Đề Xuất 12/2022 # Thực Hiện Nghị Quyết 36 Của Bch Trung Ương Đảng Khóa Xii: Bạc Liêu Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Biển, Đảo / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Thực Hiện Nghị Quyết 36 Của Bch Trung Ương Đảng Khóa Xii: Bạc Liêu Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Biển, Đảo / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thực Hiện Nghị Quyết 36 Của Bch Trung Ương Đảng Khóa Xii: Bạc Liêu Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Biển, Đảo / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nghị quyết 36 của Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu “Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển”. Góp sức thực hiện mục tiêu này, Bạc Liêu đang cho thấy những nỗ lực vượt bậc của một địa phương có nhiều tiềm năng về biển.

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN XANH…

Là một quốc gia có tiềm năng, lợi thế về biển như phát triển kinh tế biển ở Việt Nam lại chưa gắn kết hài hòa với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường; ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhựa đã trở thành vấn đề cấp bách; các hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển bị suy giảm; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn nhiều hạn chế, bất cập. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 36 của BCH Trung ương Đảng (khóa XII) về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định hướng con đường phát triển “kinh tế biển xanh”. Ngoài mục tiêu tổng quát, Nghị quyết 36 còn xác định một số mục tiêu cụ thể như: các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 – 70% GDP cả nước; chỉ số phát triển con người (HDI) của các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn mức trung bình của cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1 – 2 lần trở lên so với thu nhập bình quân của cả nước. Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Để từ đó, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.

Có 5 quan điểm về phát triển kinh tế biển trong thời gian tới, trong đó hàng đầu là thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đảng ta khẳng định “Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng – an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam”.

…VÀ SỰ GÓP SỨC CỦA BẠC LIÊU

Không chỉ đăng cai lễ phát động quốc gia Tuần lễ Biển và hải đảo Việt Nam, Tháng hành động vì môi trường, hưởng ứng Ngày Đại dương thế giới và Ngày Môi trường thế giới năm 2019, Bạc Liêu còn tổ chức chuỗi hoạt động hết sức ý nghĩa như triển khai Nghị quyết 36, khởi công Nhà máy xử lý rác tại huyện Vĩnh Lợi, khởi công xây dựng Nhà máy điện gió Hòa Bình; các hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội hướng đến sự kiện này… Điều này khẳng định quyết tâm, hành động của Bạc Liêu trong việc chung tay bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam, hướng tới sản xuất thân thiện với môi trường, vì mục tiêu phát triển bền vững đất nước.

THANH LÂM

Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết 26 Nq Tư Của Bch Trung Ương Đảng / 2023

Ngày 19/12, tại trụ sở Liên cơ quan, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức hội nghị tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) về “Tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước”.

Đồng chí Bùi Văn Thắng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí Thường trực HĐND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), các đồng chí ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, lãnh đạo các huyện, thành phố, thị xã.

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TƯ tại hội nghị nhấn mạnh: Sau 8 năm tổ chức triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh đất đai được khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả hơn, phát huy được tiềm năng, nguồn lực về đất; đầu tư mở rộng diện tích, nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và môi trường sinh thái theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước. Chế độ sử dụng đối với đất nông nghiệp, phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng được thực hiện bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo sử dụng hợp lý, đúng quy hoạch, kế hoạch và phù hợp với điều kiện cụ thể tại từng địa phương.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý, sử dụng đất đai; ghi nhận những nỗ lực trong quá trình triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 26-NQ/TƯ trên địa bàn tỉnh, đạt được mục đích và yêu cầu của Nghị quyết đề ra. Hiệu quả từ thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TƯ đã góp phần tích cực phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị của tỉnh, tạo được hệ thống pháp lý, pháp luật đồng bộ để giải quyết các vấn đề về đất đai, nâng cao giá trị sử dụng đất. Công tác quản lý nhà nước được quan tâm, đã ban hành nhiều chính sách quản lý đất đai phù hợp, khắc phục được tình trạng cấp đất trái thẩm quyền. Tiềm năng đất đai được phát huy tối đa, góp phần làm thay đổi diện mạo của tỉnh, đất đai được chuyển dịch hợp lý theo đúng quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, thực hiện chủ trương “dồn điền, đổi thửa” đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đất nông nghiệp không còn tình trạng manh mún.

Đồng chí Chủ tịch cũng lưu ý với các cấp, ngành, đơn vị về những vấn đề còn tồn tại như công tác quản lý ở một số địa phương còn hạn chế; tranh chấp đất đai còn xảy ra, đất công cộng như đất ngoài đê vẫn bị lấn chiếm; quy hoạch sử dụng đất ở một số nơi còn manh mún, chồng chéo; ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của một bộ phận nhân dân chưa cao; việc cho một số doanh nghiệp thuê đất không hiệu quả, lãng phí đất; quy hoạch đất cho các công trình công cộng còn chắp vá, không có quy mô lâu dài; xây dựng khung giá đất bất cập, không sát thực tế.

Đồng chí đề nghị các cấp, ngành, đơn vị trên địa bàn trong thời gian tới cần tập trung tháo gỡ, khắc phục những tồn tại, tiếp tục thực hiện tốt Luật đất đai; nâng cao quyền, trách nhiệm quản lý đất đai; cần xây dựng, hoàn chỉnh và thực hiện nghiêm túc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giai đoạn 2011- 2016 và thời gian tiếp theo; thực hiện công khai, dân chủ trong thực hiện quy hoạch, quản lý đất đai trên địa bàn ở từng lĩnh vực cụ thể; giải quyết kịp thời các tranh chấp đất đai; cải cách thủ tục hành chính trong giao, cấp, chuyển quyền sử dụng đất.

Thanh Thủy

Nhìn Lại 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xii Của Đảng / 2023

Xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo đất nước giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử Những nỗ lực liên tục thời gian vừa qua

Trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, bên cạnh đa số những đảng viên tiên phong, gương mẫu được nhân dân tin tưởng, đã xuất hiện một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng và là một trong những nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế cầm quyền của Đảng. Vì vậy, liên tiếp hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành và tập trung nguồn lực để tổ chức thực hiện hai nghị quyết quan trọng, trực tiếp về lĩnh vực này.

Ngày 16/1/2012, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, trong đó xác định một trong ba vấn đề cấp bách cần tập trung giải quyết là đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đây cũng được xác định “là vấn đề trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất”.

Sau bốn năm thực hiện, Đại hội XII của Đảng đã dành riêng một báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI với nhiều ưu điểm, nhưng về cơ bản vẫn chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra. Do đó, Đại hội đã xác định phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng trong những năm tới với “trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI”. Nhiệm vụ đầu tiên trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của cả nhiệm kỳ cũng được xác định là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Do vậy, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Gần ba năm qua, quán triệt quan điểm kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nhân dân, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã được thực hiện nghiêm túc, đạt được một số kết quả cụ thể:

Thứ nhất, nhận thức của cấp ủy các cấp, cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Các cấp ủy đảng đã nghiêm túc triển khai bằng những đề án, chương trình hành động cụ thể và tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chỉ đạo và hướng dẫn của Trung ương. Ban Tuyên giáo Trung ương đã xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyên truyền hằng năm về các nội dung tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và xã hội. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã đưa thêm bài giảng về giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên vào trong chương trình cao cấp lý luận chính trị và tiếp tục triển khai đến toàn bộ hệ thống các trường chính trị trong cả nước. Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Truyền hình Việt Nam và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng mang tên “Búa liềm vàng” hằng năm, thu hút đông đảo nhà báo thuộc các loại hình báo chí hưởng ứng, tham gia nhiệt tình và đạt hiệu quả rất tích cực. Các cơ quan thông tin truyền thông đã dành thời lượng đáng kể, bằng nhiều hình thức phong phú, với nội dung cụ thể, thiết thực để tuyên truyền, cổ vũ nhân dân góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhiều bài báo có chất lượng tốt, kịp thời nêu gương những điển hình tiên tiến, đồng thời phát hiện, phê phán những tổ chức, cá nhân có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; thậm chí, tạo áp lực để các cơ quan chức năng sớm giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội, qua đó được nhân dân đồng tình cao.

Cùng với việc Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng, các cấp đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và kịp thời phê phán những thông tin xấu, độc hại, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, tuyên truyền kích động, chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch.

Những nỗ lực của các cấp ủy đảng và các cơ quan, “binh chủng” thông tin – truyền thông đã tạo được những chuyển biến thực sự trong nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân về đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và ngoài xã hội.

Thứ hai, việc ban hành các văn bản của Đảng được chú trọng đặc biệt, góp phần quan trọng vào việc khắc phục những “kẽ hở” của các quy chế, quy định có thể bị lợi dụng để làm trái.

Các văn bản của Trung ương về công tác xây dựng Đảng là căn cứ để các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng thuận lợi và nhất quán. Các cơ quan tham mưu của Đảng đã tham mưu cho Đảng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn mọi mặt công tác đảng, nhất là công tác kiểm tra và tổ chức, cán bộ – vốn là công việc rất nhạy cảm và phức tạp hiện nay.

Có thể nói, chưa có thời kỳ nào các văn bản của Đảng về công tác cán bộ được hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới nhiều như trong hơn nửa nhiệm kỳ vừa qua (45 văn bản). Điều đó phản ánh sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương và sự cố gắng, quyết tâm chính trị cao của các cơ quan tham mưu của Đảng, góp phần tạo nên hệ thống các văn bản tương đối hoàn thiện, đồng bộ, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện giải pháp là làm cho cán bộ, công chức “không thể tham nhũng”. Theo đó, các cấp ủy đảng triển khai cụ thể hóa bằng các quy định, quy chế, chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể, phù hợp với từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Việc thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ, việc gây bức xúc trong dư luận, đã góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Thứ ba, vai trò của tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên từng bước được phát huy.

Thấm nhuần những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”, “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý,”…, Đảng ta luôn coi việc nêu gương của cán bộ, đảng viên là một trong những phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng.

Cấp ủy đảng các cấp đã triển khai thực hiện nghiêm túc Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, đồng thời thực hiện Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7/62012, của Ban Bí thư, “Về tránh nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Công tác rà soát, bổ sung, ban hành các quy chế, quy định, văn bản quy phạm cho phù hợp, đồng bộ được chú ý hơn. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đã coi trọng và cải tiến phong cách, lề lối làm việc; tích cực cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng khoa học công nghệ thông tin. Ý thức chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên được nâng lên.

Nét mới trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng là đã chú trọng kiểm tra, xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả cán bộ cao cấp, đương chức hay đã nghỉ hưu. Có đương sự đã bị khởi tố, điều tra và xử lý theo quy định của pháp luật, vì lý do tham nhũng hay vi phạm kỷ luật phát ngôn… Đây là bước đột phá lớn trong công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, góp phần chủ động ngăn ngừa vi phạm của cán bộ cao cấp và cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe chung đối với mọi cán bộ, đảng viên. Kết quả đó còn góp phần xóa bỏ “vùng cấm”, sự “ngoại lệ”; khẳng định không có nhân nhượng, không có điểm dừng trong cuộc đấu tranh làm trong sạch Đảng, ngăn chặn “tư duy nhiệm kỳ”, “hạ cánh an toàn” đối với mọi cán bộ, đảng viên. Kỷ cương, kỷ luật đảng được siết chặt hơn. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo sắp xếp bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã đạt được kết quả rõ rệt. Công tác thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử được quan tâm chỉ đạo thực hiện quyết liệt hơn, nhất là đối với các vụ, việc gây thất thoát lớn kéo dài, những vụ tham nhũng, kinh tế lớn, nghiêm trọng.

Hơn nửa nhiệm kỳ Đại hội XII, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật và đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định kỷ luật hơn 70 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 1 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị; 5 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng đương nhiệm và 3 đồng chí trong số đó đã bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương; 14 đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, số còn lại có cả bí thư, phó bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, bí thư, phó bí thư, ủy viên ban cán sự đảng bộ, ngành và bí thư, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế của Nhà nước, 20 cán bộ cấp tướng trong Quân đội và Công an.

Thứ năm, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân trong xây dựng Đảng.

Các cấp ủy đảng đã quan tâm lãnh đạo triển khai thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013, của Bộ Chính trị khóa XI, “Ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội” và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013, của Bộ Chính trị, “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”; coi trọng hơn việc giám sát của nhân dân, công luận, dư luận, của cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị đối với người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, mở rộng dân chủ trong tổ chức đảng, tổ chức nhà nước và ngoài xã hội.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội đã từng bước chủ động hơn trong việc phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên bằng nhiều hình thức, có tác dụng điều chỉnh hành vi của cán bộ, đảng viên theo hướng tích cực, góp phần cảnh báo, phòng ngừa những sai phạm.

Một số hạn chế cần quyết tâm khắc phục

Một số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên chưa thực sự tâm huyết, nhận thức chưa đúng và thiếu nghiêm túc trong việc phổ biến, nghiên cứu, quán triệt và học tập Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; thực hiện các giải pháp đề cập trong Nghị quyết thiếu quyết liệt, chưa đồng bộ, chưa gắn kết giữa các cấp, các ngành, các lĩnh vực và các địa phương. Việc xây dựng chương trình hành động, đề án, kế hoạch thực hiện chưa sát với tình hình, đặc điểm của địa phương, cơ quan, đơn vị, thiếu tính khả thi, thậm chí còn nảy sinh những bất cập mới. Vẫn còn tình trạng cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cán bộ chủ chốt các cấp chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm nêu gương, còn biểu hiện đối phó, né tránh, thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, công tác, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời nắm bắt tình hình và tập trung lãnh đạo giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm; chậm xem xét, xử lý dứt điểm những phản ánh, kiến nghị, khiếu kiện đúng đắn và hợp pháp của nhân dân. Hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng ở không ít cấp ủy đảng cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở chưa thực sự rõ nét; thậm chí, nhiều nơi còn chủ quan, coi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ có ở nơi khác chứ không có ở tổ chức đảng của mình và với bản thân mình.

Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử có mặt còn hạn chế, có vụ, việc chưa phối hợp chặt chẽ, đồng bộ; có nơi chưa coi trọng kiểm tra phòng ngừa, chưa chủ động phát hiện, chưa kiên quyết xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm. Có trường hợp cán bộ, đảng viên vi phạm nhưng không được xử lý kịp thời dẫn đến cán bộ vi phạm nghiêm trọng hơn, thậm chí phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc thực hiện kiến nghị, kết luận sau thanh tra, kiểm tra, giám sát nhìn chung còn chậm, chưa triệt để.

Công tác quản lý hoạt động báo chí, xuất bản, in-tơ-nét, mạng xã hội còn hạn chế, chưa kịp thời, hiệu quả thấp. Công tác thông tin, tuyên truyền định hướng dư luận có lúc chưa kịp thời. Đấu tranh của các lực lượng chức năng chống “diễn biến hòa bình” và các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ danh dự, uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị… chưa thực sự chủ động và hiệu quả còn thấp.

Cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kiểm điểm tự phê bình, phê bình chưa cụ thể, còn hình thức. Việc khắc phục khuyết điểm, hạn chế sau kiểm điểm chưa rõ, chưa tạo được sự chuyển biến rõ rệt. Việc đánh giá, phân loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên một số nơi chưa sát thực tế, vẫn còn biểu hiện “bệnh thành tích”. Không ít cấp ủy cấp dưới không tích cực triển khai nhiều quyết định quan trọng của Trung ương trong phòng, chống tham nhũng. Việc kê khai tài sản, thu nhập vẫn chưa có chuyển biến đáng kể và cơ bản vẫn trong tình trạng hình thức, đối phó. Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013, của Bộ Chính trị khóa XI vẫn chậm được triển khai và hiệu quả thấp.

Vai trò phản biện và việc thực hiện công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội còn hạn chế, chưa phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân, báo chí trong đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, lãng phí. Việc nhận diện và xử lý các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn lúng túng. Tình trạng nể nang, ngại va chạm, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Nhiều cấp ủy đảng chưa thực hiện nghiêm Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3/10/2017, của Ban Bí thư Trung ương, “Ban hành Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Thậm chí, có cấp ủy khi triển khai Hướng dẫn khung đã cắt xén những nội dung quan trọng, “nhạy cảm”, như các hình thức công khai tài sản, chế độ báo cáo, giải trình… Ngay cả quy định đã có rất cụ thể, như “Không đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu phụ trách công tác tổ chức, cán bộ không thực hiện nghiêm và không có hiệu quả Nghị quyết số 39-NQ/TW của Trung ương tại địa phương, đơn vị mình phụ trách”, nhưng nhiều cơ quan không công khai kế hoạch, lộ trình và kết quả tinh giản biên chế, nên rất khó để phát huy vai trò của nhân dân trong công việc quan trọng này.

Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” luôn là việc khó, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, thậm chí phải bằng nhiều giải pháp mạnh. Trung ương đang chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, chắc chắn sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý, tiếp tục hoàn thiện những chủ trương, giải pháp để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng được kỳ vọng của nhân dân./.

Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) / 2023

Thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30 / 10 / 2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khoá XII ); Kế hoạch số 04-KH/TW ngày 16/11/2016 của Bộ C hính trị ; Kế hoạch số 49-KH/TU ngày 04/1/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ , Ban Thường vụ Đảng ủy Trường ban hành kế hoạch thực hiện như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. Tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ(sau đây gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4) nghiêm túc để cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về tình hình, nguyên nhân, nhận diện những biểu hiện suy thoái và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Nắm vững mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp trong Nghị quyết Trung ương 4 để triển khai xây dựng chương trình hành động và tổ chức thực hiện sát đúng, có hiệu quả. Từ đó, từng cấp uỷ, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình và tự giác, gương mẫu thực hiện Nghị quyết Trung ương 4.

3. Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình cần kết hợp với giám sát, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm. Phát huy vai trò của cán bộ, viên chức và người học trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4. Đánh giá, khen thưởng những tập thể, cá nhân làm tốt; phê bình, nhắc nhở, xử lý kỷ luật những nơi làm đối phó, chất lượng kiểm điểm không đảm bảo.

4. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, Kế hoạch, Chương trình hành động đồng bộ, hiệu quả cùng với các nghị quyết khác của Trung ương, của Tỉnh ủy Nghệ An, của Đảng ủy Trường; coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục khó khăn, đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ chính trị; giải quyết kịp thời những vấn đề mà dư luận và cán bộ, đảng viên và người học quan tâm.

II. NỘI DUNG 1. Chỉ đạo tổ chức hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết 1.1. Nội dung quán triệt

– Kế hoạch, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 của cấp trên và cấp mình.

1.2. Báo cáo viên

Đồng chí Bí thư cấp ủy, trưởng các đơn vị, đoàn thể trực tiếp quán triệt các nội dung cơ bản của Nghị quyết số 04; phân công các đồng chí cấp ủy viên quán triệt Kế hoạch, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4.

1.3. Thời gian

– Cấp đảng bộ bộ phận, chi bộ: Hoàn thành việc quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 trước ngày 12/2/2017.

Ban Tuyên giáo Đảng ủy Trường phối hợp với Văn phòng Đảng ủy tham mưu xây dựng Kế hoạch triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 trong toàn Đảng bộ và cán bộ, viên chức và người học.

2. Xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết

Ngay sau hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 4 của cấp trên, cấp ủy các cấp căn cứ tình hình thực tế của đơn vị mình để xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, trong đó xác định rõ: những nhiệm vụ thực hiện ngay và thường xuyên, những nhiệm vụ thực hiện theo lộ trình; phân công chỉ đạo; đơn vị, bộ phận chủ trì tham mưu, phối hợp và chỉ rõ thời gian, tiến độ hoàn thành.

Thời gian hoàn thành:

– Cấp đảng bộ bộ phận, chi bộ, đơn vị, đoàn thể trực thuộc Trường: trước 12/2/2017.

3. Công tác chuẩn bị và tổ chức kiểm điểm theo Nghị quyết

Nội dung kiểm điểm thực hiện theo Công văn số 1825-CV/BTCTW ngày 18/11/2016 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng. Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình cần chú trọng nhận diện và xác định rõ những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ ra trong Nghị quyết số 04 để từng cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên “soi mình” tự phê bình và phê bình. Gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đề ra các giải pháp sửa chữa, khắc phục.

3.1. Chuẩn bị kiểm điểm

– Đối tượng: Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Trường, Ban Giám hiệu Nhà trường; Ban Chấp hành các đảng bộ bộ phận, Ban Chấp hành các chi bộ; Tập thể lãnh đạo các đơn vị, đoàn thể trực thuộc Trường phải tiến hành kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4.

– Đối tượng: Tất cả đảng viên trong toàn Đảng bộ Trường đều phải kiểm điểm trước chi bộ nơi sinh hoạt.

– Đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ngoài kiểm điểm ở chi bộ, phải kiểm điểm ở cấp ủy, tập thể lãnh đạo cao nhất mà mình tham gia, cụ thể:

+ Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ bộ phận, Ủy viên Ban Chấp hành chi bộ kiểm điểm trước tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ bộ phận, Ban Chấp hành chi bộ.

– Nội dung kiểm điểm: Bản kiểm điểm cá nhân cần đối chiếu với những biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để nghiêm túc kiểm điểm tự phê bình, đề ra giải pháp khắc phục; đồng thời, phê bình cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên tinh thần thẳng thắn, đoàn kết, xây dựng.

3.2. Gợi ý và lấy ý kiến góp ý kiểm điểm

– Ở những nơi có vấn đề phức tạp, dư luận bức xúc, có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” thì cấp trên gợi ý kiểm điểm bằng văn bản, yêu cầu báo cáo giải trình.

– Ban Thường vụ Đảng ủy Trường thành lập các tổ công tác tham dự và chỉ đạo việc kiểm điểm.

– Tuỳ tình hình và điều kiện cụ thể, trước khi kiểm điểm, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của Ban Chấp hành các đoàn thể cùng cấp bằng các hình thức phù hợp, hiệu quả.

3.3. Tổ chức kiểm điểm

– Tiến hành kiểm điểm phải theo trình tự từ trên xuống dưới, cuối cùng là kiểm điểm ở chi bộ.

– Kiểm điểm tập thể trước, cá nhân sau; xong kiểm điểm tập thể chủ trì kết luận, biểu quyết có hay không những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; phần kiểm điểm cá nhân: người đứng đầu kiểm điểm trước (do một đồng chí cấp phó chủ trì kiểm điểm người đứng đầu), sau đó người đứng đầu chủ trì kiểm điểm các đồng chí còn lại và kết luận có hay không những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ đối với từng đồng chí.

– Tổ công tác của cấp ủy cấp trên đánh giá, nhận xét công tác chuẩn bị, chất lượng kiểm điểm và dự kiến kết luận việc kiểm điểm tập thể, cá nhân “Đạt yêu cầu” hay “Chưa đạt yêu cầu”. Những tập thể, cá nhân kiểm điểm chưa đạt yêu cầu phải nghiêm túc rút kinh nghiệm và tổ chức lại hội nghị kiểm điểm.

– Trong quá trình kiểm điểm nếu phát hiện tập thể hoặc cá nhân có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mức độ nghiêm trọng trở lên thì dừng việc kiểm điểm để kiểm tra, thanh tra, kết luận làm rõ và xử lý kịp thời theo quy định.

– Sau kiểm điểm: Tiếp thu, hoàn chỉnh báo cáo kiểm điểm, xây dựng kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm và báo cáo cấp trên trực tiếp.

3.4. Thời gian kiểm điểm

Hoàn thành kiểm điểm trong tháng 02/2017

3.2.2. Cấp đảng bộ bộ phận, chi bộ, đơn vị, đoàn thể trực thuộc Trường

3.2.3. Hồ sơ, báo cáo sau kiểm điểm

Sau kiểm điểm 07 ngày làm việc, cấp ủy hoàn chỉnh hồ sơ báo cáo lên cấp ủy cấp trên trực tiếp bao gồm:

– Báo cáo kiểm điểm tập thể (kèm theo kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm);

– Bản kiểm điểm cá nhân (kèm theo kế hoạch sửa chữa, khắc phục khuyết điểm);

– Tổng hợp ý kiến góp ý vào báo cáo kiểm điểm tập thể, cá nhân và kết luận của đồng chí chủ trì hội nghị kiểm điểm đối với tập thể và từng cá nhân.

4. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết

– Bổ sung nội dung kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII vào chương trình kiểm tra, giám sát hằng năm của Ban Thường vụ Đảng ủy, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Trường và cấp ủy các cấp.

– Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát và báo cáo cấp có thẩm quyền việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4; đề xuất khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân thực hiện có hiệu quả; xử lý vi phạm và công khai kết quả.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Trường, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng uỷ, bí thư cấp uỷ các cấp; trưởng các đơn vị, đoàn thể trực thuộc Trường chịu trách nhiệm tổ chức hội nghị và trực tiếp quán triệt Nghị quyết Trung ương 4, xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 ở đơn vị mình.

2. Ban Tuyên giáo Đảng uỷ Trường chủ trì, phối hợp Ban Tổ chức Đảng ủy và Văn phòng Đảng ủy chuẩn bị tài liệu học tập Nghị quyết Trung ương 4 để sử dụng ở các cấp. Ban Tuyên giáo Đảng ủy chỉ đạo Ban Biên tập website Trường tuyên truyền nội dung Nghị quyết Trung ương 4 bằng các hình thức phù hợp, thiết thực, hiệu quả.

3. Ban Tổ chức Đảng ủy Trường phối hợp với Văn phòng Đảng ủy tham mưu Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và Dự thảo báo cáo kiểm điểm tập thể Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Trường; tham mưu thành lập Bộ phận thường trực (thành phần gồm các đồng chí: Bí thư Đảng uỷ, Phó Bí thư Đảng uỷ, Trưởng Ban Tổ chức Đảng uỷ, Trưởng Ban Tuyên giáo Đảng uỷ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy), Tổ giúp việc Bộ phận thường trực thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (thành phần gồm Trưởng các ban của Đảng uỷ, Chánh Văn phòng Đảng ủy và đồng chí Phó Trưởng Ban Tổ chức Đảng ủy, do đồng chí Trưởng Ban Tổ chức Đảng ủy làm Tổ trưởng) và các tổ công tác chỉ đạo kiểm điểm ở các đơn vị do đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Trường được phân công phụ trách làm Tổ trưởng; phối hợp với Văn phòng Đảng ủy và Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Trường theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và tham mưu việc sơ kết, tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4.

4. Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phối hợp với các ban của Đảng ủy và Văn phòng Đảng ủy tham mưu gợi ý kiểm điểm cho các tập thể, cá nhân. Sau kiểm điểm tổng hợp kết quả giải trình các nội dung được gợi ý kiểm điểm báo cáo Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy Trường.

6. Các cấp uỷ, tổ chức đảng căn cứ vào nội dung Nghị quyết Trung ương 4 và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tình hình, đặc điểm cụ thể của đơn vị mình, chủ động xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, phân công lãnh đạo chỉ đạo và dự kiểm điểm với cấp dưới nghiêm túc, chất lượng, đạt kết quả tốt.

7. Mỗi cán bộ, đảng viên phải có cam kết bằng văn bản với chi bộ, lãnh đạo đơn vị mình về việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, để rèn luyện, phấn đấu và làm cơ sở kiểm điểm đánh giá, phân loại cuối năm.

8. Hằng năm, gắn với kiểm điểm cuối năm để sơ kết, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thực Hiện Nghị Quyết 36 Của Bch Trung Ương Đảng Khóa Xii: Bạc Liêu Chung Tay Bảo Vệ Môi Trường Biển, Đảo / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!