vậy,Nguyễn Huệ còn là một người biết trọng dụng hiền tài. Trước quyết định tấn công ra Bắc, ông đã cho mời vào dinh La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một người nổi tiếng học rộng tài cao lúc bấy giờ. Hành động này của Quang Trung cho ta thấy ông là một vị minh quân sáng suốt, mặc dù nắm trong tay quyền quyết định nhưng ông vẫn đặt việc trọng đại của đất nước lên trên hết.

    Lời khẳng định của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng đã thể hiện được sự sáng suốt cũng như khả năng chiến thắng của toàn quân: “…Bây giờ trong nước trống không, lòng người tann rã. Quân Thanh ở xa tới đây, không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh hay nên giữ ra sao. Chúa công ra đi chuyến này, không quá mười ngày, quân thanh sẽ bị dẹp tan”.

    Xuất thân từ nhà tướng, Nguyễn Huệ vô cùng linh hoạt trong vệc tổ chức binh lính, từ việc chiêu mộ quân, mở những cuộc duyệt binh lớn ở các doanh trấn, bố chí quân đội thành bốn doanh chính: tiền, hậu,tả, hữu còn những binh lính mới chiêu mộ thì làm trung quân. Qua việc tổ chức quân ta có thể thấy Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị tướng tài ba, bố trí binh lính quy củ, có tổ chức, đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa đến thắng lợi vang dội trước hai mươi vạn quân Thanh.

    Trước cuộc hành quân, để động viên tinh thần chiến đấu của binh lính, Nguyễn Huệ đã đưa ra chỉ dụ trước toàn binh lính, ông nói về âm mưu cùng thủ đoạn thâm độc của quân nhà Thanh,nêu ra những tấm gương chống giặc lừng lẫy trong lịch sử từ đó đưa ra lời động viên, dăn đe những binh lính chưa có tinh thần, ý chí đánh giặc: “…Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi…Các người đều là những kẻ có lương tri, lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như ta phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo ta không nói trước”.

    Mưu lược hơn người của Quang Trung Nguyễn Huệ còn thể hiện ở cuộc tiến công thần tốc ra Bắc cùng chiến thuật tinh vi trong cuộc tấn công quân Thanh ở Ngọc Hồi. Trong cuộc chiến, vua Quang Trung đã cho người lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Cuộc chiến diễn ra ác liệt, quân Thanh quá hoảng loạn trước sự xuất hiện bất ngờ cùng sức mạnh của quân ta mà dẫm đạp lên nhau chạy về nước, đại quân toàn thắng.

    Không chỉ xây dựng hình ảnh người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ mà các tác giả nhà Ngô Gia Văn Phái còn tái hiện lại sinh động tình cảnh thảm hại,nhục nhã của lũ cướp nước Tôn Sĩ Nghị và vua tôi Lê Chiêu Thống. Chúng vẫn luôn chủ quan về sự hùng mạnh của đội quân mình mà không ngờ được sức công phá khủng khiếp của quân ta, thất bại ở Ngọc Hồi khiến chúng sợ hãi mà chạy về nước, vua tôi Lê Chiêu Thống để bảo toàn tính mạng cũng chạy theo thuyền cá về phía Bắc lẩn trốn.

    Tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, đặc biệt là hồi mười bốn Đánh Ngọc Hồi, quân thanh thua trận, bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài, tác giả Ngô Gia Văn Phái đã dựng lên được không khí ác liệt mà không kém phần hào hùng của dân tộc ta trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, cùng với đó là sự ca ngợi chiến thắng của vua Quang Trung.

    TỪ KHÓA TÌM KIẾM

    HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ

    HOANG LE NHAT THONG CHI

    NGÔ GIA VĂN PHÁI

    LÊ CHIÊU THỐNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Mẫu Đơn Giải Trình Như Thế Nào Đúng Chuẩn?
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn bài Hoàng Lê nhất thống chí (Hồi thứ mười bốn – Ngô gia văn phái)

    Bố cục:

    + Phần 1 (từ đầu đến 25 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788): quân Thanh kéo vào xâm lược nước ta

    + Phần 2 (tiếp… rồi kéo vào thành): chiến thắng thần tốc của đạo quân dưới sự dẫn dắt tài ba, trí lược của vua Quang Trung.

    + Phần 3 (còn lại): Quân Thanh đại bại và tình cảnh thảm hại vua Lê Chiêu Thống

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Đại ý: Vua Nguyễn Huệ thần tốc tiến quân ra Bắc dẹp giặc Thanh, vua tôi Lê Chiêu Thống bán nước bỏ chạy theo giặc.

    – Đoạn 1 (từ đầu… năm Mậu Thân): Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, thân chinh cầm quân dẹp giặc.

    – Đoạn 2: (tiếp… nỗi kéo vào thành): Cuộc hành quân thần tốc, chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung

    – Đoạn 3 (còn lại): sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống

    + Biết dùng người đúng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng.

    Câu 2 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Hình tượng Quang Trung- Nguyễn Huệ được xây dựng chân thực, sinh động với hành động trí tuệ, tài điều binh khiển tướng, mưu lược của vị anh hùng dân tộc

    – Hành động mạnh mẽ, dứt khoát:

    + Nhận được tin báo quân Thanh chiếm đóng Thăng Long, liền họp tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay

    + Lên ngôi hoàng đế, đốc xuất đại binh ra Bắc dẹp giặc

    + Trưng cầu ý kiến của người hiền tài (hỏi Nguyễn Thiếp)

    + Tuyển mộ quân lính ở Nghệ An, duyệt binh, ra phủ dụ, chỉ ra kế hoạch đánh giặc

    – Trí tuệ sáng suốt, mẫn cán, điều binh khiển tướng tài tình

    + Chỉ ra tình thế, quyết định tiến quân tiêu diệt giặc

    + Lời lẽ chặt chẽ, sắc bén, kích thích được tinh thần tự tôn dân tộc của tướng sĩ

    + Vạch kế hoạch đánh giặc, sử dụng chiến lược, chiến thuật hợp lí, độc đáo (cách hành quân thần tốc, cách chống lại súng giặc…)

    + Biết dùng người dùng sở trường, ở đoản, đối đãi công bằng

    – Ý chí độc lập, tầm nhìn xa trông rộng: mạnh bạo, tự tin trong kế sách đánh giặc

    – Hình tượng vua Quang Trung được miêu tả với đầy đủ phẩm chất của vị anh hùng, mang vẻ đẹp oai phong lẫm liệt

    Tác giả Ngô gia trung thành với nhà Lê, nhưng vẫn ca ngợi vua Quang Trung bởi tinh thần dân tộc, sự tài tình, tấm lòng yêu nước của Nguyễn Huệ

    Câu 4 (trang 72 sgk ngữ văn 9 tập 1)

    Bút pháp của tác giả khi miêu tả hai cuộc tháo chạy (của quân tướng nhà Thanh, của vua tôi Lê Chiêu Thống)

    + Cảnh tháo chạy của quân tướng nhà Thanh: thảm hại, hèn hạ trước sự miêu tả dưới cái nhìn hả hê, mãn nguyện của người thắng trận

    + Âm hưởng nhanh, dồn dập gợi tả chiến thắng vang dội trước quân giặc khiến chúng tan tác, thảm hại…

    + Cảnh bỏ chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống được miêu tả dài hơn, âm hưởng chậm hơn, toát lên vẻ chua xót, ngậm ngùi

    – Có sự khác biệt là do: sự tôn trọng tính khách quan khi viết sử, nhưng cũng không thể phủ nhận thái độ chủ quan khi quan sát, nhìn nhận với quân tướng nhà Thanh

    + Tác giả miêu tả với tâm thế khác với khi miêu tả cuộc tháo chạy của vua tôi Lê Chiêu Thống- đó là vương triều mình phụng thờ

    Luyện tập

    Sau khi lên ngôi vua, vào tối 30 Tết vua Quang Trung đã lập tức lên đường ra Bắc. Quân ra đến sông Gián làm tan vỡ nghĩa binh trấn thủ. Nửa đêm mồng 3 tháng giêng, nghĩa quân bao vây Hà Hồi. Mờ sáng mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi đánh bại quân Thanh làm nên chiến thắng oanh liệt.

    Bài giảng: Hoàng Lê nhất thống chí – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Đơn Giải Trình Như Thế Nào Đúng Chuẩn?
  • Mẫu Văn Bản Giải Trình Sự Việc
  • 2 Cách Soạn Thảo Văn Bản Bằng Giọng Nói (Google Docs Và Google Dịch)
  • Top 3 Trang Web Chuyển Văn Bản Thành Giọng Nói Tiếng Việt
  • 8 Ứng Dụng Chuyển Văn Bản Thành Giọng Nói Tốt Nhất Cho Android
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Soạn Bài: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Văn Bản Hành Chính Là Gì? Các Loại Văn Bản Hành Chính?
  • Thuật Ngữ Văn Bản Hành Chính
  • Văn Bản Hợp Nhất Số 04/vbhn
  • 1.1. Tìm hiểu chung

    • Ngô gia văn phái, thuộc dòng họ Ngô Thì, trong đó có hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1753 – 1788) và Ngô Thì Du (1772 – 1840).
    • Quê quán: làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
    • Họ sống và làm quan dưới triều Nguyễn.
    • Hoàng Lê nhất thống chí được viết bằng chữ Hán.
    • Là cuốn tiểu thuyết viết theo lối chương hồi.
    • Tất cả có 17 hồi, đoạn trích trên phần lớn là hồi 14.

    c. Bố cục: 3 phần

    • Văn bản được bố cục thành ba phần.
    • Phần 1: Từ đầu đến “năm Mậu Thân“: Được tin báo quân Thanh đã chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, thân chinh cầm quân dẹp giặc.
    • Phần 2: Tiếp đến “rồii kéo vào thành“: Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung.
    • Phần 3: Còn lại: Sự đại bại của quân Thanh và tình cảnh thảm hại của vua tôi Lê Chiêu Thống.

    1.2. Đọc hiểu văn bản

    a. Hình ảnh người anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ

    • Con người hành động mạnh mẽ, quyết đoán, xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết.
      • Chỉ trong vòng 1 tháng từ khi quân Thanh vào Thăng Long, Nguyễn Huệ đã hành động nhanh chóng, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến quân ra Bắc.
      • Tế cáo lên ngôi hoàng đế.
      • Xuất binh ra Bắc.
      • Tuyển mộ quân lính.
      • Mở cuộc tập duyệt binh ở Nghệ An.
      • Kêu gọi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc.
    • Là người có trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, là nhà lãnh đạo chính trị, quân sự, ngoại giao có tầm nhìn xa trông rộng.

      • Nhận định tình hình và đưa ra những quyết định quan trọng đúng lúc.
      • Sáng suốt nhạy bén xét đoán và dùng người. Ông biết khen chê đúng người đúng việc.
      • Khi được tin quân Thanh đã vào thành Thăng Long, ông vẫn không hề lo lắng. Ở Tam Điệp, Quang Trung phỏng đoán chính xác tình hình và đánh giá đúng kế sách của Ngô Thì Nhậm, hiểu sở trường sở đoản của từng tướng, dùng người vào đúng việc”.
    • Ý chí quyết thắng và tài dụng binh như thần.
        Trước khi xuất quân, Quang Trung đã tính kĩ mọi chiến lược tiến đánh, tin chắc vào thắng lợi chỉ trong vòng 10 ngày, hẹn với chiến sĩ ngày 7/1 cùng có mặt ở thành Thăng Long ăn mừng chiến thắng.
    • Quang Trung là một hình ảnh lẫm liệt trong trận chiến.
      • Nhiều chiến lược, mưu kế trong chiến trận.
      • Lãnh đạo tài tình.
      • Bắt sống quân do thám, giữ bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín đồn Hà Hồi, công phá đồn Ngọc Hồi thật oai phong lẫm liệt“.

    → Quang Trung là người anh hùng quả cảm, mạnh mẽ, trí tuệ, sáng suốt, nhạy bén, tài dụng binh như thần, là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.

    b. Hình ảnh bọn cướp nước và bán nước

    • Nhân vật Tôn Sĩ Nghị
      • Kiêu căng, chủ quan, tự mãn.
      • Kinh địch, cầm quân mà không nắm được tình hình.
      • Bất tài, không lo đến việc bất trắc chỉ lo vui chơi.
      • Khi quân Tây Sơn đến, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kíp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, vất cả ấn tín, bàn bèn bỏ chạy thục mạng qua cầu phao sông Hồng“.
      • Quân lính rụng rời sợ hĩãi xin hàng, bỏ chạy.
    • Số phận của triều đình bán nước Lê Chiêu Thống
      • Chịu chung số phận thảm hại với bọn xâm lược, thậm chí còn ê chề, nhục nhã hơn.
      • Lê Chiêu Thống, Thái hậu chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền của dân để qua sông, luôn mấy ngày không được ăn.
      • May gặp người thổ hào cứu giúp chỉ đường cho chạy trốn- gặp được Tôn Sĩ Nghị vua tôi chỉ còn biết ”nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt

    ⇒ Tất cả cho thấy tình cảnh khốn quẫn của vua Lê Chiêu Thống.

    • Đoạn văn miêu tả chân thực, khách quan hàm chứa vẻ hả hê, sung sướng của người thắng trận trước kẻ xâm lược.
    • Kể chuyện xen kẽ miêu tả một cách sinh động, cụ thể, gây ấn tượng mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Của Ngô Gia Văn Phái
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Hồi Thứ Mười Bốn)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Mẫu Đơn Giải Trình Như Thế Nào Đúng Chuẩn?
  • Mẫu Văn Bản Giải Trình Sự Việc
  • Đọc Hiểu Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Sơ Đồ Tư Duy Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14 Ngắn Gọn
  • Đọc Hiểu Tác Phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tìm Hiểu Về “hoàng Lê Nhất Thống Chí”
  • Đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Dựa Vào Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Hồi Thứ Mười Bốn, Kết Hợp Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Nội Tâm,
  • I- TÌM HIỂU CHUNG

    1. Tác giả:

    Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái, một tập thể tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì, ở làng Tả Thanh Oai, nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Hai tác giả chính là Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du.

    – Ngô Thì Chí (1753-1788) là em ruột Ngô Thì Nhậm, từng làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống. Ông tuyệt đối trung thành với nhà Lê, từng chạy theo Lê Chiêu Thống khi Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, dâng Trung hưng sách bàn kế khôi phục nhà Lê. Sau đó ông được Lê Chiêu Thống cử đi Lạng Sơn chiêu tập những kẻ lưu vong, lập nghĩa binh chống Tây Sơn, nhưng trên đường đi ông bị bệnh, mất tại huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Nhiều tài liệu nói ông viết bảy hồi đầu của tác phẩm.

    – Ngô Thì Du (1772-1840) là anh em chú bác ruột với Ngô Thì Chí, học giỏi nhưng không đỗ đạt gì. Dưới triều Tây Sơn, ông ẩn mình ở vùng Kim Bảng (Hà Nam). Thời nhà Nguyễn, ông ra làm quan, được bổ Đốc học Hải Dương, đến năm 1827 thì về nghỉ. Ông là tác giả bảy hồi tiếp theo của Hoàng Lê nhất thống chí.

    2. Tác phẩm:

    Văn bản bài học được trích từ Hồi 14  tiểu thuyết chương hồi của Ngô gia văn phái  tái hiện lại những diễn biến quan trọng trong cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung  Nguyễn Huệ. Mặc dù là một tiểu thuyết lịch sử nhưng Hoàng Lê nhất thống chí (biểu hiện cụ thể ở đoạn trích này) không chỉ ghi chép lại các sự việc, sự kiện mà đã tái hiện khá sinh động hình ảnh của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, sự thảm bại của quân xâm lược cùng với số phận bi đát của đám vua tôi nhà Lê phản dân, hại nước.

    3. Thể loại:

    – Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn sách viết theo thể chí (một thể văn vừa có tính chất văn học vừa có tính chất lịch sử), ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê, vào thời điểm anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo nông dân Tây Sơn nổi dậy khởi nghĩa, tiêu diệt nhà Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. ý nghĩa tiêu đề của tác phẩm là như thế nhưng sau khi vua Lê dành lại được quyền thế từ tay chúa Trịnh, rất nhiều biến cố lịch sử đã diễn ra, trong đó có cuộc tấn công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn, dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung (tức Nguyễn Huệ) đánh tan hai mươi vạn quân Thanh xâm lược. Tất cả đã được ghi chép lại một cách khá đầy đủ và khách quan trong tác phẩm.

    4. Tóm tắt:

    Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương rất giận, liền họp các tướng sĩ rồi tế cáo trời đất, lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc, thân hành cầm quân, vừa đi vừa tuyển quân lính. Ngày ba mươi tháng chạp, đến núi Tam Điệp, vua mở tiệc khao quân, hẹn mùng bảy năm mới vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Bằng tài chỉ huy thao lược của Quang Trung, đạo quân của Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc thua chạy tán loạn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chuồn thẳng về biên giới phía Bắc, khiến tên vua bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy tháo thân.

    II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Một nhân tố quan trọng cần phải xem xét trước hết trong văn bản này là tác giả. Khi sáng tạo tác phẩm, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực khách quan mà còn thể hiện những tư tưởng, tình cảm, quan điểm chính trị, xã hội… của mình. Tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô gia văn phái  một nhóm tác giả rất trung thành với nhà Lê. Nếu xét theo quan điểm phong kiến thì trong con mắt của Ngô gia, vua Quang Trung là kẻ nghịch tặc. Thế nhưng trong tác phẩm, hình ảnh Quang Trung  Nguyễn Huệ lại được miêu tả khá sắc nét với tài cầm quân “bách chiến bách thắng”, tính quyết đoán cùng nhiều phẩm chất tốt đẹp khác. Điều đó một phần bởi triều đại nhà Lê khi đó đã quá suy yếu, mục nát, dù có là bề tôi trung thành đến mấy thì các tác giả trong Ngô gia văn phái cũng khó có thể phủ nhận. Mặt khác, có thể chính tài năng và đức độ của vua Quang Trung đã khiến cho các tác giả này thay đổi quan điểm của mình, từ đó đã tái hiện lại các sự kiện, nhân vật,… một cách chân thực.

    Cách ăn nói của vua Quang Trung cũng rất có sức thuyết phục, vừa khéo léo, mềm mỏng vừa rất kiên quyết, hợp tình hợp lí. Khi nói với binh sĩ, ông đã cho họ ngồi (một cử chỉ biểu lộ sự gần gũi mặc dù ông đã xưng vương), từng lời nói đều giản dị, dễ hiểu. Sau khi lấy lịch sử từ các triều đại trước ra để cho binh sĩ thấy nỗi khổ của nhân dân dưới ách thống trị ngoại bang, ông không quên tuyên bố sẽ trừng phạt những kẻ phản bội, ăn ở hai lòng. Điều đó khiến cho binh sĩ thêm đồng lòng, quyết tâm chống giặc.

    Đó cũng là cách ứng xử của ông đối với các tướng lĩnh. Khi quân đến Tam Điệp, hai tướng Sở và Lân mang gươm trên lưng đến xin chịu tội, ông thẳng thắn chỉ ra tội của họ nhưng lại cho mọi người hiểu họ cũng là người đã có công lớn trong việc bảo toàn được lực lượng, chờ đợi thời cơ  điều đó không những khiến cho quân ta tránh được những thương vong vô ích mà còn làm cho giặc trở nên kiêu ngạo, chủ quan, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh chúng sau này.

    Những lời nói, việc làm của vua Quang Trung thật hợp tình, hợp lí và trên hết là hợp với lòng người. Vừa mềm dẻo vừa kiên quyết, xét đúng công, đúng tội, đặt lợi ích của quốc gia và của dân chúng lên trên hết, ông đã khiến cho binh sĩ thêm cảm phục, càng quyết tâm chống giặc. Đó là một yếu tố rất quan trọng tạo nên những chiến thắng liên tiếp của quân Tây Sơn dưới sự thống lĩnh của vua Quang Trung.

    Cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung thực sự chỉ có thể diễn tả bằng từ “thần tốc”. ở phần tiếp theo của đoạn trích, để diễn tả không khí chiến trận rất khẩn trương, quyết liệt, các tác giả đã chú trọng nhiều hơn đến các sự kiện nhưng không vì thế mà làm mờ nhạt hình ảnh tài năng của vị thống lĩnh. Lời hứa chắc chắn trước lúc xuất quân của ông đã được đảm bảo bằng tài thao lược, xử trí hết sức nhạy bén, mưu trí trong những tình huống cụ thể: đảm bảo bí mật hành quân, nghi binh tấn công làng Hà Hồi, dùng ván phủ rơm ướt để tấn công đồn Ngọc Hồi,… Tài dùng binh khôn khéo đó khiến cho quân Thanh hoàn toàn bị bất ngờ, khi chúng biết được tin tức thì đã không thể chống cự lại được nữa, chỉ còn cách dẫm đạp lên nhau mà chạy.

    Phần cuối của đoạn trích chủ yếu diễn tả cuộc tháo chạy hỗn loạn, nhục nhã của đám quan quân nhà Thanh. Ra đi “binh hùng tướng mạnh”, vậy mà chưa đánh được trận nào đã phải tan tác về nước. Rất có thể sau khi bại trận, quân số của Tôn Sĩ Nghị (trước đó là hai mươi vạn) vẫn còn đông hơn quân của vua Quang Trung nhưng trước sức tấn công như vũ bão của quân Tây Sơn, dưới sự chỉ huy của một vị tướng tài ba và quyết đoán, chúng đã không còn hồn vía nào để nghĩ đến chuyện chống trả.

    Trong đoạn này, giọng điệu của các tác giả tỏ ra vô cùng hả hê, vui sướng. Khi miêu tả tài “xuất quỷ nhập thần” của quân Tây Sơn, các tác giả viết: “Thật là: “Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên”…

    Ngược lại, khi viết về Tôn Sĩ Nghị thì: “Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp…”. Đó không còn là giọng của một người ghi chép lại các sự kiện một cách khách quan mà là giọng điệu sảng khoái của nhân dân, của dân tộc sau khi đã khiến cho bọn xâm lược ngoại bang, vốn trước ngạo nghễ là thế, giờ đây phải rút chạy nhục nhã.

    Đoạn nói về vua tôi nhà Lê càng khẳng định thái độ của các tác giả khi viết tác phẩm này. Mặc dù luôn đề cao tư tưởng trung nghĩa nhưng trước sự nhu nhược, hèn hạ của đám vua tôi nhà Lê, các tác giả vẫn thể hiện ít nhiều thái độ mỉa mai, châm biếm. Số phận những kẻ phản dân, hại nước cũng thảm hại chẳng kém gì những kẻ cậy đông, đem quân đi xâm lược nước khác. Đó là số phận chung mà lịch sử giành cho lũ bán nước và lúc cướp nước.

    Cuộc đại phá quân Thanh xâm lược là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Người làm nên kì tích ấy là Quang Trung  Nguyễn Huệ, vị “anh hùng áo vải” vừa có tài thao lược vừa luôn hết lòng vì dân, vì nước.

    Trang sử hào hùng ấy đã được ghi lại bởi Ngô gia văn phái  nhóm tác giả đã vượt qua những tư tưởng phong kiến cố hữu để tái hiện lại lịch sử một cách chân thực.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn Lớp 9 Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Giáo Án Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Tiết 1)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Của Ngô Văn Gia Phái
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Quang Trung
  • Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Các Dạng Đề Tác Phẩm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Top 7 Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Tóm Tắt Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Có Ai Biết Cách Tóm Tắt Văn Bản Hoàng Lê Nhất Thống Chí Không?
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí hồi thứ 14 lớp 9 ngắn gọn ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của tác phẩm. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 1

    Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An nhà vua lấy thêm quân mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kết hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân.

    Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày 7 Tết tới Thăng Long. Giặc trấn thủ ở đó chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mồng 3 Kỉ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục dang thành chữ nhất tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị vùi giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị nghe tin sợ hãi không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàng thân quốc thích rời bỏ kinh thành chạy theo quân Thanh đại bại.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 2

    Được tin báo quân Thanh vào Thăng Long, Bắc Bình Vương (Nguyễn Huệ) liền họp các tướng sĩ tế cáo trời đất lên ngôi hoàng đế, hạ lệnh xuất quân ra Bắc. Ông thân hành vừa đi vừa tuyển lính. Ngày 30 tháng chạp đến Tam Điệp, vua đã mở tiệc khao quân và đến mùng 7 năm mới sẽ vào thành Thăng Long.

    Bằng sự chỉ huy tài tình của Quang Trung, đạo quân Tây Sơn tiến lên như vũ bão, quân giặc chạy toán loạn, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chạy về biên giới phía Bắc. Vua quan bù nhìn Lê Chiêu Thống cũng phải chạy thoát thân.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 3

    Lo sợ trước sự lớn mạnh ko ngừng của nghĩa quân Tây Sơn, Lê Chiêu Thống hèn hạ cầu cứu nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị dẫn 20 vạn quân Thanh vào Thăng Long mà không mất một mũi tên hòn đạn nên rất kiêu căng tự đắc. Tôn Sĩ Nghị hứa với Lê Chiêu Thống mùng 6 sẽ làm cỏ quân Tây Sơn.

    Tướng Lân và Sở theo kế của Ngô Thì Nhậm rút về Tam Điệp, mặt khác sai Văn Tuyết đi báo tin cho Bắc Bình vương ở kinh đô Huế. Nghe tin đó, Nguyễn Huệ vô cùng tức giận và lập tức lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung. Xuất quân ngày 25 thì 29 đến Nghệ An. Tại đây Quang Trung chiêu lính cứ 3 suất đinh thì lấy 1 suất lính chẳng mấy chốc đã được một đội quân tinh nhuệ. Nhà Vua chia quân thành 5 đạo và đọc hịch dụ binh. 30 tháng chạp nghĩa quân hội tại Tam Điệp, trách phạt tướng bại trận nhưng nhà vua không quên động viên, khích lệ lòng quân.

    Tại Tam Điệp, Quang Trung đã nhìn thấu vận nước 10 năm sau và nhìn ra nhân tài Ngô Thì Nhậm giao trọng trách hòa hiếu giữa hai nước cho ông. Vua cho quân ăn tết trước, hẹn mùng 7 ca khúc hải hòan. Rạng sáng mùng 3 tết, đọa quân tiến sát và diệt gọn đồn Hà Hồi, tiếp tục mùng 5 tết tiến đến đồn Ngọc Hồi tiến vào Thăng Long mà quân Thanh vẫn không hề biết, nghĩa quân đại thắng.

    Lại nói về Tôn Sĩ Nghị và vua tôi nhà Lê, chúng đón tết mà không hề hay biết sự vũ bão của quân Tây Sơn. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật ngựa không kịp đóng yên người ko kịp mặc áo giáp chạy về Phương Bắc. Đám tàn quân chạy theo làm gẫy cầu phao nòi rơi xuống tắc nghẽn sông Nhị Hà. Vua Lê sợ hãi đưa thái hậu cùng tùy tùng bỏ chốn cướp cả thuyền của dân, đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị nước mắt lã chã rơi vô cùng thê thảm.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 4

    Nguyễn Huệ nghe tin quân Thanh đến Thăng Long giận lắm liền họp các tướng sĩ định thân chinh cầm quân đi ngay. Tướng sĩ xin Bắc Bình Vương lên ngôi để làm yên lòng người. Nguyễn Huệ cho đắp đàn trên núi tế cáo trời đất lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung.

    Ngày 25 tháng Chạp năm Mậu Thân hạ lệnh xuất quân.

    – Đến Nghệ An, Quang Trung cho tuyển thêm hơn 1 vạn lính mở cuộc duyệt binh. Đến Tam Điệp mở tiệc khao quân, chia quân sĩ làm 5 đạo. Đúng tối 30 tết lập tức lên đường.

    -Trên đường tiến quân ra Bắc, những toán quân Thanh do thám bị bắt sống.

    Ngày 03 tháng giêng năm Kỉ Dậu, đồn Hà Hồi bị hạ. Mờ sáng ngày 05 tiến đánh đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh đại bại. Thái thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Tôn Sĩ Nghị hoảng hốt cuống cuồng chạy mất mật. Quân Thanh tranh nhau qua cầu tháo chạy rơi xuống nước nhiều không kể xiết. Vua tôi Lê Chiêu Thống dìu dắt nhau chạy trốn sang đất Bắc.

    Tóm tắt văn bản hoàng lê nhất thống chí – bài 5

    Khi Quang Trung – Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc lần thứ hai để bắt Vũ Văn Nhậm, sợ thanh thế Tây Sơn, sau khi Nguyễn Huệ đã rút về Phú Xuân, vua Lê Chiêu Thống sợ hãi sang cầu cứu triều đình Mãn Thanh. Giặc Thanh ồ ạt kéo sang, nhân cơ hội này muốn thôn tính nước ta làm quận, huyện. Được tin, vua Quang Trung rất giận, bèn bàn bạc với tướng sĩ, sắp sẵn kế hoạch tiến đánh, mở cuộc duyệt binh, đích thân an ủi và kêu gọi binh sĩ đoàn kết đánh đuổi giặc ngoại xâm.

    Quang Trung mở tiệc khao quân, chia quân thành 5 đạo, thân hành cầm quân ra trận, tối 30 tết lên đường, hẹn ngày mồng 7 tết sẽ mở tiệc ăn mừng thắng lợi ở kinh thành Thăng Long.

    Quân Tây Sơn ra đến sông Gián, quân giặc trấn thủ ở đó tan vỡ, toán quân Thanh đi do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm mồng 3 tết Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tới Hà Hồi, Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín thành. Quân giặc bấy giờ mới biết, rụng rời sợ hãi xin hàng.

    Mờ sáng ngày mồng 5 tết, quân Tây Sơn dàn trận “chữ nhất” tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh chống cự không nổi, bỏ chạy tán loạn, giẫm đạp lên nhau mà chết. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Phía đông thành Thăng Long, vua Quang Trung nghi binh dồn giặc xuống đầm Mực, cho voi giày đạp khiến quân giặc kinh hồn bạt vía, chết như ngả rạ. Giữa trưa hôm ấy, quân Tây Sơn tới thành Thăng Long. Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị đang vui yến tiệc, nghe tin cấp báo, sợ mất mật. Tướng sĩ chen chúc, giẫm đạp lên nhau chạy trốn về nước. Vua Lê Chiêu Thống cũng hốt hoảng chạy trốn sang Trung Quốc. Quân Tây Sơn toàn thắng trước sự đại bại của quân Thanh.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Hồi Thứ 14
  • Văn Bản: Hoàng Lê Nhất Thống Chí
  • Hoàng Lê Nhất Thống Chí Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 9
  • Soạn Bài Hoàng Lê Nhất Thống Chí Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100