Đề Xuất 5/2022 # Tính Tối Cao Của Hiến Pháp # Top Like

Xem 22,968

Cập nhật nội dung chi tiết về Tính Tối Cao Của Hiến Pháp mới nhất ngày 21/05/2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 22,968 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Hiện Hành Năm 2022
  • Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Hiện Hành Năm 2014
  • Sách Tích Tụ, Tập Trung Đất Đai Ở Việt Nam
  • Một Số Điểm Chưa Thống Nhất Trong Văn Bản Pháp Luật Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Vai Trò Của Pháp Luật Trong Việc Bảo Vệ Môi Trường Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Published on

    Tính tối cao của hiến pháp

    1. 1. Tính tối cao của hiến pháp Mục đích bài viết làm sáng tỏ nhận định “Tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội”. Với nội dung thứ nhất, bài viết nêu lên các khái niệm, cách nhìn từ nhiều góc độ đối với Hiến pháp, tiêu biểu là Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, việc nhìn nhận vai trò của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội là cần thiết có sự quản lý chặt chẽ và hệ thống nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp được thực thi. Ngoài ra bài viết còn có sự liên kết với các sự kiện, đã và đang xảy ra trong đời sống xã hội Việt Nam để dẫn đến các câu hỏi “Tính tối cao của Hiến pháp có thật sự được đảm bảo?”, “Làm gì để Hiến pháp thể hiện được tính tối cao?”. Từ sự kết nối hai nội dung trên, nội dung thứ ba đánh giá tổng quát tính tối cao của Hiến pháp nhằm đúc kết những ưu, khuyết trong việc đưa Hiến pháp vào đời sống xã hội và đồng thời nêu bật các kiến nghị để Hiến pháp đảm bảo được tính tối cao và vai trò của người dân trong việc xây dựng và bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp. Nội dụng của đề tài Tính tối cao của hiến pháp 2. Nội dung chuyên đề 2.1. Các khái niệm 2.1.1. Hiến pháp Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam,”Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, do cơ quan đại diện và quyền lực nhà nước cao nhất ban hành hoặc sửa đổi theo một trình tự nghiêm ngặt; là văn bản có hiệu lực pháp lí cao nhất, có ý nghĩa chính trị – pháp lí lớn. Hiến pháp quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng và quyết định của đời sống xã hội, như hình thức tổ chức nhà nước, cơ cấu và thẩm quyền của bộ máy nhà nước, trình tự hình thành các cơ quan nhà nước, chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước; quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; những nguyên tắc chung nhất thể hiện mục đích, xu hướng vận động của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Các quy định của Hiến pháp là những quy định xác lập, có giá trị xuất phát điểm; chúng điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng nhất và đồng thời là cơ sở pháp luật cho tất cả các ngành luật nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật của một nước. Các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Những văn bản trái với Hiến pháp bị xem là vi phạm Hiến pháp, phải bị xoá bỏ”. Theo Nguyễn Đăng Dung (2006), “Hiến pháp là một đạo luật cơ bản do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành quy định việc tổ chức nhà nước, cơ cấu, thẩm quyền các cơ quan nhà nước Trung ương và quyền cơ bản của con người. Mọi cơ quan và mọi tổ chức phải có nghĩa vụ tuân thủ hiến pháp” Theo Đề cương những vấn đề cơ bản về Luật Hiến pháp của Giảng viên Lưu Đức Quang Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2010), “Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước do cơ quan đại diện có thẩm quyền cao nhất của nhân dân thông qua hoặc nhân dân trực tiếp thông qua; trong đó quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ
    2. 2. quan nhà nước then chốt; thể hiện một cách tập trung nhất, mạnh mẽ nhất ý chí và lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội”. Từ các khái niệm trên, Hiến pháp có thể được hiểu như đạo luật cơ bản của Nhà nước do cơ quan đại diện có thẩm quyền cao nhất của nhân dân thông qua hoặc nhân dân trực tiếp thông qua thể hiện ý chí, lợi ích của nhà cầm quyền gồm những nguyên tắc cơ bản nhất trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và các quyền cơ bản của công dân. 2.1.2. Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định khái quát về chế độ, quyền, nghĩa vụ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các lĩnh vực trong đời sống xã hội, của công dân Việt Nam và thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng – Nhà nước – Nhân dân. Hiến pháp điều chỉnh 4 nhóm quan hệ xã hội chính như (Trung tâm TTTH, 2009): 2.1.3. Tính tối cao của Hiến pháp 2.1.3.1. Tại sao Hiến pháp mang tính tối cao? Hiến pháp ra đời nhằm bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp thống trị đối với các giai cấp khác, bảo vệ quan hệ sản xuất, các quyền và lợi ích của con người, công dân. Bên cạnh đó, về bản chất, Hiến pháp là 1 văn bản để hạn chế quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền lợi của người dân. Với tầm quan trọng và bản chất đặc biệt của Hiến pháp như “là văn bản của quyền lực gốc, điều chỉnh mối quan hệ, xác định hình thức nhà nước, mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, địa vị pháp lý của công dân, mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước” (ĐBQH Vũ Hồng Anh, 2009), Hiến pháp nhất thiết phải có vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật và cần thiết phải đảm bảo tính hợp hiến trong hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước để Hiến pháp thực sự áp dụng vào cuộc sống một cách hiệu quả. Tính tối cao của Hiến pháp thể hiện trước hết qua việc ghi nhận chủ quyền tối cao của nhân dân. Vì vậy, Hiến pháp là văn bản chính trị – pháp lý chứa đựng những giá trị cơ bản, cao quý nhất của xã hội (Tào Thị Quyên, 2009). Tính tối cao của Hiến pháp thể hiện thông qua quy trình, thủ tục pháp lý đối với việc ban hành, sửa đổi và hiệu lực pháp lý được quy định tại các điều 146, 147 Hiến pháp 1992. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải thuộc quyền của nhân dân nói chung, hoặc cơ quan đại diện có thẩm quyền cao nhất của nhân dân (Quốc hội) thông qua theo một trình tự thủ tục đặc biệt vì Hiến pháp điều chỉnh và bảo vệ những quan hệ xã hội quan trọng nhất, cơ bản nhất, và là công cụ để bảo vệ thành quả đấu tranh Cách mạng. Bên cạnh đó, điều 146 Hiến pháp 1992 quy định, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp, cho thấy Hiến pháp là văn bản pháp luật duy nhất quy định và thực hiện toàn bộ quyền lực nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp (Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, 2010). 2.1.4. Cơ chế bảo hiến 2.1.4.1. Tại sao phải bảo vệ Hiến pháp?
    3. 3. Do tính chất và tầm quan trọng của Hiến pháp nên xuất hiện yêu cầu về sự cần thiết phải đảm bảo tính hợp hiến trong hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước (Vũ Hồng Anh, 2009). Xét về bản chất, hiến pháp là một văn bản để hạn chế quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền lợi của người dân theo nguyên tắc: cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật định và người dân có quyền làm những gì luật không cấm. “Thông qua Hiến pháp, nhân dân trao quyền cho các cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước phải bị giới hạn bởi Hiến pháp” (Vũ Hồng Anh, 2009). Về lý thuyết, quyền lực Nhà nước bị giới hạn, tuy nhiên, với vai trò là người ban hành luật và giám sát việc thực hiện, các cơ quan nhà nước có đầy đủ quyền lực để có xu hướng lạm quyền, chuyên quyền, tìm cách để vượt khỏi sự kiểm soát của hiến pháp cũng tức là vi phạm hiến pháp (Nguyễn Đăng Dung, 2004). Như vậy, tất yếu cần phải có một cơ chế đặc biệt để bảo vệ hiến pháp khỏi sự vi phạm đó của các cơ quan nhà nước. 2.1.4.2. Sự cần thiết phải có cơ chế giám sát Hiến pháp Theo Điều 12 của Hiến pháp 1992 (sửa đổi) đã ghi nhận rằng: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phong ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật”. Ngoài ra, trong một nhà nước pháp quyền, tính tối cao và bất khả xâm phạm của Hiến pháp đòi hỏi phải được tuân thủ tuyệt đối (Trần Thị Hạnh Dung, 2009). Bên cạnh đó, vì Hiến pháp còn được nhìn nhận như một loại khế ước của nhân dân, xác lập chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khẳng định quyền lực nhà nước và chủ quyền thuộc về nhân dân, ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của con người và với tính chất quan trọng đó, cơ chế bảo hiến cần được xây dựng một cách hoàn chỉnh. Nhiều quy định của Hiến pháp chưa thật sự đi vào đời sống hoặc chưa được cụ thể hoá trong đời sống pháp luật dẫn đến việc thực thi pháp luật còn nhiều rào cản, bất cập. Ngoài ra, các hình thức kiến nghị, giám sát quyền lực còn tỏ ra thiếu đồng bộ, nhất quán, thiếu kinh nghiệm về pháp luật và thiếu cơ chế trách nhiệm rõ ràng dẫn đến việc hiệu quả giám sát vẫn còn thấp. Hơn nữa, chưa có một văn bản pháp luật nào quy định trách nhiệm phát sinh từ các văn bản pháp luật vi hiến hiện đang là tồn tại trong sự phân định giữa quyền lực của Quốc hội với quyền lực của Hiến pháp. Đối với người dân, khi quyền và lợi ích của mình bị vi phạm thì công dân chưa có đầy đủ nguồn làm sở cứ và tư duy kiện ra trước Tòa án hay các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, để tiến tới nhà nước pháp quyền với đầy đủ sự tối cao của Hiến pháp cần phải có giải quyết hữu hiệu cho cơ chế ban hành, kiến nghị, kiểm tra tính hợp hiến và các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam (Trần Thị Hạnh Dung, 2009). 2.1.4.3. Cơ chế giám sát Hiến pháp theo quy định của pháp luật hiện hành Giám sát việc tuân thủ Hiến pháp của quy định hiện hành theo cơ chế phân công phân nhiệm vụ mà trong đó Quốc hội giữa vai trò giám sát chính đã được quy định tại Điều 83, 84 Hiến pháp 1992 như “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”, “thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” (Trần Thị Hạnh Dung, 2009):
    4. 6. 3) Hàng ngàn văn bản trái luật được ban hành theo Hoàng Khuê (báo VnExpss, 2008) Bộ Tư pháp cho biết, khoảng 12% số văn bản được kiểm tra do các cơ quan chức năng ban hành đã bị phát hiện có dấu hiệu trái luật, kiểm tra và xử lý văn bản pháp luật từ năm 2003- 2008. Chỉ riêng 800 văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thấy khoảng 200 văn bản trái luật. Con số này tại Bộ Giao thông vận tải là 12 trong số gần 60 văn bản được kiểm tra.Tại tỉnh Cao Bằng có một nửa trong số 124 văn bản kiểm tra có sai phạm. Tỷ lệ này ở Nghệ An là 660 trong 1.000 văn bản được kiểm tra, hay tại Bình Thuận có 111 văn bản hết hiệu lực pháp luật và đã được thay thế, bãi bỏ. Tổng cộng, 63 địa phương kiểm tra hơn 26.000 văn bản thì con số sai phạm bị phát hiện là hơn 3.100. Còn qua việc kiểm tra của Bộ Tư pháp, trong hơn 35.800 văn bản tiếp nhận do các đơn vị ban hành đã phát hiện hơn 4.300 sai luật. – Thông tư 02 ngày 13-1-2003 của Bộ Công an về hướng dẫn tổ chức cấp đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đã quy định: “…Mỗi người chỉ được đăng ký 1 xe môtô hoặc xe gắn máy”. Quy định này đã hạn chế Quyền sở hữu của công dân, được quy định tại Điều 58 Hiến pháp 1992, vi phạm khoản 1, Điều 221 của Bộ luật hình sự là công dân có quyền sở hữu tài sản không bị hạn chế về số lượng, giá trị. Quy định trên đã gián tiếp tạo ra những thủ tục rườm rà, gây khó khăn trong các giao dịch mua bán xe máy, buộc người mua xe phải chi thêm những khoản tiền vô lý. Thực tế, quy định này cũng không phải là giải pháp có hiệu quả nhằm tiến tới giảm dần số vụ tai nạn giao thông, khắc phục được tình trạng ùn tắc bởi “một người dù mua nhiều xe, nhưng ra đường cũng chỉ sử dụng được 1 chiếc”. – Nhiều văn bản có nội dung trái luật đã bị công luận lên tiếng như nội dung trái luật trong công văn không cho phép học sinh, sinh viên tham gia biểu diễn nghệ thuật tại vũ trường, quán karaoke; hay quyết định của Bộ Y tế về việc người dưới 40 kg không được điều khiển xe máy trên 50 phân khối. Đánh giá về “Tính tối cao của hiến pháp” 2.3. Đánh giá 2.3.1. Đánh giá về tính tối cao của Hiến pháp Dưới góc độ chính trị, Hiến pháp là văn bản duy nhất quy định về tổ chức quyền lực Nhà nước, thể hiện tư tưởng của giai cấp cầm quyền. Dưới góc độ pháp lý, Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Ở bất cứ quốc gia nào Hiến pháp là biểu tượng của nền dân chủ, là giới hạn của quyền lực nhà nước, là cơ sở pháp lý cao nhất bảo đảm các quyền tự do cá nhân. 2.3.1.1. Mặt tích cực Tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội được đảm bảo, đã thực sự đi sâu vào đời sống nhân dân bằng nhiều hình thức như tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, hiểu và thực hiện. Từ đó đã bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân đồng thời góp phần giữ được ổn định về chính trị xã hội của đất nước
    5. 8. hoạt động của các cơ quan công quyền, đóng góp ý kiến, phản biện xã hội xây dựng pháp luật. 2.3.2. Kiến nghị qua một số biện pháp Từ thực tiễn trên cho thấy cần thiết phải có cơ chế hữu hiệu bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, thậm chí việc lập pháp của Quốc hội có thể cũng có lúc vi hiến mà Hiến pháp giao cho Quốc hội tự mình giám sát, xử lý văn bản luật nếu trái với Hiến pháp (quy định tại Điều 83, 84 Hiến pháp 1992) cũng là không khách quan. Trong khi từ trước đến nay, chưa có cơ quan nhà nước nào ở trung ương cũng như ở địa phương, kể cả Quốc hội xử lý văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, mặc dù đã có quy định. Do đó phải có một cơ quan độc lập kiểm tra, giám sát chính Quốc hội, đó chính là việc thành lập Tòa án Hiến pháp (Nguyễn Vân Nam, 2009). – Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về phương hướng “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN” đã xác định nhiệm vụ : “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”, “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”. – Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (2007)”Nếu được thành lập, tòa án hiến pháp sẽ là một thiết chế để bảo vệ nhân dân, tránh sự cẩu thả và suy diễn, cũng như thói quen làm việc mà không cần nghĩ đến luật của các cơ quan nhà nước”. “Từ sự phán quyết của tòa án này dựa trên cơ sở hiến pháp, tiền đề cho một nhà nước pháp quyền mới được xây dựng. Bởi nếu chỉ có công dân tuân theo pháp luật thôi chưa đủ”. Nhà nước cần phải đề ra những biện pháp hiệu quả không chỉ tuyên truyền, phổ biến mà còn phải giáo dục pháp luật từ nhà trường đến cuộc sống song song với xây dựng nhà nước pháp quyền. Phải xây dựng cho công dân ý thức thượng tôn pháp luật, nhận thức đúng ví trị pháp lý và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân của mình. 3. Kết luận Tình trạng Hiến pháp chưa được đảm bảo tính tối cao hiện nay là một nội dung cần phải khắc phục nhanh chóng, không chỉ trong tư duy lãnh đạo mà phải bằng những giải pháp cụ thể của Nhà nước. Trong tiến trình xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với yêu cầu hội nhập sâu rộng về nhiều mặt trong các quan hệ quốc tế, thì việc Việt Nam có được một cơ quan bảo hiến độc lập và chuyên trách để đảm bảo những quy định của Hiến pháp luôn được tôn trọng và thực thi là vô cùng cấp bách. Bên cạnh đó, để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, người dân cần thiết hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình, vai trò của một công dân đối với đất nước và từ đó có các động thái tích cực trong đóng góp, xây dựng pháp luật. ài liệu tham khảo đề tài “Tính tối cao của hiến pháp” Nguồn tham khảo 1. Nguyễn Đăng Dung – chủ biên (2006), Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 2. Từ điển bách khoa toàn thư, truy cập ngày 10/12/2010.
    6. 9. 3. Lưu Đức Quang (2010), Đề cương những vấn đề cơ bản về Luật Hiến pháp,Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh. 4. Trung tâm TTTH (2009), Hiến pháp là gì? Hiến pháp của nước ta quy định những vấn đề gì?, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương, truy cập ngày 10/12/2010 5. Tào Thị Quyên (2009),Cơ sở của chế độ giám sát tư pháp Hiến pháp, Luật Việt, truy cập ngày 11/11/2010 6. ĐBQH Vũ Hồng Anh (2009), Trao đổi: Về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Báo Đại Biểu Nhân Dân, truy cập ngày 10/12/2010 7. Kim Xuân, Minh Luận (2009), Hạn chế cầu thủ nhập tịch thi đấu: Phạm luật, Báo Tuổi Trẻ, truy cập ngày 6/12/2010 8. V.V.Thành (2009), Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường: Đã là công dân VN thì được đối xử bình đẳng, Báo Tuổi Trẻ, truy cập ngày 6/12/2010 9. Thông tấn xã Việt Nam (2010), Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật- Bộ Tư pháp: Nhắc nhở 7 Bộ, ngành, 13 tỉnh, thành phố trong việc ban hành văn bản có dấu hiệu trái luật , Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, truy cập ngày 6/12/2010 10. Hoàng Khuê (2008), Gần 6.900 văn bản trái luật đã được ban hành, Báo điện tử VnExpss, truy cập ngày 6/12/2010 11. Văn Tiến (2010), Hiến pháp 1946 – Thành tựu độc đáo về tư tưởng – Bài 2: Nhân dân có quyền phúc quyết hiến pháp, Báo Pháp luật, truy cập ngày 11/12/2010 12. Nguyễn Đăng Dung (2004), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, Nxb: Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 13. TS.Lê Đăng Doanh (2007), Đã đến lúc lập toà án Hiến pháp, Báo Tuổi Trẻ, truy cập ngày 11/12/2010 14. Trần Thị Hạnh Dung (2009), Cơ chế bảo hiến trong nhà nước pháp quyền, Connections, truy cập ngày 11/12/2010 15. Nguyễn Vân Nam (2009), Toà bảo hiến ở Việt Nam, truy cập ngày 11/12/2010

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Quy Định Công Bố Mỹ Phẩm Trong Những Văn Bản Nào?
  • Chương Vii : Quản Lý Nhà Nước Về Giao Thông Đường Bộ
  • Nghị Luận Về Việc Thực Hiện Quyền Trẻ Em Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Chỉ Dẫn Áp Dụng Các Văn Bản Pháp Luật Về Quan Hệ Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài Tại Việt Nam
  • Hệ Thống Toàn Bộ Văn Bản Pháp Luật Trong Lĩnh Vực Dân Sự 2022
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Tính Tối Cao Của Hiến Pháp trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100