Đề Xuất 11/2022 # Tổng Kết Thực Tiễn, Nghiên Cứu Lý Luận Là Yêu Cầu Của Công Cuộc Đổi Mới / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Tổng Kết Thực Tiễn, Nghiên Cứu Lý Luận Là Yêu Cầu Của Công Cuộc Đổi Mới / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tổng Kết Thực Tiễn, Nghiên Cứu Lý Luận Là Yêu Cầu Của Công Cuộc Đổi Mới / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết đánh giá công tác lý luận, xác định phương hướng, nhiệm vụ của công tác lý luận nói chung, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nói riêng, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 18/3/2002 về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X (Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 01/8/2007 về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới); Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030. Đặc biệt, Nghị quyết số 01-NQ/TW, ngày 28/3/1992 của Bộ Chính trị khóa VII về “Công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” đánh dấu một bước chuyển mới cả trong nhận thức về vai trò của công tác lý luận lẫn trong khâu tổ chức nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, phục vụ cho sự phát triển đất nước.

Để góp phần làm rõ, bổ sung và hoàn thiện nền tảng tư tưởng của Đảng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, ngày 08/02/2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Hướng dẫn số 02-HD/TW về “Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận” (sau đây viết tắt là Hướng dẫn số 02-HD/TW). Căn cứ vào Hướng dẫn của Ban Bí thư, Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện trong toàn Đảng bộ. Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận (sau đây viết tắt là tổng kết, nghiên cứu) trong phạm vi toàn Đảng là vấn đề gần đây mới được triển khai. Đây cũng là một nội dung khó, vì phạm vi tổng kết rất rộng, bao gồm sơ kết 5 năm, tổng kết 10 năm thực hiện những nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng đã ban hành để tiếp tục chỉ đạo thực hiện; những mô hình mới, những cách làm hay cần đánh giá, kết luận để nhân rộng; những vấn đề lớn, quan trọng trong Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước khi tổ chức thực hiện gặp khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết; chuẩn bị cho việc ban hành các nghị quyết mới của Đảng, nhất là các văn kiện đại hội đảng các cấp. Để triển khai, thực hiện việc tổng kết, nghiên cứu đạt kết quả, Ban Bí thư gợi ý 04 lĩnh vực cụ thể: Kinh tế; Văn hóa, xã hội; Quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong từng lĩnh vực, có rất nhiều nội dung mà Trung ương đã ra chỉ thị, nghị quyết chỉ đạo thực hiện, nay có thể tổng kết, nghiên cứu để đánh giá kết quả, đúc rút bài học, chỉ ra phương hướng thực hiện trong giai đoạn tới. Chẳng hạn, trong lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bao gồm: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; công tác tổ chức cán bộ (tuyển dụng, đánh giá, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm…); những kinh nghiệm hay, mô hình mới trong sắp xếp, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, cải cách hành chính… Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về tổng kết, nghiên cứu; giao các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các huyện, thành, thị ủy, các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế lựa chọn tổng kết, nghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ; nhất là những mô hình mới, cách làm hay, giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc, đề xuất Ban Chỉ đạo tổng kết, nghiên cứu cấp tỉnh chỉ đạo. (Ngày 25/10/2018)

Như vậy, có thể mô hình hóa các bước triển khai, thực hiện việc tổng kết, nghiên cứu như sau: đối tượng tổng kết, nghiên cứu ở các cấp tiến hành lựa chọn vấn đề tổng kết, nghiên cứu để đề xuất với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tổng hợp, lựa chọn và chỉ đạo, hướng dẫn các cấp tổng kết, nghiên cứu; các cấp triển khai, thực hiện tổng kết, nghiên cứu và báo cáo kết quả về Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tổng hợp, xây dựng báo cáo gửi cấp trên và đúc rút bài học kinh nghiệm, định hướng, chỉ đạo các cấp thực hiện trong giai đoạn tới. Lý luận và thực tiễn phải luôn thống nhất với nhau. Triển khai, thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận là góp phần phát triển lý luận, đưa lý luận lên một tầm cao mới, nhưng cũng đồng thời làm cho lý luận trở về với thực tiễn cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của các tổ chức đảng, giúp cho sự lãnh đạo của Đảng ngày càng thêm hiệu quả. Bài học qua 30 năm đổi mới đất nước (1986 – 2016) đã được Đảng ta chỉ rõ: phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Triển khai thực hiện tốt Hướng dẫn của Ban Bí thư Trung ương về tổng kết, nghiên cứu sẽ giúp các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng bộ tỉnh bổ sung lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, hoàn thành nhiệm vụ công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

                                                                                                                                                                                Lê Văn Tuấn 

UV BTV, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 2, tr. 267 – 268.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác lý luận của Đảng. Người chỉ rõ “Lý luận và thực tiễn phải gắn liền với nhau”. Bác là người xử lý rất thành công trên tầm của một triết gia về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn: lý luận hóa thực tiễn, tức là nâng thực tiễn thành lý luận, rồi thực tiễn hóa lý luận, tức là trả lý luận về thực tiễn để thực hành. Bác dạy: Thực hành sinh ra hiểu biết – Hiểu biết sinh ra lý luận – Lý luận lãnh đạo thực hành. Bác nhấn mạnh: lý luận mà không thực hành là lý luận suông, vô ích còn thực tiễn không có lý luận soi đường là thực tiễn mù quáng. Trong cuốn “Đường cách mệnh”, in lần đầu tiên năm 1927 ở Quảng Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mệnh trước hết phải có gì?” và Người nêu rõ: “Cách mệnh trước hết phải có Đảng cách mệnh… Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt… Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam [1] ”. Như vậy, lãnh đạo trước hết phải có lý luận tiên phong, phải có đột phá về lý luận để dẫn đường cho sự phát triển của xã hội.Để góp phần làm rõ, bổ sung và hoàn thiện nền tảng tư tưởng của Đảng; cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, ngày 08/02/2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Hướng dẫn số 02-HD/TW về “Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận” (sau đây viết tắt là Hướng dẫn số 02-HD/TW). Căn cứ vào Hướng dẫn của Ban Bí thư, Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện trong toàn Đảng bộ.Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận (sau đây viết tắt là tổng kết, nghiên cứu) trong phạm vi toàn Đảng là vấn đề gần đây mới được triển khai. Đây cũng là một nội dung khó, vì phạm vi tổng kết rất rộng, bao gồm sơ kết 5 năm, tổng kết 10 năm thực hiện những nghị quyết, chỉ thị quan trọng của Đảng đã ban hành để tiếp tục chỉ đạo thực hiện; những mô hình mới, những cách làm hay cần đánh giá, kết luận để nhân rộng; những vấn đề lớn, quan trọng trong Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước khi tổ chức thực hiện gặp khó khăn, vướng mắc cần phải giải quyết; chuẩn bị cho việc ban hành các nghị quyết mới của Đảng, nhất là các văn kiện đại hội đảng các cấp.Để triển khai, thực hiện việc tổng kết, nghiên cứu đạt kết quả, Ban Bí thư gợi ý 04 lĩnh vực cụ thể: Kinh tế; Văn hóa, xã hội; Quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong từng lĩnh vực, có rất nhiều nội dung mà Trung ương đã ra chỉ thị, nghị quyết chỉ đạo thực hiện, nay có thể tổng kết, nghiên cứu để đánh giá kết quả, đúc rút bài học, chỉ ra phương hướng thực hiện trong giai đoạn tới. Chẳng hạn, trong lĩnh vực xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, bao gồm: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; công tác tổ chức cán bộ (tuyển dụng, đánh giá, quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm…); những kinh nghiệm hay, mô hình mới trong sắp xếp, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, cải cách hành chính…Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Nguyên tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về tổng kết, nghiên cứu; giao các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các huyện, thành, thị ủy, các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy, các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế lựa chọn tổng kết, nghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ; nhất là những mô hình mới, cách làm hay, giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc, đề xuất Ban Chỉ đạo tổng kết, nghiên cứu cấp tỉnh chỉ đạo.Như vậy, có thể mô hình hóa các bước triển khai, thực hiện việc tổng kết, nghiên cứu như sau: đối tượng tổng kết, nghiên cứu ở các cấp tiến hành lựa chọn vấn đề tổng kết, nghiên cứu để đề xuất với Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tổng hợp, lựa chọn và chỉ đạo, hướng dẫn các cấp tổng kết, nghiên cứu; các cấp triển khai, thực hiện tổng kết, nghiên cứu và báo cáo kết quả về Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; Ban Chỉ đạo cấp tỉnh tổng hợp, xây dựng báo cáo gửi cấp trên và đúc rút bài học kinh nghiệm, định hướng, chỉ đạo các cấp thực hiện trong giai đoạn tới.Lý luận và thực tiễn phải luôn thống nhất với nhau. Triển khai, thực hiện tốt việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận là góp phần phát triển lý luận, đưa lý luận lên một tầm cao mới, nhưng cũng đồng thời làm cho lý luận trở về với thực tiễn cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo của các tổ chức đảng, giúp cho sự lãnh đạo của Đảng ngày càng thêm hiệu quả.Bài học qua 30 năm đổi mới đất nước (1986 – 2016) đã được Đảng ta chỉ rõ: phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Triển khai thực hiện tốt Hướng dẫn của Ban Bí thư Trung ương về tổng kết, nghiên cứu sẽ giúp các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng bộ tỉnh bổ sung lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, hoàn thành nhiệm vụ công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

Án Lệ: Một Số Vấn Đề Lý Luận Và Thực Tiễn / 2023

Đỗ Thanh Trung- ThS Luật học, Giảng viên khoa Luật Hành chính,Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề

Đặc điểm quan trọng của nhà nước pháp quyền là phải có một hệ thống pháp luật và hệ thống tư pháp hoàn thiện. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quy phạm pháp luật mâu thuẫn, lạc hậu hoặc thiếu hụt các quy phạm để giải quyết các tranh chấp trong trong xã hội. Điều này sẽ gây ra khó khăn rất lớn cho hệ thống tư pháp trong việc thực hiện chức năng bảo đảm công lý. Trước thực trạng này, ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Tòa án nhân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ…từng bước thực hiện công khai hóa bản án”. Mặc dù đã có sự chỉ đạo trực tiếp từ Bộ Chính trị, nhưng về mặt khoa học vẫn có nhiều tranh luận xoay quanh vấn đề có nên thừa nhận và sử dụng án lệ ở nước ta hay không và sử dụng án lệ như thế nào? Một số người cho rằng, việc thừa nhận và sử dụng án lệ là một yêu cầu tất yếu. Ngược lại, một số người khác có thái độ e dè, nghi ngờ, thậm chí định kiến với án lệ. Họ đặt ra nhiều câu hỏi khác nhau như: Liệu chỉ có vài thẩm phán tạo ra án lệ có thể mang tính công bằng, khách quan? Thẩm phán có quyền tạo ra luật nên có thể dẫn đến tình trạng tùy tiện của thẩm phán khi thực hiện hoạt động xét xử? v.v.. Vì vậy, thông qua bài viết này chúng tôi mong muốn góp phần bàn về giá trị của nguồn luật án lệ bằng việc phân tích bản chất, ưu điểm và hạn chế của nguồn luật, qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay.

2. Khái niệm án lệ

Trong tiếng Anh, án lệ là “precedent”, thuật ngữ này phát sinh từ hệ thống thông luật (common law) với hệ thống quan điểm lý luận pháp lý khác biệt hẳn với hệ thống dân luật (civil law). Vì vậy, án lệ sẽ không dễ dàng để được tiếp nhận đối với các luật gia, nhà nghiên cứu ở các nước thuộc hệ thống dân luật.

Theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau:

1. Án lệ là việc làm luật của tòa án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; 2. Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này ”.

Từ đó, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của án lệ như sau:

Thứ nhất, án lệ do tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được gọi là luật được hình thành từ vụ việc (“case law”) hay luật do thẩm phán ban hành (“judge make law”). Trong khi đó, nguồn luật văn bản chủ yếu được tạo ra bằng con đường nghị viện ban hành. Những lập luận cho việc lý giải tại sao lại trao

thẩm quyền làm luật cho tòa án hay nghị viện đều có những lý lẽ hợp lý riêng. Các luật gia của hệ thống dân luật cho rằng, pháp luật không nên tạo ra từ các phán quyết của các thẩm phán bởi họ không đủ thời gian để đưa ra các quy định chung mang tính công minh. Các quy phạm pháp luật phải là sản phẩm của tư duy trên cơ sở tổng kết thực tiễn, phù hợp với các điều kinh tế, chính trị, đạo đức chứ không phải là các quyết định nhất thời của các thẩm phán. Pháp luật nên được tạo ra bằng trí tuệ tập thể, cần phải có sự thận trọng và công việc này thích hợp cho nghị viện. Như vậy, vai trò của tòa án ở các quốc gia này chỉ là người áp dụng pháp luật chứ không phải là người sáng tạo pháp luật. Trong khi đó, các luật gia của hệ thống thông luật cho rằng luật được tạo ra bằng con đường nghị viện sẽ không mang tính thức tiễn cao, khó thay đổi, mang tính khái quát cao và trừu tượng.

Ví dụ, vụ Donoghue v Stevenson 1932. Vào năm 1928, cô Donoghue và bạn của cô đến quán cà phê ở Paisley. Bạn của Donoghue đã mua lon nước gừng đục, sau đó chủ quán mở nắp chai và rót vào ly. Sau khi uống Cô Donoghue đã phát hiện trong ly có một cái đinh sét. Sau đó, cô Donoghue đã bị sốc thần kinh và đau dạ dày. Vì vậy, cô ấy đã kiện nhà sản xuất (Stevenson) với lý do đã thiếu trách nhiệm đối với người tiêu dùng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vấn đề pháp lý ở đây là có một hợp đồng pháp lý phát sinh giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng hay không và người tiêu dùng có quyền kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với nhà sản xuất hay không. Theo lý thuyết về hợp đồng truyền thống của thông luật (privity of contract) thì không thừa nhận quan hệ hợp đồng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng vì nhà sản xuất không ký hợp đồng với người tiêu dùng. Tuy nhiên, cuối cùng thượng nghị viện Anh (House of Lords) đã đưa ra phán quyết buộc nhà sản xuất phải bồi thường cho cô Donoghue theo luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tort law). Từ đây đã hình thành nên quy tắc “ratio” về nghĩa vụ của nhà sản xuất (duty of care) đối với người tiêu dùng.

Thứ ba, kỹ thuật xây dựng và vận hành là dựa vào yếu tố tương tự. Xuất phát từ tư tưởng công bằng của nhà triết học Aristote là “Các trường hợp giống nhau phải được xử lý như nhau” (Like cases must be decided alike), các luật gia thông luật sử dụng triệt để cách thức này để xây dựng và áp dụng án lệ. Kỹ thuật tư duy đặc thù của thông luật tạo ra án lệ không phải là diễn dịch cũng không phải là quy nạp mà là suy luận tương tự (“analogical thinking’), có nghĩa là lấy tính giống nhau làm tiêu chuẩn hay là cái tuơng tự. Một quy tắc án lệ gọi là “ratio” được hình thành dựa trên ba yếu tố: (i) Các tình tiết của vụ việc (facts); (ii) Lý lẽ hay lập luận (reason); (iii) Quyết định của tòa án (decision). Khi tòa án giải quyết vụ việc đầu tiên chỉ tạo ra hình mâu hay phác thảo nên một quy tắc chứ chưa phải là một quy tắc hoàn hảo, một quy tắc hay nguyên tắc án lệ được hình thành phải trải qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau. Các thẩm phán sau này khi giải quyết một vụ việc cần phải xác định và đánh giá lý lẽ tương tự, nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước để giải quyết vụ việc hiện tại, nếu không tuơng tự thì không áp dụng.

Ví dụ, vụ Grant v Australia Knitting Mills năm 1936. Nguyên đơn (Grant) đã mua quần áo của công ty Australia Knitting Mills từ người bán lẻ và khi mặc vào đã bị dị ứng da do hóa chất có trong quần áo gây ra. Nên nguyên đơn đã yêu cầu nhà sản xuất phải bồithường và yêu cầu áp dụng quy tắc tiền lệ của vụ việc cô Donoghue. Các thẩm phán của hội đồng xét xử của Ủy ban tư pháp của Vương quốc Anh (Privy Council) đã đưa ra những lý lẽ riêng của mình và tranh luận rất quyết liệt để xác minh vụ việc này giống hay khác với vụ Donoghue v Steveson 1932. Chẳng hạn thẩm phán Greene lập luận dựa vào thuật ngữ control (kiểm soát) để phân biệt vụ việc này với vụ việc Donoghue v Steveson. Sản phẩm mà cô Donoghue sử dụng là lon nước gừng đục, khác hang không thể và không có khả năng phát hiện khiếm khuyết của sản phẩm, điều này dẫn đến trách nhiệm của nhà sản xuất là tất yếu. Trong khi đó, sản phẩm trong vụ Grant v Australia Kntiting Mills là quần áo, khách hang có thể phát hiện những khiếm khuyết của sản phẩm hoặc có những biện pháp an toàn khác khi sử dụng như giawtjtr]ơcs khi mặc vào. Vụ việc Donoghue v Steveson trong quá trình tranh luận, có lẽ có thể đã đưa ra qyt tắc lien quan đến trách nhiệm của nhà sản xuất(‘liability of manufacturers’) có thể bị nghi ngờ là đi quá xa hay là tính khá quát của quy tắc này quá cao.2

3. Một số giá trị cơ bản của nguồn luật án lệ

So sánh với nguồn văn bản pháp luật, theo chúng tôi, có thể chỉ ra một số ưu điểm của án lệ như sau:

Thứ nhất, án lệ mang tính thực tiễn cao. Nghĩa là dựa vào thực tiễn, tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống thực tế chứ không phải giải quyết vấn đề bằng các lý thuyết chung chung trừu tượng. Tính thực tiễn của án lệ biểu hiện như sau: (i) Các lý lẽ tạo ra án lệ mang tính nhân tạo chứ không phải mang tính tự nhiên ; (ii) Các luật gia thông luật cố gắng giải thích tinh thần của pháp luật hơn là hình thức từ ngữ của pháp luật.

(i) Quan niệm về lý lẽ hay các quy tắc án lệ trong thông luật mang tính chất nhân tạo chứ không phải là các lý lẽ mang tính tự nhiên. Nghĩa là các lý lẽ hay các quy tắc án lệ không phải sẵn có mà con người phải nghiên cứu, quan sát lâu dài thông qua quá trình tích lũy kinh nghiệm trong thực tế đời sống. Ở khía cạnh này, quan điểm của các luật gia thông luật rất gần với các nhà thực chứng. Về mặt triết lý, lịch sử hệ thống thông luật được hình thành từ hai yếu tố là tập quán (custom) và lý lẽ (reason). Nguồn gốc án lệ ở Anh được hình thành từ các tập quán, ban đầu là các tập quán địa phương và sau đó được các thẩm phán chọn lọc, bổ sung thành pháp luật chung cho toàn vương quốc Anh. Vì vậy, luật pháp thông luật vừa gần với thực tế đời sống, vừa mang tính khách quan. Các thẩm phán thông luật luôn đi tìm những giải pháp để giải quyết những vấn đề cụ thể hơn là đưa ra những lý lẽ theo kiểu lý thuyết suông từ góc nhìn của đạo đức. Vì vậy, thẩm phán là người làm công việc thực tế chứ không phải là các triết gia hay là các nhà lý luận. Điều này cũng thể hiện trong cách thức tuyển chọn thẩm phán ở hai truyền thống pháp luật thông luật và dân luật rất khác nhau. Tiến sĩ Rupert Cross3 chỉ ra sự khác biệt trong việc tuyển chọn thẩm phán ở Anh và Pháp: Thẩm phán ở Anh được lựa chọn từ các luật sư (barrister), đây không là điều kiện bắt buộc khi tuyển chọn thẩm phán ở Pháp; do vậy, các thẩm phán ở Pháp thường trẻ và thiếu kinh nghiệm hơn những đồng nghiệp ở Anh.

(ii) Các quy tắc án lệ của pháp luật thông luật được gọi là các quy tắc không thành văn. Các luật gia của hệ thống thông luật cho rằng, luật do nghị viện làm ra mang tính gián tiếp và cứng nhắc. Khi giải quyết vụ việc thẩm phán cần phải nắm tinh thần của các quy phạm và phải đi tìm kiếm ý định của nhà lập pháp. Vì vậy, thuật ngữ quy phạm pháp luật (legal rule) xa lạ với các luật gia của thông luật, vì họ cho rằng các quy phạm pháp luật được diễn đạt bằng câu chữ càng rõ ràng, chặt chẽ sẽ càng làm cho nó cứng nhắc, khô khan. Pháp luật là công cụ giải quyết của vấn đề của thực tế chứ không thuần túy là vấn đề của sự tranh luận về mặt lý luận hay đạo đức. Vì vậy, nếu thu nhỏ hệ thống luật pháp bằng các quy tắc, tập quán nào đó rồi đưa vào trong các bộ luật hay các văn bản quy phạm pháp luật thìvô hình chung sẽ làm cho pháp luật “chết” chứ không “sống”. Các luật gia thông luật cho rằng, luật pháp không thể hoàn hảo để giải quyết cho mọi truờng hợp trong tuơng lai. Vì vậy, các quy tắc được tạo ra tồn tại trong các bản án trong quá khứ chỉ là những khuôn mâu, mô hình tiền lệ. Các thẩm phán hiện tại phải tìm kiếm giải pháp hợp lý nhất cho vụ việc mình xử lý trên cơ sở cái tiền lệ đã có. Cho nên các quy tắc (ratio) trong pháp luật thông luật được coi là “implicit rulẻ’, nghĩa là các quy tắc ngầm định. Bacon đã viết: “not make the law from the rules, but to make the rules from the existing law that is, the body of argued opinions and decisions’ – tạm dịch: “không làm ra luật từ những quy tắc, mà đưa ra những quy tắc từ luật có sẵn, là toàn bộ những quan điểm và quyết định đã được tranh luận”4. Điều này lý giải tại sao nguồn luật án lệ được gọi là luật không thành văn. Qua đó cho thấy, các luật gia của thông luật không đi tìm hình thức tồn tại bằng từ ngữ cho các quy tắc xử sự mà dường như đi tìm nội dung, tinh thần của luật trong các phán quyết tu pháp truớc đó. Đồng thời nguồn luật án lệ cũng thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt hơn so với nguồn luật văn bản pháp luật

Thứ hai, án lệ có khả năng khắc phục những lỗ hổng pháp luật một cách nhanh chóng và kịp thời. Đời sống xã hội luôn vận động, phát triển còn các quy phạm trong các văn bản pháp luật mang tính ổn định, dân đến hệ quả là luật pháp có thể lạc hậu hay có thể thiếu hụt để giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Để khắc phục tình trạng này, các luật gia dân luật tìm đến những nguồn bổ trợ khác như áp dụng tập quán hoặc sử dụng án lệ. Các án lệ ở các nước dân luật được hình thành chủ yếu thông qua con đường giải thích pháp luật của tòa án tối cao. Khi giải thích pháp luật trong những trường hợp chưa có quy phạm thành văn điều chỉnh, các thẩm phán dựa vào các nguyên tắc nhất định. Ví dụ như, các thẩm phán Pháp dựa vào công lý và lý trí, các thẩm phán Đức thì sử dụng cách thức vô hiệu các quy định cụ thể bằng nguyên tắc chung, các thẩm phán ở các nước Bắc Âu sử dụng quy tắc: “Luật có hại không phải là luật5. Mặc dù, ở mỗi quốc gia có các cách thức khác nhau để khắc phục lỗ hổng pháp luật nhưng suy cho cùng cũng phản ánh vai trò làm luật của tòa án. Trong những truờng hợp này, các bên tranh chấp hay thẩm phán không thể chờ nghị viện bổ sung hay sửa đổi pháp luật. Tương tự vậy, ở các nước thông luật các quy tắc án lệ không thể đầy đủ hoặc hợp lý để giải quyết tất cả các tranh chấp trong xã hội. Các thẩm phán cũng phải tìm kiếm các lý lẽ hợp lý để sửa đổi, bổ sung các quy tắc án lệ hiện có. Tuy nhiên, khi các thẩm phán thực hiện công việc này sẽ nhanh chóng và kịp thời hơn so với nghị viện vì phải trải qua một quy trình và thủ tục lập pháp rất phức tạp.

Trong lĩnh vực pháp luật dân sự của Việt Nam, để khắc phục sự thiếu hụt của văn bản pháp luật thành văn, nhà làm luật cũng đưa ra những cách thức nhất định như áp dụng tập quán hoặc áp dụng tương tự quy định pháp luật6. Cả hai cách thức này đều có thể dân đến hình thành án lệ. Tuy nhiên, để có thể giải quyết vụ việc bằng những cách thức này đòi hỏi thẩm phán phải là người có nhiều kinh nghiệm và có kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực khoa học pháp lý.

Thứ ba, án lệ thể hiện tính khách quan và công bằng. Một số người cho rằng, án lệ được tạo ra bởi một vài thẩm phán trong hội đồng xét xử khi xử lý một vụ việc cụ thể nên có thể dân đến tình trạng chủ quan, tùy tiện trong việc tạo ra các quy tắc án lệ. Thật ra, nhận định này mới chỉ nhìn bề ngoài về nguồn luật án lệ và hiểu không đúng về bản chất, tinh thần của học thuyết án lệ (doctrine of stare decisis). Trước hết, một quy tắc án lệ không phải hình thành từ một bản án cụ thể, mà nó phải được hình thành qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau, bản án đầu tiên chỉ là hình mâu phác thảo lên một quy tắc án lệ. Vì vậy, một quy tắc án lệ trong pháp luật thông luật không có tác giả, không có bản quyền cho bất kỳ thẩm phán nào. Hai là, quy tắc án lệ trong pháp luật thông luật là kết quả của quá trình đưa ra những lý lẽ và tranh luận lâu dài. Sự tranh luận được thể hiện thông qua sự tranh luận giữa bên nguyên và bên bị trong vụ việc, giữa các thẩm phán trong hội đồng xét xử, giữa các thẩm phán sau với các thẩm phán trước đó khi họ vận dụng lý lẽ của các phán quyết trước đó. Ba là, quy tắc án lệ phải được thừa nhận là giá trị chung (common value) hay là lý lẽ chung (common reason). Khi có các trường hợp mới phát sinh nhưng chưa có giải pháp cho các trường hợp này hoặc nếu lấy các quy tắc đang tồn tại áp dụng các trường hợp này sẽ không đem lại một kết quả công bằng như mong đợi.

Vì vậy, các thẩm phán phải đi tìm giải pháp pháp lý mới, nhưng liệu rằng các thẩm phán có thể tự định ra những tiêu chuẩn, những giá trị riêng mà các bên tranh chấp phải phục tùng và cả xã hội phải thừa nhận? Nếu vậy thì thẩm quyền làm luật của tòa án sẽ không có một giới hạn nào cả. Thực chất, thẩm quyền làm luật của tòa án bị ràng buộc bởi các quy phạm pháp luật thành văn và các quy tắc án lệ được tạo ra trước đó. Mặt khác, phán quyết của tòa án phải phù hợp với các giá trị hiện hành của xã hội. Quyết định của tòa án trong những trường hợp này không chỉ bản thân các thẩm phán cảm thấy rằng nó là hợp lẽ công bằng mà các bên tranh chấp trong vụ việc và cả xã hội cũng phải thừa nhận tính hợp lý của nó.

4. Những hạn chế cơ bản của nguồn luật án lệ

Mặc dù, nguồn luật án lệ có những ưu điểm đáng kể như đã phân tích ở trên, nhưng học thuyết án lệ bị phê phán bởi các luật gia dân luật. Những phê phán tập trung vào một số điểm sau:

Thứ nhất, dựa vào tư tưởng phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước1. Theo đó, quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh và giao cho ba cơ quan khác nhau nắm giữ, cụ thể: lập pháp giao cho nghị viện, hành pháp giao cho chính phủ và tư pháp giao cho tòa án. Như vậy, nếu trao thẩm quyền làm luật cho tòa án sẽ vi phạm nguyên tắc này, tòa án sẽ lấn sân chức năng làm luật của nghị viện. Một trong những nghịch lý khá thú vị là nghị viện (cơ quan lập pháp) có nguồn gốc từ nước Anh, nhưng cũng chính ở quốc gia này người ta lại trung thành với án lệ và đề cao vai trò làm luật của tòa án. Dĩ nhiên, các luật gia thông luật không phủ nhận chức năng ban hành luật của nghị viện, nhưng việc làm luật của nghị viện có những hạn chế như trên đã phân tích. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng họ chỉ khẳng định sự cần thiết về vai trò làm luật của tòa án mà không phủ nhận chức năng lập pháp của nghị viện. Mặt khác, họ cũng lập luận rằng chính tòa án cũng tham gia vào việc tạo ra hiến pháp không thành văn của nước Anh.

Thứ hai, nếu sử dụng nguồn luật án lệ sẽ dẫn đến tình trạng hồi tố8. Một trong yêu cầu quan trọng của pháp quyền (rule of law) là không được hồi tố khi áp dụng pháp luật. Chẳng hạn, trong vụ việc Donoghue v Stevenson nhà sản xuất không hề có quan hệ hợp đồng mua bán trực tiếp với người tiêu dùng. Vì vậy, căn cứ vào các án lệ trước đó cô Donoghue không thể kiện nhà sản xuất và nhà sản xuất cũng không phải chịu trách nhiệm đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, kết quả vụ việc này phần thắng thuộc về cô Donoghue, thẩm phán Atkin của Thượng nghị viện (House of Lords) kết luận: “tôi nghĩ rằng kháng cáo này nên được chấp nhận”. Còn thẩm phán Thankkerton cho rằng: “sự tranh luận của người kháng cáo là hợp lý và lời thỉnh cầu là thích đáng”.9 Như vậy, một quy tắc mới được hình thành là “Nếu nhà sản xuất (manufacturer) vì cẩu thả gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Rõ ràng quy tắc này có kết quả hồi tố về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với nhà sản xuất. Điều này rất khó khăn đối với nhà sản xuất, bởi họ không biết luật quy định như thế nào để có hành vi ứng xử cho phù hợp khi mà hành vi lại có trước luật pháp.

Mặc dù vậy, các luật gia thông luật cũng đưa ra những lập luận khá sắc bén để bào chữa cho điểm hạn chế này của nguồn luật án lệ. Trước hết, luật pháp phải mang tính thực tiễn nghĩa là quy tắc pháp luật là nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của cuộc sống đặt ra chứ không mang tính trừu tượng, lý thuyết do con người tưởng tượng, nên sự phát triển của thông luật bắt nguồn từ các vụ việc cụ thể. Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu giải quyết các vụ việc cụ thể, con người cần phải tìm ra những giải pháp hay lý lẽ từ đời sống nhằm bảo đảm công bằng, công lý và không ai có thể thoát khỏi công lý. Ở đây, phạm trù công lý được hiểu rất gần với quan điểm của thuyết pháp luật tự nhiên sau thế kỷ 19. Thứ ba, các quy tắc án lệ không phải là hằng số mà nó cần phải thay đổi và phát triển theo yêu cầu của cuộc sống. Truớc năm 1932, về mặt pháp lý, các luật gia thông luật không cho rằng có mối quan hệ trách nhiệm của nhà sản xuất với người tiêu dùng, nhưng từ năm 1932 sau kết quả giải quyết vụ Donoghue v Stevenson đã hình thành nên quy tắc mới về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất với người tiêu dùng nếu họ bất cẩn và gây thiệt hai cho người tiêu dùng. Điều này cho thấy sự phát triển của pháp luật trong lĩnh vực “tort law” – luật bồi thường thiệt hại.

Thứ ba, án lệ không mang tính thống nhất và hệ thống cao như nguồn văn bản. Điều này đúng, vì các quy tắc án lệ là các quy tắc ngầm định (implicit rule) tồn tại trong các bản án dân đến việc nhận thức và xác định mức độ khái quát, phạm vi áp dụng của một quy tắc rất khó khăn, phức tạp và thường gây ra nhiều tranh cãi. Bởi vì khi giải quyết một vụ việc nhất định, các thẩm phán không nhằm mục đích tạo ra một quy tắc cho các vụ việc về sau. Sự khó khăn trong việc nhận thức các quy tắc án lệ thể hiện qua các lý do sau 10: (i) Có thể khó thống nhất về một quy tắc án lệ trong nhận thức pháp lý quá nghiêm khắc; (ii) Có thể xác định ở mức độ khái quát của một quy tắc án lệ cao hoặc thấp hơn bởi vụ việc đầu tiên tạo ra một quy tắc án lệ chỉ là hình mâu ban đầu, một quy tắc án lệ được hình thành phải trải qua hàng loạt các vụ việc tuơng tự về sau. Ví dụ, trong vụ Donoghue v Stevenson chỉ hình thành nên một quy tắc có tính chất khái quát là: “Nếu nhà sản xuất có lỗi bất cẩn gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Nhưng sản phẩm của nhà sản xuất là sản phẩm nào? Chỉ có thể là lon nước gừng đục hay toàn bộ đồ uống đóng hộp hay bao gồm tất cả các sản phẩm là thực thẩm hoặc tất cả các sản phẩm? Điều này, cần phải có sự tranh luận của các thẩm phán khi giải quyết các vụ việc về sau khi xác định vụ việc của mình có tương tự hay không với vụ Donoghue v Stevenson. Chính quá trình này đã tạo ra ranh giới và hình thành nên một quy tắc án lệ trong pháp luật thông luật; (iii) Trong một số truờng hợp có thể khó phân biệt được giữa phần nào là quy tắc, lý lẽ bắt buộc (ratio) và phần nào là lý lẽ tham khảo (the obiter dicta).

5. Án lệ trong hệ thống thông luật và dân luật

Ở các quốc gia thông luật, án lệ được xem là nguồn luật chủ yếu, nhiều lĩnh vực pháp luật không pháp điển thành các bộ luật, đặc biệt ở Anh nguồn luật án lệ được áp dụng triệt để nhất. Tuy nhiên, mức độ sử dụng cũng như vai trò của án lệ trong thệ thống pháp luật ở từng quốc gia là khác nhau. Ví dụ, Hoa Kỳ mặc dù là một quốc gia thuộc hệ thống thông luật và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ pháp luật Anh nhưng nhiều lĩnh vực pháp luật của họ được pháp điển thành các bộ luật, sự hiện diện của Bộ luật thương mại thống nhất (Uniform commercial code) là một ví dụ điển hình. Ở các nước thông luật, các thẩm phán vừa sáng tạo ra các quy tắc án lệ vừa chịu sự ràng buộc từ các quy tắc án lệ đã có. Các quy tắc án lệ được tạo ra không chỉ bởi tòa tối cao mà còn bởi tất cả các tòa án khác có thẩm quyền phúc thẩm đối với các bản án của các tòa án cấp dưới. Ví dụ, ở Anh hệ thống tòa án có thể chia thành hai nhóm11: (i) Nhóm thứ nhất các tòa không tạo ra án lệ gồm: Magistrates’ courts (Tòa Hình sự địa phương), County courts (Tòa Dân sự địa phương), Crown court (Tòa Hoàng gia); (ii) Nhóm thứ hai các tòa tạo ra án lệ gồm: High courts (Tòa Cấp cao), Court of Appeal (Tòa Phúc thẩm), Supreme Court (Tòa Tối cao).

Ngày nay, mặc dù hầu hết các quốc gia thuộc hệ thống dân luật đề cao vai trò nguồn luật văn bản, các quốc gia này cũng đồng thời rất chú trọng việc sử dụng án lệ như là nguồn bổ trợ cho nguồn văn bản pháp luật bằng hình thức tuyển tập xét xử của tòa tối cao. Ở các nước này, tòa án tối cao có hai nhiệm vụ chính: (i) Sửa sai cho các tòa cấp dưới bằng hình thức hủy các bản án sai; và (ii) Giải thích pháp luật nhằm khắc phục sự thiếu hụt, lạc hậu, không rõ ràng của các quy phạm pháp luật thành văn. Nhiệm vụ thứ hai của tòa tối cao được xem như là hoạt động sáng tạo pháp luật và án lệ được tạo ra bằng con đường này. Việc giải thích pháp luật của tòa án tối cao sẽ tạo ra tiền lệ, khi các tòa cấp dưới gặp phải các vụ việc tương tự thì họ sẽ sử dụng cách giải thích của tòa tối cao mặc dù đây không phải là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ. Các thẩm phán có quyền giải thích theo cách riêng của mình nhưng nếu không đủ thuyết phục tòa tối cao thì bản án của họ có nguy cơ bị hủy. Vì vậy, thông thường các thẩm phán sẽ giải thích theo cách giải thích của tòa tối cao trong trường hợp tương tự. Để phục vụ cho việc áp dụng pháp luật thống nhất trong cả nước, tòa tối cao ở các nước này cho phát hành các tập án lệ, điều này tạo điều kiện cho các thẩm phán có thể nắm bắt được quan điểm pháp lý của tòa tối cao trong những trường hợp luật thành văn không quy định hoặc quy định chưa rõ ràng.

6. Kinh nghiệm cho Việt Nam

Ở nước ta, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) – cơ quan có thẩm quyền xét xử cao nhất lại tập trung thực hiện chức năng sửa sai cho các tòa dưới là chủ yếu, trong khi hoạt động giải thích pháp luật tạo ra án lệ tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật thống nhất vẫn chưa chú trọng đúng mức. Tuy nhiên, theo xu hướng chung tòa tối cao ở các nước thuộc hệ thống dân luật như Pháp, Đức… tập trung vào thực hiện nhiệm vụ thứ hai nhiều hơn. Việc sử dụng nguồn luật án lệ đã trở thành một yêu cầu tất yếu đối với mọi hệ thống tòa án ở các nước trên thế giới. Theo chúng tôi, để tiến tới sử dụng án lệ ở Việt Nam thì cần thực hiện một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, cần nâng cao chất lượng quan điểm pháp lý của các thẩm phán. Theo chúng tôi, để có thể bảo đảm được chất lượng và uy tín của quan điểm pháp lý của các thẩm phán cần phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản sau:

(i) Nâng cao trình độ của thẩm phán. Việc xây dựng và sử dụng án lệ luôn đặt vai trò của thẩm phán lên hàng đầu vì họ là người trực tiếp xây dựng và sử dụng án lệ. Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay số lượng các thẩm phán chưa nhiều, trình độ chuyên môn còn hạn chế. Đây là thực tế mà không ít lần những người đứng đầu ngành tư pháp đã phát biểu công khai và thừa nhận. Vì vậy, đây sẽ là một trở ngại vô cùng lớn cho việc chấp nhận sử dụng án lệ. Vì vậy, cần bồi dưỡng nâng cao trình độ nói chung và chuyên sâu về án lệ cho thẩm phán.

(ii)Cần phải bảo đảm yếu tố tranh luận và sự đa dạng về lý lẽ khi đưa ra lập luận pháp lý của các thẩm phán. Một trong những phương tiện quan trọng để đảm bảo tính hợp lý cho lý lẽ của các thẩm phán khi đưa ra phán quyết là yếu tố tranh luận và độc lập đưa ra lý lẽ của mỗi thẩm phán. Tất cả các lập luận, quan điểm pháp lý của các thẩm phán trong hội đồng xét xử đều được ghi lại trong bản án. Cần tránh tình trạng các thẩm phán trong hội đồng xét xử đưa ra lý lẽ thì ít mà tính thống nhất lại cao. Nếu không bảo đảm yêu cầu này có thể dẫn đến tình trạng các phán quyết của tòa án mang tính chủ quan, cảm tính hoặc một chiều.

1.Bryan A. Garner(1999), Blacks Law Dictionary, West Group; “Precedent: 1) The making of law by a court in recognizing and apply new rules while admin- istering justice; 2) A decided case thatfurnishes a basic for determining later cases involving similar facts or issues

2.WJ.Moririson, A.Grearey, K. Malleson, Common law reasoning and Institution, the University of Lon- don Press, 2000, tr. 151,152.

3.Rupert Cross, Precedent in English Law, Oxford University Press, 1977, tr.14

4.Gerald J. Postema, “Philosogy of the common law”, The Oxford Handbook of Jurisprudence and Philosogy of Law, Oxford, 2004

5.Rene David, người dịch: Những hệ thống pháp luật chính trong Thế giới đương đại, Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyễn Đức Lam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Tr. 103

6.Điều 3 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán, nếu không có tập quán thì áp dụng quy định tương tự của pháp luật . Tập quán và quy định tương tự của pháp luật không được trái với nguyên tắc của Bộ luật này”

7.Học thuyết phận quyền được hoàn thiện bởi nhà tư tưởng người Pháp Monstequieu (1689-1775), nhưng được áp dụng triệt để trong tổ chức bộ máy nhà nước Mỹ theo hiến pháp1787

8.Hồi tố là một nguyên tắc ngoại lệ về hiệu lực theo thời gian của văn bản pháp luật, áp dụng văn bản đối với các hành vi xảy ra trước khi văn bản phát sinh hiệu lực

9.Alastair MacAdam, John Pyke, Judicial Reasoning and The doctrine of Precedent in Australia, Buterworths, 1998

10.Catriona Cook, Robin Creyke, David Hamer, Laying down the Law, LexisNexis, Buterworths, 2005, Tr. 78.

11.Đỗ Thị Mai Hanh, Doctor of philosogy Thesis: Avaluation of the Applicability of common law Approaches to precedent in Vietnam, 2001, tr 177- 184

Hội Thảo Tổng Kết Thực Tiễn Thi Hành Luật Phá Sản Năm 2014 / 2023

Ngày 4/12/2020, TANDTC tổ chức Hội thảo khoa học về “Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm 2014”. Phó Chánh án TANDTC Nguyễn Văn Tiến chủ trì Hội thảo.

Tham dự Hội thảo có ông Kim Tae Joon, Giám đốc dự án KOICA – Hàn Quốc về tăng cường năng lực Tòa án Việt Nam; ông Tống Anh Hào, bà Lương Ngọc Trâm – Thẩm phán TANDTC; bà Nguyễn Thị Hoàng Anh – Nguyên Thẩm phán TANDTC và đại diện Vụ Tư pháp, Vụ Kinh tế – Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế TW, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; đại diện lãnh đạo, Thẩm phán tham gia giải quyết vụ việc phá sản của một số TANDCC, TAND cấp tỉnh, các đơn vị của TANDTC; Quản tài viên, Luật sư, chuyên gia về Luật phá sản.

Báo cáo đề dẫn do TS Trần Văn Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC cho biết: Luật Phá sản 2014 được Quốc hội khóa 13 kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19-6-2014, có hiệu lực từ ngày 01- 01-2015, thay thế Luật phá sản năm 2004. Luật Phá sản 2014 đã thể hiện bước cải cách lớn, khắc phục những hạn chế, vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Phá sản 2004; tạo môi trường pháp lý bình đẳng, lành mạnh, hỗ trợ mọi loại hình doanh nghiệp cạnh tranh tồn tại trong sự tiến bộ, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế.

Tuy nhiên, thực tiễn 05 năm triển khai thi hành Luật này cũng đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng phát sinh nhiều vướng mắc, cần nghiên cứu giải quyết, đề xuất việc hướng dẫn áp dụng thống nhất, các giải pháp khác nhằm giảm thời gian, chi phí phá sản doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả và tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã phục hồi hoạt động kinh doanh, bảo vệ tốt hơn quyền của chủ nợ… đồng thời, đánh giá tính cần thiết của việc sửa đổi, bổ sung Luật này trong giai đoạn hiện nay.

Về tình hình giải quyết vụ việc phá sản tại Tòa án

Tại Việt Nam, hơn 20 năm dưới sự điều chỉnh của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và Luật Phá sản 2004, số lượng vụ việc phá sản do Tòa án giải quyết là tương đối thấp, thể hiện tình trạng số lượng doanh nghiệp tự rút lui khỏi nền kinh tể thông qua các quy định của pháp luật phá sản là một con số rất nhỏ. Khắc phục hạn chế này, Luật Phá sản 2014 đã có nhiều cải cách đáng kể, khắc phục được nhiều vướng mắc, bất cập của Luật Phá sản 2004, đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc phá sản, nhiều vụ việc phá sản trước đây do vướng mắc quy định pháp luật đã được đưa ra giải quyết, số lượng vụ việc phá sản được thụ lý mới và ra quyết định tuyên bố phá sản tăng hàng năm.

Theo kết quả tổng hợp báo cáo của các Tòa án nhân dân thì, từ khi Luật Phá sản 2014 có hiệu lực thi hành đến ngày 31/3/2020, bên cạnh việc tiếp tục giải quyết 229 vụ việc đã thụ lý từ những năm trước, Tòa án nhân dân các cấp thụ lý mới 587 vụ việc. Trong đó, Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 287 vụ việc, ra quyết định không mở thủ tục phá sản 97 vụ việc, ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản 139 vụ việc, ra quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 67 vụ việc, áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh 6 vụ việc). Như vậy, so với 9 năm thi hành Luật Phá sản 2004 (từ 2004-2013: Tòa án các cấp chỉ thụ lý 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, ra 236 Quyết định mở thủ tục phá sản, trong đó ra 83 Quyết định tuyên bố phá sản).

Về số lượng Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Thực hiện Nghị định số 22/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, việc cấp Chứng chỉ hành nghề cho các Quản tài viên và đăng ký hoạt động cho doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã được thực hiện nhanh chóng, thuận lợi, tạo điều kiện cho việc hình thành đội ngũ Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong thời gian ngắn. Theo số liệu thông kê của Bộ Tư pháp, tính đến tháng 4/2020, cả nước có 270 Quản tài viên hành nghề với tư cách cá nhân; hơn 40 doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đang hoạt động. Danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã được Bộ Tư pháp đăng tải trên Công thông tin của Bộ Tư pháp. Các Quản tài viên, doanh nghiẹp quan lý, thanh lý tài sản đã được cơ quan Tòa án chỉ định trong các vụ việc phá sản doanh nghiệp mà Tòa án đã thụ lý giải quyết. Đến nay, tổ chức và hoạt động của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã và đang bước đầu đi vào hoạt động, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình đa được Luật phá sản quy định, góp phần trong việc các vụ việc phá sản theo đúng quy định của pháp luật.

Một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Luật Phá sản 2014

Về khái niệm doanh nghiệp, họp tác xã mất khả năng thanh toán

Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 quy định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán. Thực tế, việc doanh nghiệp có khoản nợ quá hạn 03 tháng là rất phổ biến, việc không thanh toán các khoản nợ quá hạn này có nhiều nguyên nhân, trong đó có trường hợp xuất phát từ tình trạng khó khăn, mắt cân đối tài chính tạm thời cùa doanh nghiệp mắc nợ, nhưng cùng có trường hợp do các bên có tranh chấp về chính khoản nợ đó. hoặc do doanh nghiệp cố tình không chịu thanh toán nợ nhằm mục đích chiếm dụng vốn của chù nợ. Lẽ ra các khoản nợ quá hạn này cần được giải quyết bằng con đường tố tụng dân sự nhưng chủ nợ lại yêu cầu mở thủ tục phá sản đề gây sức ép trả nợ đối với doanh nghiệp bị yêu cầu. Điều này làm ãnh hưởng rất lớn đến uy tín và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí lại là nguyên nhân chính dẫn đến làm ăn thua lỗ sau đó và phải phá sản “thật”. Do vậy, mặc dù có quy định rõ ràng nhưng vần có sự không thống nhất quan điểm áp dụng pháp luật khi đánh giá, xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Để khắc phục thực trạng nêu trên, có ý kiến đề nghị sửa Điều 4 Luật Phá sản 2014 theo hướng tăng thời hạn không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 6 tháng hoặc 01 năm, tức là chỉ được yêu câu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời gian 6 tháng hoặc 01 năm kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Về quyền nộp đơn yêu cầu (Điều 5)

Một là, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Phá sản 2014 thì chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thù tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Trường hợp chủ nợ không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đổi với doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán khoản nợ đến hạn mà khởi kiện tại Tòa án yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã trả nợ và được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; sau đó, chủ nợ có đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án hoặc bản án, quyết định đang được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán nợ không?

Hai là, doanh nghiệp sử dụng các tài sản có giá trị của doanh nghiệp (như nhà xưởng, máy móc, dây chuyền sản xuất, giá trị quyền sử dụng đất…) thế chấp cho Ngân hàng để vay vốn. Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, Ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ bằng hình thức mua lại toàn bộ tài sản thế chấp, như vậy các khoản nợ lương, nợ bảo hiểm, các khoản nợ khác không có bảo đảm sẽ không được thanh toán. Có ý kiến đề nghị khi xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp dẫn đến ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cùa doanh nghiệp hoặc đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp thì chủ nợ phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp…

Tham luận cũng nên ra nhiều vướng mắc khác, cũng như nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục.

Nhiều tham luận rất thiết thực

Ths Hoàng Ngọc Thành – Chánh tòa Kinh tế TAND Tp Hà Nội trình bày tham luận về thực tiễn thi hành Luật Phá sản tại Tòa án hai cấp của Tp Hà Nội và một số kiến nghị sửa đổi Luật Phá sản.

Ths Nguyễn Thị Thùy Dung- Chánh tòa Kinh tế TAND Tp HCM trình bày tham luận về Thực tiễn thi hành Luật Phá sản tại Tòa án nhân dân Tp Hà Nội và một số kiến nghị.

TS Nguyễn Văn Cường, Chánh tòa Hành chính TANDCC tại Hà Nội trình bày tham luận về Đánh giá một số quy định của Luật Phá sản năm 2014 qua thực tiễn giải quyết phá sản của TANDCC.

Thẩm phán Nguyễn Tiến Mạnh, Phó Vụ trưởng Vụ Giám đốc Kiểm tra 2 TANDTC trình bày tham luận về Một số vấn đề về thi hành Luật Phá sản năm 2014 và đề xuất; Ông Lê Văn Tuấn, Trưởng phòng Quản lý bán đấu giá tài sản và Trọng tài hòa giải thương mại Bộ Tư pháp có tham luận về Thuận lợi, khó khăn trong hoạt động của Quản tài viên và quản lý nhà nước; kiến nghị sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 về chế định Quản tài viên.

Bà Nguyễn Thị Trang, Chuyên viên chính Tổng cục Thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp trình bày tham luận Những khó khăn vướng mắc trong việc thi hành Luật Phá sản năm 2014 và một số kiến nghị sửa đổi; Thẩm phán Lê Thu Hương – Chánh tòa Kinh tế TAND tỉnh Thanh Hóa trình bày về Thẩm quyền của Tòa án, nhiệm vụ của Thẩm phán theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, thực tiễn thi hành và một số kiến nghị sửa đổi; Ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI trình bày tham luận Luật Phá sản năm 2014 tiến bộ nhưng còn vướng; Ths Lê Tuấn Hải, Quản tài viên Công ty hợp danh Quản lý và thanh lý tài sản Thăng Long có tham luận Thuận lợi và khó khăn của Quản tài viên, kiến nghị sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 về chế định Quản tài viên; TS Nguyễn Chí Công, NCS Phan Thị Thu Hà – Vụ Pháp chế và quản lý khoa học TANDTC có tham luận Đẩy nhanh việc giải quyết phá sản doanh nghiệp theo thủ tục rút gọn, yêu cầu và giải pháp; Ths Hoàng Thị Thúy Vinh, CN Phùng Thị Hoàn – Vụ Pháp chế và quản lý khoa học TANDTC có tham luận Một số vấn đề đặt ra khi sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp năm 2014.

Theo chúng tôi

CÔNG TY HỢP DANH QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN SÀI GÒN (SGI)

Trụ sở: 16 Nguyễn Quý Cảnh, phường An Phú, quận 2, TP.HCM

Tổng đài: 1900 252 503 (Nhánh số 3)

Hotline: 0966 288 855

Điện thoại: 0911 945 499

Website: http://tuvanphasan.vn/; http://phasan.com.vn/; http://tuvanphasan.com/

Email: [email protected]  

Facebook: https://www.facebook.com/quantaivienSaigon

Yêu Cầu Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính / 2023

Quản Lý Tài Chính Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Hành Chính Học Viện Hành Chính, Quyết Định Số 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chinh Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Và Dân Quân Tự Vệ V, Quyết Định 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Dân Quân T, Khoa Luân Mon Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lop Trung Cấp Chinh Tri, Quản Lý Hành Chính, Quận 12 Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Hải Quan, Yêu Cầu Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Cục Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận 7, Thủ Tục Hành Chính Quận 12, Thủ Tục Hành Chính Quận 1, Thủ Tục Hành Chính Quận Nam Từ Liêm, Mẫu Đơn Xin Việc Vào Cơ Quan Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Quản Lý Nhà Nước, Bài Tập Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Nhà Nước Về Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Nhà Nước Về Hành Chính, Quản Trị Hành Chính Văn Phòng, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Phần Mềm Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Phần Mềm Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Nhung Van De Co Ban Cua Quan Ly Hanh Chinh, Mẫu Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khoa Học Quản Lý Hành Chính, Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Đống Đa, Thủ Tục Hành Chính Quận Cầu Giấy, Học Thuyết Quản Trị Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận Hoàng Mai, Đề Thi Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Hai Bà Trưng, Thủ Tục Hành Chính Quận Bắc Từ Liêm, Thủ Tục Hành Chính Quận Hà Đông, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Thủ Tục Hành Chính Quận Ba Đình, ý Nghĩa Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Bai Thao Luan Mon Quan Ly Hanh Chinh Lan 2, Thao Luan Mon Quan Ly Hanh Chinh Lan 2, Thủ Tục Hành Chính Quận Thanh Xuân, Đề Cương Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Nhung Van De Co Ban Cua Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc, Đề Cương Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Vai Trò Chủ Yếu Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Nhà Nước Học Viện Hành Chính, Lý Luận Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội, Luận Văn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Tài Liệu Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Tổ Chức Hành Chính Nhà Nước, Lý Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bai Tapve Quan Li Hanh Chinh Nha Nuoc, Quy Chế Văn Hoá Công Sở Tại Các Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Bao Cao Tốt Nghiệp Nghành Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc, Giáo Trình Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Tiểu Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Nêu Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Đối Với Sự Phát Triển Của Xã Hội, Bài Tiểu Luận Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Mẫu Giấy Uỷ Quyền Trong Cơ Quan Hành Chính, Nêu Kỹ Thuật Trình Bày Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Về Việc Ban Hành Quy Chế Quản Lý Tài Chính Của Tổng Cục Thống Kê, Khái Niệm Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quy Phạm Và Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính, Bài Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Giáo Trình Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quyết Định Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thao Luan Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lan 2, Thảo Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Bài Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Lần 1, Bài Thảo Luận Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Lần 2, Vai Trò Quan Trọng Nhất Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Nghị Định 112 Xu Phat Vi Pham Hanh Chinh Quan Su, Thảo Luận Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Phần 2, Quyết Định Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Bất Hợp Pháp, Quản Trị Hành Chính Văn Phòng Nguyễn Thị Tiểu Laon, Cơ Quan Hành Chính Thành Phố, Huyện Trong Tỉnh Okayama, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Hải Quan, Xử Lý Kỷ Luật Công Chức Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Tìm Hiểu Vai Trò Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Phát Triển Kinh Tế ở Địa Phương, Nghị Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Hải Quan, Quyết Đinh Ban Hanh Quy Che Giao Duc Chính Tri Trong Quan Đôi Nhân Dân Việt Nam, Mẫu 08/tkdv.vn Giấy Đề Nghị Chỉnh Sửa Bổ Sung Thông Tin Khách Hành Là Cơ Quan Đơn Vị , Phân Tích ưu Nhược Điểm Của Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Xử Lý Hành Chính Trong Lĩnh Vự Y ế, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Nhà Nước Xử Lý Hành Chính Trong Lĩnh Vự Y Tế, Tiểu Luận Xử Lý Kỷ Luật Công Chức Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Quy Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Quản Lý, Bảo Vệ Biên Giới Quốc Gia, Giáo Trình Lý Luận Hành Chính Nhà Nước Học Viện Hành Chính, Tiểu Luận Tình Huống Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Xây Dựng Đối Với Cán Bộ Quản Lý Cấp P, Khóa Luận Ttots Nghiệp Về Nâng Cao Công Tác Soạn Thảo Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Chủ Trương, Thái Độ, Quan Điểm Của Chính Phủ, Chính Quyền Cơ Sở Và Các Cơ Quan Đặc Biệt Của Các Nước, Chuyên Đề 7 Hệ Thống Thông Tin Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quy Định Về Phối Hợp Trong Công Tác Quản Lý Về Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Trong Cand,

Quản Lý Tài Chính Trong Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Hành Chính Học Viện Hành Chính, Quyết Định Số 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chinh Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Và Dân Quân Tự Vệ V, Quyết Định 438 Về Ban Hành Quy Chế Giáo Dục Chính Trị Trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Và Dân Quân T, Khoa Luân Mon Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc Lop Trung Cấp Chinh Tri, Quản Lý Hành Chính, Quận 12 Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Thủ Tục Hành Chính Cấp Xã, Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Hải Quan, Yêu Cầu Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Cục Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận 7, Thủ Tục Hành Chính Quận 12, Thủ Tục Hành Chính Quận 1, Thủ Tục Hành Chính Quận Nam Từ Liêm, Mẫu Đơn Xin Việc Vào Cơ Quan Hành Chính, Văn Bản Hành Chính Quản Lý Nhà Nước, Bài Tập Về Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Quản Lý Nhà Nước Về Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Nhà Nước Về Hành Chính, Quản Trị Hành Chính Văn Phòng, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Phần Mềm Quản Lý Văn Bản Hành Chính, Phần Mềm Quản Lý Thủ Tục Hành Chính, Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Nhung Van De Co Ban Cua Quan Ly Hanh Chinh, Mẫu Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Khoa Học Quản Lý Hành Chính, Vai Trò Của Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Đống Đa, Thủ Tục Hành Chính Quận Cầu Giấy, Học Thuyết Quản Trị Hành Chính, Thủ Tục Hành Chính Quận Hoàng Mai, Đề Thi Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Thủ Tục Hành Chính Quận Hai Bà Trưng, Thủ Tục Hành Chính Quận Bắc Từ Liêm, Thủ Tục Hành Chính Quận Hà Đông, Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước Là Gì, Thủ Tục Hành Chính Quận Ba Đình, ý Nghĩa Của Văn Bản Quản Lý Hành Chính, Bai Thao Luan Mon Quan Ly Hanh Chinh Lan 2, Thao Luan Mon Quan Ly Hanh Chinh Lan 2, Thủ Tục Hành Chính Quận Thanh Xuân, Đề Cương Quản Lý Hành Chính Nhà Nước, Nhung Van De Co Ban Cua Quan Ly Hanh Chinh Nha Nuoc, Đề Cương Môn Quản Lý Hành Chính Nhà Nước,

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tổng Kết Thực Tiễn, Nghiên Cứu Lý Luận Là Yêu Cầu Của Công Cuộc Đổi Mới / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!