Đề Xuất 5/2023 # Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới # Top 9 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 5/2023 # Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Từ năm 1986 đất nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng, thể chế pháp luật, trong đó có pháp luật kinh tế từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Tổng quan về quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế trong 30 năm qua có thể chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất từ năm 1986-2000 với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp của thời kỳ đầu Đổi mới; giai đoạn thứ hai từ năm 2001-2013, bắt đầu bằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001 và giai đoạn thứ ba từ khi bản Hiến pháp năm 2013 được ban hành đến nay. Giai đoạn mới mở đầu khi Quốc hội sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để phù hợp với thời kỳ phát triển mới. Bạn đang xem Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới tại website TamPacific.vn

Quốc hội đã và đang tiến hành sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản pháp luật phù hợp với bối cảnh và tình hình mới cũng như lộ trình hội nhập quốc tế của nước ta; trong đó, tập trung vào các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, quyền con người, quyền công dân, cải cách thể chế kinh tế, cải cách tư pháp. Trong lĩnh vực kinh tế, Quốc hội đã ban hành các luật như: Luật đất đai năm 2013, Luật đấu thầu năm 2013, Luật đầu tư công năm 2014, Luật phá sản năm 2014, Luật doanh nghiệp năm 2014, Luật đầu tư năm 2014, Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh năm 2014… Những văn bản pháp luật này được kỳ vọng sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho quá trình cải cách thể chế kinh tế trong lâu dài và có tác động lớn đến quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đã được thực hiện ba năm qua.

Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, việc nghiên cứu thể chế pháp luật kinh tế các nước trên thế giới là cần thiết và bổ ích. Tuy nhiên, không có câu trả lời tuyệt đối về lựa chọn pháp luật theo hình mẫu quốc gia nào. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hệ thống pháp luật các nước ngày càng tiệm cận với nhau hơn; bản thân pháp luật cũng có tính kế thừa, tính đặc thù xã hội và văn hóa. Do vậy, việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật các quốc gia khác chỉ mang tính chất tham khảo, học hỏi kinh nghiệm để từ đó đưa ra lựa chọn chính sách phù hợp cho Việt Nam. Xuất phát từ nhu cầu như vậy, Thường trực Ủy ban Kinh tế đã huy động đội ngũ chuyên gia luật học am hiểu sâu và có nhiều kinh nghiệm để thực hiện nghiên cứu thể chế pháp luật kinh tế của một số quốc gia trên thế giới trong suốt hai năm (2014-2015). Sáu quốc gia đã được lựa chọn nghiên cứu là: Hoa Kỳ, Úc (đại diện của hệ thống thông luật Ănglô-Xắcxông), Đức (đại diện của hệ thống dân luật Châu Âu lục địa), Hàn Quốc (quốc gia phát triển thành công của khu vực Châu Á), Malaysia (quốc gia phát triển ấn tượng khu vực Đông Nam Á) và Cộng hòa Liên bang Nga (quốc gia chuyển đổi). Đối với thể chế pháp luật kinh tế của mỗi quốc gia, các tác giả đã tìm hiểu và lựa chọn phân tích một số văn bản luật cơ bản, chính yếu trong các lĩnh vực pháp luật kinh tế cốt yếu, bao gồm:

Những luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể trên thị trường từ khi gia nhập thị trường, hoạt động trên thị trường tới khi rút lui khỏi thị trường. Nghiên cứu đã xem xét và đánh giá đặc trưng của các luật chủ yếu, trong một số trường hợp là các án lệ tiêu biểu điều chỉnh và tác động đến hành vi của các chủ thể trong thị trường tại các quốc gia trên, qua đó tác động đến sự phát triển một cách lành mạnh của thị trường. Những thiết chế quản lý và điều tiết thị trường: Trong các trường hợp được lựa chọn nghiên cứu, các thiết chế được hình thành và cơ bản được hoàn thiện để quản lý và điều tiết thị trường nhằm bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên. Nghiên cứu đã xem xét vai trò và vị trí của các thiết chế như cơ quan quản lý cạnh tranh, Ngân hàng trung ương, Ủy ban Chứng khoán, cơ quan thống kê, cơ quan bảo hiểm tiền gửi… đặc biệt là tính độc lập cũng như sự phối hợp giữa các thiết chế trong quản lý và điều tiết thị trường.

Thông tin cũng đưa ra một số đề xuất, khuyến nghị cho việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các luật nhằm góp phần đa dạng hóa pháp luật kinh tế và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường tại Việt Nam trong thời gian tới. Với những phân tích mang tính giới thiệu, định hướng về thể chế pháp luật kinh tế của các quốc gia được lựa chọn nghiên cứu, thông tin nhằm giúp các đại biểu Quốc hội có thêm nguồn thông tin trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội. Thông tin này cũng sẽ được gửi đến các cơ quan nghiên cứu hoạch định chủ trương, chính sách và pháp luật để tham khảo; đồng thời, gợi mở hướng tìm hiểu, phân tích cho những nghiên cứu tiếp theo.

THƯỜNG TRỰC ỦY BAN KINH TẾ

III. Pháp luật về quản lý kinh tế IV. Pháp luật về các chủ thể kinh doanh V. Pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh

I. Tổng quan 1.1. Khái quát chung về hệ thống pháp luật Hoa Kỳ 1.2. Khái quát chung về nền kinh tế Hoa Kỳ 1.3. Vai trò của pháp luật đối với phát triển kinh tế

II. Pháp luật về chính sách đầu tư, sản xuất, kinh doanh 2.1. Chính sách ưu đãi thuế 2.2. Chính sách hỗ trợ tài chính 2.3. Các chính sách hỗ trợ khác

III. Pháp luật về phát triển các loại thị trường 3.1. Pháp luật về thị trường hàng hóa 3.1.1. Nghĩa vụ bảo đảm sản phẩm 3.1.2. Trách nhiệm sản phẩm 3.2. Pháp luật về thị trường tài chính 3.2.1. Pháp luật về ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro hệ thống 3.2.2. Pháp luật về giao dịch bảo đảm – công cụ hiệu quả bảo vệ chủ nợ trong các quan hệ nghĩa vụ 3.3. Pháp luật về thị trường bất động sản 3.3.1. Thuê bất động sản 3.3.2. Mua bán bất động sản 3.3.3. Thế chấp bất động sản 3.4. Thị trường khoa học – công nghệ

IV. Pháp luật về sở hữu 4.1. Khái quát chung về quyền sở hữu 4.2. Bất động sản

VI. Pháp luật về hợp đồng 6.1. Bản chất quan hệ hợp đồng 6.2. Xác lập hợp đồng 6.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng 6.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng 6.3. Hình thức của hợp đồng 6.4. Các trường hợp ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng Kiến nghị 6.5. Quyền của người thứ ba 6.5. Chế tài hợp đồng 6.5.1. Chế tài vật chất 6.5.2. Chế tài công bình

VII. Pháp luật về quản lý, điều tiết kinh tế 7.1. Pháp luật về cạnh tranh lành mạnh và chống độc quyền 7.1.1. Cơ chế bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường 7.2. Quy chế pháp lý bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng 7.3. Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong các hợp đồng vay tiêu dùng 7.3.1. Quy định thông tin trung thực về cho vay 7.3.2. Quyền được đối xử bình đẳng của người vay 7.3.3. Quy định về quyền của người tiêu dùng trong hợp đồng vay 7.3.4. Quyền hủy bỏ hợp đồng tín dụng tiêu dùng (cooling-off ) 7.3.5. Công bố thông tin về người vay 7.3.6. Quy chế pháp lý về thu hồi nợ từ người tiêu dùng 7.4. Hệ thống các cơ quan quản lý hệ thống tài chính

VIII. Pháp luật về giải quyết tranh chấp 8.1. Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án 8.2. Giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án 8.2.1. Thương lượng 8.2.2. Hòa giải 8.2.3. Trọng tài

IX. Đánh giá chung I. Tổng quan

II. Pháp luật về chính sách đầu tư, sản xuất, kinh doanh 2.1. Các quy định về thanh toán quốc tế 2.2. Các quy định về nhập khẩu 2.3. Các quy định về hiện diện thương mại 2.3.1. Công ty 2.3.2. Chi nhánh của công ty nước ngoài tại Đức 2.3.3. Văn phòng đại diện của công ty nước ngoài tại Đức 2.4. Các quy định về ưu đãi, khuyến khích đầu tư 2.4.1. Hỗ trợ về địa điểm, khu vực đầu tư 2.4.2. Hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu và phát triển (R&D projects) 2.4.3. Hỗ trợ về nhân sự 2.4.4. Hỗ trợ tín dụng của Nhà nước 2.4.5. Bảo lãnh của Nhà nước

III. Pháp luật về phát triển các loại thị trường 3.1. Pháp luật về thị trường hàng hóa 3.1.1. Pháp luật về dịch vụ logistics 3.1.2. Pháp luật về thương mại 3.2. Pháp luật về thị trường tài chính; thị trường dịch vụ ngoài tài chính 3.2.1. Về hoạt động ngân hàng 3.2.2. Thị trường chứng khoán 3.3 Pháp luật về thị trường bất động sản 3.4. Pháp luật về thị trường khoa học – công nghệ 3.5. Pháp luật về thị trường lao động

IV. Pháp luật về sở hữu

V. Pháp luật về các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác 5.1. Pháp luật về công ty 5.1.1. Công ty trách nhiệm hữu hạn 5.1.2. Công ty cổ phần 5.1.3. Công ty hợp danh 5.2. Pháp luật về mua bán, sáp nhập, giải thể, phá sản 5.2.1. Các quy định về mua bán, sáp nhập 5.2.2. Các quy định về giải thể 5.2.3. Các quy định về phá sản

VI. Pháp luật về hợp đồng

VII. Pháp luật về các cơ quản quản lý, điều tiết kinh tế 7.1. Cơ quan chống độc quyền 7.1.1. Pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền 7.1.2. Cục Chống độc quyền Liên bang (Cục Các-ten) 7.2. Cơ quan Giám sát Ngân hàng Liên bang 7.4. Văn phòng Tên thương mại và Sáng chế Đức

VIII. Pháp luật về giải quyết tranh chấp 8.1. Tố tụng Tòa án 8.1.1. Về phân định thẩm quyền giữa các cấp Tòa án 8.1.2. Về trình tự 8.2. Tố tụng Trọng tài và hòa giải

IX. Đánh giá chung

II. Pháp luật về chính sách đầu tư, sản xuất, kinh doanh 2.1. Môi trường kinh doanh 2.2. Đầu tư nước ngoài

IV. Pháp luật về sở hữu 4.1. Quyền sở hữu đối với các loại tài sản 4.1.1. Tài sản cá nhân 4.1.2. Bất động sản

VI. Pháp luật về hợp đồng 6.1. Khái quát về pháp luật hợp đồng của Úc 6.2. Tự do hợp đồng 6.3. Hình thức hợp đồng

I. Tổng quan

III. Pháp luật về phát triển các loại thị trường 3.1. Pháp luật về thị trường hàng hóa 3.1.1. Pháp luật về thương mại 3.1.2. Các luật về đấu thầu 3.2. Pháp luật về thị trường tài chính, tín dụng 3.3. Pháp luật về thị trường bất động sản 3.4. Pháp luật về thị trường khoa học – công nghệ 3.5. Pháp luật về thị trường lao động

IV. Pháp luật về các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác V. Pháp luật về hợp đồng VI. Pháp luật về quản lý, điều tiết kinh tế VII. Pháp luật về giải quyết tranh chấp

I. Tổng quan 1.1. Tổng quan về bối cảnh lịch sử và bộ máy chính trị. 1.2. Tổng quan về mô hình kinh tế và hệ thống pháp luật.

II. Pháp luật về chính sách đầu tư, sản xuất, kinh doanh 2.1. Chính sách mở cửa thị trường 2.2. Chính sách thuế 2.2.1. Thuế thu nhập 2.2.2. Thuế đối với hàng hóa và dịch vụ 2.2.3. Các loại thuế và phí khác 2.2.4. Quản lý thuế 2.2.5. Chuyển giá 2.2.6. Ưu đãi thuế

III. Pháp luật về phát triển các loại thị trường 3.1. Pháp luật về thị trường chứng khoán, thị trường ngoại hối 3.1.1. Thị trường chứng khoán 3.1.2. Thị trường ngoại hối 3.2. Pháp luật về thị trường đất đai và bất động sản 3.3. Pháp luật về thị trường lao động 3.3.1. Khung pháp lý 3.3.2. Công đoàn 3.3.3. An sinh xã hội

V. Pháp luật về hợp đồng 5.1. Giao kết hợp đồng 5.2. Điều khoản hợp đồng 5.3. Hợp đồng vô hiệu 5.4. Các chế tài do vi phạm hợp đồng

VI. Pháp luật vê các cơ quan quản lý, kiến nghị, điều tiết kinh tế 6.1. Ngân hàng Trung ương Malaysia (Ngân hàng Negara Malaysia) 6.2. Ủy ban Chứng khoán 6.3. Ủy ban Doanh nghiệp Malaysi 6.4. Ban Thu nhập Nội địa Malaysia 6.5. Ủy ban Thông tin và Truyền thông Malaysia 6.6. Hội đồng Sở hữu trí tuệ Malaysia (MyIPO) 6.7. Hội đồng cạnh tranh

VII. Pháp luật về giải quyết tranh chấp 7.1. Giải quyết tranh chấp tại Tòa án 7.2. Giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp ngoài Tòa án

VIII. Đánh giá chung

I. Tổng quan 1.1. Thực trạng pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga trước năm 1991

II. Pháp luật về sở hữu

III. Pháp luật về các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác 3.1. Pháp luật về phá sản . 3.1.1. Nguồn của pháp luật về phá sản 3.2.1. Đặc điểm của pháp luật phá sản của Cộng hòa Liên bang Nga

IV. Pháp luật về hợp đồng

V. Pháp luật về giải quyết tranh chấp 5.1. Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Nga 5.2. Tòa án tư pháp (Tòa án thẩm quyền chung) 5.3. Tòa án trọng tài 5.4. Tòa án hòa giải 5.5. Các Trung tâm Trọng tài thương mại

I. Khái lược quá trình hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế việt nam (1986 – nay)

Một Số Tình Huống Về Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế

FANCY88 – saga (Sưu tầm)

Nội dung sự việc 1:

Tàu được thuê khứ hồi theo mẫu hợp đồng ASBATANK VOY để chở dầu thô đến cảng đến và nhận dầu fuel để vận chuyển về cảng xuất phát. Trong hợp đồng các bên đã thoả thuận là thời gian bắt đầu làm hàng phải được tính ngay sau khi tàu trao TBSS hợp lệ.

Tại cảng đến, sau khi dỡ xong dầu thô, thuyền trưởng đã trao TBSS vào hồi 10h ngày 29/6 nhưng trong thực tế vào thời gian đó tàu vẫn chưa sẵn sàng xếp hàng vì các tăng chứa dầu vẫn còn chưa được tẩy rửa xong hoàn toàn.

8h 30 ngày 5/7 thuyền trưởng điện báo cho đại lý và người nhận hàng (đồng thời cũng là người phải xếp lô hàng mới) với nội dung sau: “Tàu đã thu gom tất cả những hàng còn sót lại trên tàu, sau khi đã làm vệ sinh tẩy rửa các tăng có thể chứa được 300m¬¬¬3. Sẵn sàng giao tại bờ khi tàu vào cầu để bù vào số lượng đã báo thiếu như đã thoả thuận với các ông khi hoàn thành dỡ hàng”.

Giữa hai bên xảy ra tranh chấp về việc tính thời gian bắt đầu làm hàng. Chủ tàu cho rằng thời gian làm hàng sẽ được tính từ khi trao TBSS còn người thuê không đồng ý vì khi ddó tàu chưa tẩy rưae xong lô hàng cũ. Tranh chấp được đưa ra trọng tài London.

Phán quyết của trọng tài:

– Tàu được coi là sẵn sàng xếp hàng để có thể trao được TBSS hợp lệ khi các tăng chứa dầu đã được tẩy rửa sạch sẽ, nước và cặn dầu thô đã được thu dọn vào các tăng chứa riêng.

– Thuyền trưởng đã trao TBSS vào ngày 29/6. Tuy nhiên, từ thời gian này trở đi, người xếp hàng cũng như đại lý đều biết rằng tàu đang neo đậu và tẩy rửa các tăng chứa dầu trước khi nhận lô hàng mới xếp xuống tàu theo hợp đồng đã dự kiến. Hơn nữa, vào ngày 5/7, thuyền trưởng lại gửi cho đại lý va người xếp hàng (cũng là người đã nhận lô dầu thô tàu dã chở tới trước đó) bức điện như đã trích dẫn ở trên. Với bức điện này, thuyền trưởng đã tự nhận là tàu chưa được tẩy rửa cho tới ngày 5/7.

– Trong thực tế thì tàu chỉ sẵn sàng xếp lô dầu fuel ngay trước khi bức điện ngày 5/7 được gửi đi. Do vậy, TBSS xếp hàng trao ngày 29/6 là không hợp lệ mà bức điện ngày 5/7 mới được coi là TBSS.

Đây là một trường hợp “giấu đầu hở đuôi”. Thuyền trưởng đã trao TBSS vào ngày 29/6 và cố chứng minh là mọi hoạt động chuẩn bị để tàu có thể trao TBSS đã hoàn thành vào chiều tối ngày 28/6. Nhưng đến ngày 5/7 thuyền trưởng lại đánh đi bức điện có nội dung trái ngược hẳn và như vậy chính họ đã tự nhận rằng TBSS trước đó không hợp lệ.

Nội dung sự việc 2:

Tàu NOTOS được thuê chuyến theo mẫu STB để chở dầu từ vịnh Pecxich đi Mohamedia (Maroc). Theo điều 6 của hợp đồng thuê tàu, tàu được phép trao TBSS ngay sau khi đến cảng dỡ, bất luận có cầu hay không có cầu (berth or not berth). Điều 8 nói rõ thêm nếu vì nguyên nhân bất kỳ nào đó ngoài ý muốn của người thuê, tàu không làm hàng được thì thời gian đó không được tính như thời gian chờ cầu.

Ngay sau khi đến cảng dỡ, tàu trao TBSS, nhưng vì đang có bão tố trong khu vực nên tàu không cập cầu dỡ hàng được. Thời kỳ (I) này kéo dài trong suốt 20 ngày.

Sau khi thời tiết cho phép, chiếc cầu chuyên dụng duy nhất của cảng đó lại bị một tàu khác chiếm mất 3 ngày – thời kỳ (II). Sau 3 ngày đó, tàu NOTOS mới chính thức được vào cầu dỡ hàng.

Tiếp theo thời kỳ (III) biển lại động và tàu NOTOS phải rời cầu ra phao chờ mất 5 ngày. Sau đó thời tiết trở lại bình thường, tàu mới vào cầu lại được và dỡ hết hàng.

Thời gian làm hàng vượt quá thời gian cho phép. Chủ tàu đòi người thuê phải trả tiền phạt trên cơ sở tính cả 3 thời kỳ nói trên vào thời gian làm hàng. Ngược lại, người thuê không đồng ý nên vụ việc được đưa ra trọng tài.

Trọng tài đã xem xét mọi tình tiết và kết luận rằng chủ tàu không được tính thời kỳ (I) vào thời gian làm hàng nhưng được tính toàn bộ thời kỳ (II) và 1/2 thời kỳ (III).

Theo luật Anh năm 1975 về trọng tài hàng hải, hai bên tiếp tục kháng án lên toà sơ thẩm. Toà đồng ý với cách xét xử của trọng tài về thời kỳ (I) và (II), nhưng thời kỳ (III) không được tính vào thời gian làm hàng.

Chủ tàu kháng án lên đến toà chung thẩm và tiếp đó lên toà tối cao Hoàng gia. Kháng án của chủ tàu bị bác bỏ và toà tối cao y án của toà sơ thẩm.

Toà án ở cả 3 cấp đều nhất trí trong việc đánh giá hiệu lực của điều khoản 6 và 8 trong hợp đồng thuê tàu. Theo đó, người thuê được miễn trách trong hai thời kỳ (I) và (III), riêng thời kỳ (II) cầu bị tàu khác chiếm, coi như ùn tàu, thời gian chờ được tính vào thời gian làm hàng.Trong vụ tranh chấp trên, người thuê tàu đã gặp 3 tình huống bất lợi dẫn đén 3 thời kỳ không tiến hành việc dỡ hàng được. Dựa trên các điều khoản trong hợp đồng, trọng tài và toà án đã quyết định thời kỳ nào được tính vào thời gian làm hàng, thời kỳ nào không tính. Ngoài 3 tình huống trên (tàu không vào được cầu để dỡ hàng), có trường hợp tàu vào được cầu rồi nhưng do đình công nên cũng không thể xếp hàng được như vụ tranh chấp sau:

Nội dung sự việc 3:

Ngày 4/11/1988, BLACK SWAN ký hợp đồng với người thuê tàu là CASTLE SUPPLY &MARKETING Inc để cho thuê con tàu ALTUS chở dầu thô từ Skikda (Angieria) đi Mỹ. Hợp đồng được ký theo mẫu ASBATANKVOY.

Vào lúc 6 giờ 36 phút ngày 6/11, tàu đã đến và neo ở vùng Skikda nhưng tại thời điểm đó xảy ra một cuộc đình công của đội tàu lai dắt, tất cả các hoạt động ở cảng đều ngừng.

Ngày 9/11, thuyền trưởng tàu ALTUS đã thông báo cho chủ tàu (BLACK SWAN) là trong các cầu cảng, không có đội tàu nào làm hàng và hiện nay có 5 tàu khác đang neo đậu đợi đến lượt vào cầu.

Thuyền trưởng đã trao thông đạt sẵn sàng vào lúc nửa đêm ngày 11/11. Thời gian xếp dỡ bắt đầu tính từ lúc 6.00 giờ ngày 12/11. Vào lúc này, người cung cấp (người bán) đã tuyên bố bất khả kháng với người thuê tàu (người mua) vì đình công.

Đình công chấm dứt lúc 8.00 giờ ngày 14/11. Tàu cuối cùng trong số những tàu vào trước tàu ALTUS đã rời cầu lúc 19.00 giờ ngày 16/11. Nhưng việc vào cầu của tàu ALTUS đã bị chậm trễ đến 7.40 giờ sáng hôm sau, do cảng hạn chế hoạt động vào ban đêm.

Sau khi hoàn thành việc xếp dỡ, người thuê tàu (CASTLE) đã từ chối trả tiền phạt theo hoá đơn thu của chủ tàu. Tại phiên xét xử của trọng tài thì chủ tàu đòi người thuê tàu phải trả tiền phạt 25920 USD. Trên cơ sở tính cả thời gian đình công của đội tàu lai dắt.

Người thuê tàu đã bác bỏ khiếu nại của chủ tàu với lập luận rằng vì có đình công cho nên thời gian chậm trễ do ùn tàu tăng lên cũng không được tính vào. Do vậy, người thuê tàu không bị phạt.

Điều 6 của hợp đồng quy định rằng: khi tàu đến vùng neo quy định tại mỗi cảng…, thuyền trưởng hoặc đại lý của chủ tàu phải thông báo cho người thuê hoặc đại lý của người thuê tàu… là tàu sẵn sàng xếp hàng hoặc dỡ hàng, bất luận có cầu hay không có cầu. Thời gian làm hàng sẽ bắt đầu tính sau 6 giờ kể từ khi người thuê hoặc đại lý của người thuê nhận được thông đạt sẵn sàng hoặc khi tàu đã vào cầu tuỳ theo điều kiện nào xảy ra trước.Tuy nhiên tàu bị chậm vào cầu sau khi trao NOR vì bất kỳ nguyên nhân nào đó ngoài sự kiểm soát cuả người thuê tàu, thì sự chậm trễ đó sẽ không được coi là thời gian làm hàng đã sử dụng. Trong bất kỳ trường hợp nào người thuê tàu sẽ được hưởng 6 giờ sau khi trao NOR tại cảng xếp và dỡ ngay cả trong trường hợp tàu đang bị phạt.

Trong khi đó điều 8 quy định rằng: người thuê tàu phải trả tiền phạt cho toàn bộ thời gian xếp và dỡ nếu vượt quá thời gian làm hàng cho phép. Tuy nhiên, nếu bị phạt do nguyên nhân đình công trong hoặc xung quanh nhà máy của người thuê tàu mức phạt sẽ được giảm đi một nửa. Người thuê tàu sẽ không chịu trách nhiệm về bất kỳ khoản tiền phạt nào vì chậm trễ gây ra bởi đình công, bế xưởng, lãn công của thuyền trưởng, sĩ quan, thuỷ thủ của tàu hoặc tàu lai dắt hoặc các hoa tiêu.

Trọng tài cho rằng: bản thân điều khoản loại trừ đình ccong chỉ được áp dụng khi thời gian làm hàng đã chấm dứt và tàu đang bị phạt. Trọng tài tuyên bố rằng điều 6 quy định thời gian làm hàng ngừng tính vì tàu chậm vào cầu do những nguyên nhân ngoài sự kiểm soát của người thuê sẽ không được áp dụng cho đình công bởi vì không thể ngừng tính thời gian làm hàng khi mà thời hạn cho phép đã hết rồi.

Hội đồng trọng tài cho rằng người thuê tàu không được quyền loại trừ thời gian đình công ra khỏi laytime theo điều khoản 6. Họ chỉ ra rằng việc loại trừ đình công của điều khoản 6 là nhằm bảo vệ quyền lợi của người thuê tàu đối với một số trường hợp không biết và không đoán trước được vào thời gian ký hợp đồng. Trong khi đó theo điều khoản 8 các bên đã đưa ra biện pháp rõ ràng nhằm xử lý tình huống này.

Vấn đề trọng tâm là liệu điều khoản 8 chỉ áp dụng cho khoảng thời gian đình công hay còn có nghĩa là boa gồm cả hậu qủa của cuộc đình công. Hội đông trọng tài đã xác định cụm từ “chậm trễ gây ra bởi đình công” không nên hiểu là bao gồm tất cả những hậu quả của một cuộc đình công, kể cả ùn tàu ở cảng do đình công.

Cách diễn đạt cho dễ hiểu hơn về cuộc đình công qua cụm từ “trong hoặc xung quanh nhà máy” đã không được sử dụng đối với các cuộc đình công của tàu lai dắt.

Hội đồng trọng tài đã công nhận toàn bộ tiền phạt trong khiếu nại của chủ tàu.

Nội dung sự việc 4:

Cuối năm 1994, Tổng công ty VSC Việt Nam nhập của hãng ROY ở Châu Âu 1470 tấn thép góc. Hàng được mua theo điều kiện CIF – INCOTERMS 1990 cảng HP.

Sau khi hợp đồng mua bán bắt đầu có hiệu lực, ROY thuê tàu GAN của hãng tàu CHER ở Châu Âu chở số hàng trên sang Việt Nam. 1470 tấn thép góc được xếp trên 4 sà lan, sau đó 4 sà lan này được bốc lên tàu GAN. Trước khi tàu đến Việt Nam, Tổng công ty VSC đã mở thư tín dụng qua Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (VIETCOMBANK) để thanh toán toàn bộ tiền hàng trong đó ghi rõ chứng từ phải nộp bao gồm cả vận đơn “cước trả trước”.

Khi hàng được bốc lên tàu, dù chưa nhận được tiền cước nhưng chủ tàu vẫn cấp vận có dấu “cước đã trả” cho hãng ROY và hãng này chuyển cho NH để được thanh toán.

Khi tàu đến Hải Phòng, Tổng công ty VSC xuất trình vận đơn cùng các chứng từ hợp lệ khác để nhận hàng thì chủ tàu từ chối giao hàng với lý do là họ chưa nhận được tiền cước mặc dù vận đơn ghi rõ cước đã trả trước. Họ còn cho biết rằng sở dĩ cước chưa thu xong vì người thuê tàu yêu cầu đẩy nhanh tốc độ bốc hàng rồi sẽ trả đủ cước nên chủ tàu đồng ý ghi vào vận đơn là cước đã trả. Sau này qua điều tra chủ tàu cho biết hãng ROY đang trên bờ vực thẳm phá sản, vì vậy họ khó lòng thanh toán cước cho chủ tàu. Xuất phát từ tình hình đó hãng CHER quyết định bắt giữ toàn bộ 1470 tấn thép của VSC tại Hải Phòng và yêu cầu VSC trả toàn bộ tiền cước thì mới nhận được hàng.

Với hành dộng bắt giữ hàng như trên chủ tàu đã mắc phải một sai lầm vì theo thông lệ hàng hải quốc tế, một khi vận đơn đã ghi rõ cước trả trước rồi và đã chuyển giao cho người mua thì chủ tàu không còn quyền nói là cước chưa trả (dù cho trên thực tế chủ tàu có thể chưa thu được cước. Cũng vì thế mà chủ tàu không được phép bắt giữ hàng.

Việc ghi cước đã trả trên vận đơn là việc của chủ tàu à người thuê, còn người nhận hàng không cần biết quan hệ thanh toán đó thực hư ra sao. Điều 94 Bộ luật hàng hải Việt Nam quy định nếu hàng hoá được chuyên chở theo vận đơn thì người nhận hàng chỉ phải thanh toán các chi phí như đã ghi trong vận đơn. Trong trường hợp này, vận đơn nói rõ cước đã trả rồi (freight prepaid) vì vậy VSC không có nghĩa vụ phải trả bất cứ một khoản nào nữa.

Tổng công ty VSC đã nhiều lần thuyết phục CHER trả hàng song họ vẫn khăng khăng từ chối. Ngoài ra VSC còn cử một đoàn cán bộ sang tận trụ sở chủ tàu CHER ở Châu Âu đấu tranh trực tiếp voứi chủ tàu yêu cầu trả ngay 1470 tấn hàng cho mình. Trước những lý luận sắc bến, hợp lý hợp tình của VSC chủ tàu đã xuống thang đồng ý trả hàng trên 3 sà lan song vẫn giữ lại 371 tấn trên sà lan thứ tư và tuyên bố chỉ trả nốt 371 tấn hàng khi nào thu hồi được toàn bộ tiền cước.

Trước tình hình nói trên, với sự giúp đỡ của các chuyên gia luật hàng hải VIAC, VSC đã khởi kiện hãng tàu CHER tại toà án Hải Phòng về việc bắt giữ hàng trái luật. Ngày 14/10/1995, bằng Quyết định số 101/QĐ Toà án Hải Phòng đã ra lệnh cưỡng chế yêu cầu hãng tàu CHER và đại lý của họ tại Việt Nam phải trả hàng cho Tổng công ty VSC. Cho đến nay quyết định nói trên của toà án đã được các bên thi hành nghiêm chỉnh.

Nội dung sự việc 5:

Tàu Fupitar chở 17 ô tô từ Boocđô đến Đácca. Người chuyên chở là DELMAS, người nhận hàng là PAYRISME. Trên vận đơn ghi “kiện để trần”. Khi nhận hàng, cả 17 ô tô bị bẹp và bong sơn. PAYRISME kiện tại toà án. Ngày 1/4/1960, tòa án SEINE xử DELMAS thua phải bồi thường 2109 Fr.

DELMA đã chống án với lý lẽ: chữ thiếu sót của bao bì không có nghĩa là không có hoặc thiếu bao bì; mà theo điều 4 khoản 5 luật 1936 của Pháp thì người chuyên chở được miễn trách về thiếu sót của bao bì. Do đó, DELMAS được miẽn trách.

Chủ hàng là người hiểu biết rõ tính chất của hàng hoá của mình, và khi đã quyết định chở ô tô để trần tức là đã chấp nhận trách nhiệm về những rủi ro xảy ra do ô tô để trần. Câu “kiện để trần” được ghi vào vận đơn tức là người chuyên chở đã đề phòng sự sơ xuất cuả chủ hàng chứ không phải là lỗi của người chuyên chở. Người chủ hàng không chứng minh được lỗi của người chuyên chở thì Carrier được miễn trách.

DELMAS còn viện lẽ rằng câu ghi chú “kiện để trần” trong vận đơn là một nhận xét về thực trạng hàng hoá, có tác dụng về pháp lý và đảo ngược nghĩa vụ chứng minh lỗi. Nghĩa là đáng lý ra tà phải chứng minh không có lỗi, nhưng vì có câu ghi chú đó vào vận đơn, nên chủ hàng phải chứng minh tàu có lỗi.

Theo điều 9 luật năm 1936, thì tất cả những điều khoản nào của vận đơn có ý định giảm nhẹ trách nhiệm cho người chuyên chở hoặc làm đảo ngược nghĩa vụ chứng minh trái với pháp luật, coi như vô giá trị. Như vậy, câu ghi “kiện để trần” trong vận đơn chỉ đơn thuần là một nhận xét rằng hàng không có bao bì mà thôi, nó không có tác dụng làm đảo ngược nghĩa vụ chứng minh.

Toà phúc thẩm y án sơ thẩm, buộc DELMAS bồi thường cho PAYRISME 2109 Fr.

SOURCE: WWW.SAGA.VN

(Khuyến nghị: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền chính sách pháp luật và chủ trương của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Người dùng khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Bảo Đảm An Ninh Mạng Của Một Số Nước Trên Thế Giới

Hệ thống bảo mật an ninh của Mỹ được cho là lâu đời, mạnh mẽ và có hiệu quả nhất trên thế giới. Các đạo luật về bảo mật an ninh mạng yêu cầu các công ty và tổ chức phải bảo vệ hệ thống và thông tin của họ từ các vụ xâm phạm an ninh mạng như: vi-rút, trojan horse (một loại phần mềm ác tính), tấn công giả mạo, truy cập trái phép (nhằm đánh cắp tài sản trí tuệ hoặc thông tin bí mật) và tấn công vào hệ thống kiểm soát.

Chính vì vậy, các đạo luật của liên bang gần đây được ban hành với một số quy định mới về an ninh mạng, đồng thời sửa đổi các quy định cũ đảm bảo cho vấn đề an ninh mạng được an toàn và chặt chẽ hơn, cụ thể: (1) Đạo luật Chia sẻ thông tin an ninh mạng (CISA – Được Thượng viện Mỹ thông qua ngày 27-10-2015) đưa ra các quy định nhằm cải thiện an ninh mạng tại Mỹ thông qua việc chia sẻ thông tin về các mối đe dọa an ninh mạng và cho các mục đích khác. Luật cho phép chia sẻ thông tin trên Internet giữa Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất công nghệ. (2) Đạo luật Tăng cường an ninh mạng năm 2014 quy định mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân trong việc tăng cường nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng đối với vấn đề an ninh mạng. (3) Đạo luật Thông báo vi phạm dữ liệu trao đổi liên bang (Federal Exchange Data Breach Notification Act) năm 2015 yêu cầu trao đổi bảo hiểm y tế để thông báo ngay khi có thể cho từng cá nhân biết khi thông tin cá nhân của họ đã bị thu thập hoặc tiếp cận bởi một hành vi xâm phạm an ninh, trong thời hạn chậm nhất là 60 ngày kể từ ngày phát hiện hành vi xâm phạm. (4) Đạo luật Tăng cường bảo vệ an ninh mạng quốc gia (National Cybersecurity Protection Advancement Act) năm 2015 sửa đổi Đạo luật An ninh nội địa năm 2002 nhằm cho phép Trung tâm tích hợp truyền thông và An ninh không gian mạng Quốc gia của Bộ An ninh Quốc nội Mỹ (NCCIC) kiểm soát thêm các đại diện không thuộc liên bang như các bộ lạc, trung tâm phân tích, chia sẻ thông tin và tư nhân.

Ngoài ra, chính quyền các tiểu bang tại Mỹ cũng thi hành các biện pháp nhằm cải thiện an ninh mạng như tăng cường chế độ hiển thị công khai của các công ty có bảo mật yếu. Năm 2003, California đã thông qua đạo luật Thông báo vi phạm an ninh nhằm quy định các công ty đang giữ thông tin cá nhân của cư dân California khi gặp hành vi xâm phạm an ninh mạng phải tiết lộ chi tiết về vụ việc đó. Quy định các công ty sẽ bị phạt khi không bảo vệ được hệ thống an ninh của mình và để xảy ra vi phạm an ninh mạng, đồng thời cho phép công ty tự lựa chọn phương thức bảo vệ cho hệ thống của mình.

Riêng tại New York, đạo luật An ninh mạng của New York (có hiệu lực từ ngày 01-01-2017) đã xác định ngành dịch vụ tài chính là mục tiêu chủ yếu của các cuộc tấn công an ninh mạng. Cơ quan dịch vụ tài chính của New York thực hiện giám sát sát sao các nguy cơ đe dọa hệ thống tài chính, thông tin quốc gia, tổ chức khủng bố và cá nhân có hành vi phạm tội. Tội phạm an ninh mạng có thể khai thác các lỗ hổng để truy cập đến dữ liệu thông tin nhạy cảm và gây ra những thiệt hại tài chính nặng nề. Các cơ quan, tổ chức hoặc người dân New York có nguy cơ bị tiết lộ hoặc bị đánh cắp thông tin vì mục đích bất hợp pháp. Đạo luật này được đưa ra nhằm thúc đẩy sự bảo vệ thông tin của người dùng và hệ thống công nghệ thông tin của các đối tượng được quy định trong luật. Luật yêu cầu mỗi công ty phải đánh giá những nguy cơ cụ thể của các hồ sơ thông tin và thiết kế chương trình nhằm giải quyết các nguy cơ rủi ro đó. Luật cũng quy định, hàng năm, các cơ sở dịch vụ y tế phải gửi Chứng nhận tuân thủ các quy định về an ninh mạng của cơ quan dịch vụ tài chính New York cho giám sát viên từ ngày 15-02-2017.

Australia là quốc gia có khung văn bản pháp lý tương đối hoàn thiện về an ninh mạng, bao gồm: Đạo luật về tội phạm mạng; đạo luật về thư điện tử rác; đạo luật về viễn thông và đạo luật bảo mật.

– Đạo luật về thư điện tử rác: Đạo luật này được đưa ra bởi Cơ quan Truyền thông và Thông tin Australia, quy định về thư điện tử mang tính thương mại và các loại tin nhắn điện tử khác. Đạo luật giới hạn gửi các loại tin nhắn điện tử mà không được sự cho phép của người nhận trừ một số trường hợp ngoại lệ. Các quy tắc về sự đồng ý, xác nhận của người gửi và tính năng không đăng ký được nêu rõ trong Đạo luật.

– Đạo luật viễn thông: Mục đích của đạo luật này là bảo vệ quyền riêng tư của mỗi cá nhân sử dụng hệ thống viễn thông của Australia và quy định những trường hợp cụ thể cho việc chặn hoặc truy cập thông tin với các thông tin lưu trữ và các thông tin được trao đổi ngay lập tức.

Mới đây, Cục Tình báo Tín hiệu điện tử Australia (ASD) vừa cho ra mắt “Hướng dẫn an ninh mạng” phiên bản mới, được kỳ vọng là sẽ giúp ngăn chặn ít nhất 85% hành vi xâm nhập mạng. Hướng dẫn này đã đề ra 4 biện pháp an ninh mạng lớn giúp làm giảm các hành vi xâm nhập mạng gồm: danh sách trắng các ứng dụng, các bản vá ứng dụng, bản vá hệ điều hành và hạn chế quyền quản lý của người dùng.

Ngoài ra, Australia cũng đã đưa ra Chiến lược an ninh mạng quốc gia và khẳng định rằng an ninh mạng là một phần quan trọng trong chiến lược giúp đảm bảo an ninh và phát triển đất nước, tạo ra một chiến lược nhiều năm trong việc xây dựng năng lực và lực lượng cho lĩnh vực không gian mạng trong tương lai. Mục đích của chiến lược này là giúp Australia trở thành quốc gia kinh doanh trực tuyến an toàn nhất trên thế giới bằng cách: (1) Trở thành quốc gia có hạ tầng mạng “sạch nhất” trên thế giới thông qua tỉ lệ nhiễm phần mềm độc hại thấp nhất; (2) Hình phạt nghiêm khắc nhất cho tội phạm an ninh mạng; (3) Nhiệm vụ giáo dục cho các thành viên hội đồng quản trị và CEO về an ninh mạng; (4) Tối đa gián đoạn các dịch vụ công do các lỗ hổng bảo mật trên mạng; (5) Gia tăng sự tự tin của người dân trong việc sử dụng và phụ thuộc vào các dịch vụ internet.

Gần đây, Chính phủ Nhật Bản đã thông qua kế hoạch đào tạo gần 1.000 chuyên gia an ninh mạng trong 4 năm tới nhằm tăng cường năng lực phòng thủ đối với các cuộc tấn công mạng trong thời gian diễn ra Olympic 2020 tại Tokyo. Kể từ năm 2017, Nhật Bản sẽ cung cấp một khoản hỗ trợ ưu đãi cho các nhân viên, yêu cầu các cơ quan chính phủ đề ra kế hoạch bồi dưỡng về an ninh mạng. Các nhân viên ưu tú nhất sẽ được chuyển đến Trung tâm An ninh mạng Nội các (NISC) và các doanh nghiệp tư nhân, chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động tấn công mạng nhằm vào chính phủ(2).

(Tham khảo Thư viện Quốc hội, Tổng hợp thông tin về an ninh mạng của một số nước trên thế giới, Hà Nội, tháng 10/2017)

(1) Văn phòng Ủy viên Thông tin Australia là cơ quan độc lập của chính phủ Australia và được thành lập để: quảng bá việc truy cập thông tin từ chính quyền, kể cả quyền hạn của cá nhân được truy cập các tài liệu chiếu theo Đạo luật Tự do Thông tin 1982 (FOI Act); tư vấn cho Chính phủ Australia về chính sách thông tin.

(2) Thông tin về tình hình an ninh mạng một số nước của Bộ Công an 2017.

Quyền An Tử Theo Luật Nhân Quyền Quốc Tế, Pháp Luật Ở Một Số Quốc Gia Và Gợi Mở Cho Việt Nam

Quyền an tử theo luật nhân quyền quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam

PGS,TS. VŨ CÔNG GIAO

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

ThS. NGUYỄN MINH TÂM

Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Nhận thức về an tử, quyền an tử

Ngược lại, những tranh luận phản đối an tử cho rằng việc này: (i) làm giảm giá trị cuộc sống của con người; (ii) có thể trở thành một phương tiện dẫn đến hạn chế chi phí chăm sóc sức khỏe cho người bị bệnh nan y; (iii) xung đột với quy tắc chỉ cứu người chứ không tước bỏ tính mạng con người của bác sĩ và nhân viên y tế; (iv) có thể xảy ra hệ quả/xu hướng “trượt dốc” (slippery slope) – tức an tử ban đầu chỉ được coi là hợp pháp cho người bị bệnh nan y, sau đó luật được thay đổi cho phép [an tử] cả trong những trường hợp khác, kể cả khi không có sự tự nguyện.

Nhìn chung, mỗi luồng quan điểm nêu trên đều có những yếu tố hợp lý, và cũng như nhiều vấn đề nhân quyền khác, để đạt được sự đồng thuận tuyệt đối với vấn đề an tử gần như là điều không thể ở mọi xã hội. Quyết định cấm hay hợp pháp hóa an tử là một quá trình cần nhiều thời gian và chịu tác động của nhiều yếu tố như trình độ nhận thức, kinh tế, khoa học kĩ thuật, truyền thống văn hóa,…. Tuy nhiên, xu hướng đang diễn ra trên thế giới là an tử ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận hơn.

2. Quyền an tử theo luật nhân quyền quốc tế

Cần phân biệt an tử với việc tước đi tính mạng của cá nhân mà không vi phạm luật NQQT (không tùy tiện). Nhìn chung, theo pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia, có 3 trường hợp mà tính mạng của cá nhân có thể bị tước đi “hợp pháp”, đó là: (i) hình phạt tử hình; (ii) trong xung đột vũ trang; và (iii) phòng vệ chính đáng. Trong các trường hợp này, mục đích của việc tước đi mạng sống của nạn nhân được coi là “cần thiết” để bảo vệ cá nhân khác, cộng đồng và xã hội; và thuật ngữ “bị tước” cho thấy nó không phụ thuộc vào “ý chí” của nạn nhân. Do đó, quyền an tử (thể hiện ý chí của bệnh nhân, vì mục đích nhân đạo đối với bệnh nhân) hoàn toàn khác biệt với khía cạnh “không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện” của quyền sống.

Bản đồ các quốc gia/vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa an tử và trợ tử[16] Hà Lan[17]:

Đạo luật [thủ tục xem xét] Chấm dứt cuộc sống theo yêu cầu và trợ tử (Termination of Life on Request and Assisted Suicide [Review Procedures] Act) năm 2001 có hiệu lực vào ngày 01/4/2002. Đạo luật này hợp pháp hóa an tử và trợ tử trong những trường hợp và hoàn cảnh rất đặc biệt và phải thỏa mãn các điều kiện sau: (i) nỗi đau của bệnh nhân là không thể chịu đựng được và không có triển vọng cải thiện; (ii) yêu cầu an tử của bệnh nhân phải tự nguyện (không chịu ảnh hưởng của người khác, tâm lý bệnh tật hoặc của thuốc) và kiên trì theo thời gian; (iii) bệnh nhân phải nhận thức được đầy đủ về tình trạng của mình, triển vọng và các lựa chọn; (iv) phải có sự tham vấn với ít nhất một bác sĩ độc lập khác là người mà cần xác nhận các điều kiện nêu trên; (v) cái chết phải được thực hiện theo cách phù hợp về mặt y tế bởi bác sĩ hoặc bệnh nhân và bác sĩ phải có mặt; (vi) bệnh nhân ít nhất 12 tuổi (bệnh nhân từ 12 đến 16 tuổi đòi hỏi có sự chấp thuận của cha mẹ).

Về số lượng các trường hợp đã thực hiện an tử ở Hà Lan, theo nguồn số liệu thống kê cho thấy, trong khoảng thời gian 07 năm, con số đã tăng lên gấp gần 2,5 lần và dự đoán xu hướng sẽ tiếp tục tăng, thể hiện qua biểu đồ sau:

Số lượng các trường hợp đã thực hiện an tử ở Hà Lan (2006-2013)[18]

Bỉ:

Đạo luật về An tử của Bỉ (The Belgian Act on Euthanasia) được thông qua vào ngày 28/5/2002 và được sửa đổi bởi Luật ngày 13/02/2014, trong đó có một số nội dung đáng chú ý sau [19] : bác sĩ thực hiện an tử không phạm tội hình sự khi họ đảm bảo rằng: (i) bệnh nhân là một người trưởng thành có năng lực pháp lý, trẻ vị thành niên sống tự lập (emancipated minor) có năng lực pháp lý, hoặc trẻ vị thành niên có năng lực về nhận thức và ý thức tại thời điểm đưa ra yêu cầu; (ii) yêu cầu là tự nguyện, được xem xét thận trọng và được lặp lại và không là kết quả của bất kỳ áp lực bên ngoài nào; (iii) bệnh nhân là người trưởng thành hoặc trẻ vị thành niên sống tự lập ở trong tình trạng y tế vô vọng không thay đổi, và đau khổ thể xác hoặc tinh thần không chịu đựng nổi mà không thể giảm bớt, và là kết quả từ một rối loạn nghiêm trọng và không thể cứu chữa gây ra bởi bệnh tật hoặc tai nạn; (iv) trẻ vị thành niên có năng lực nhận thức ở trong tình trạng y tế vô vọng không thay đổi và đau khổ thể xác không chịu đựng nổi mà không thể giảm bớt và sẽ gây ra cái chết trong thời gian ngắn, và là kết quả từ một rối loạn nghiêm trọng và không thể cứu chữa gây ra bởi bệnh tật hoặc tai nạn.

Đạo luật này cũng yêu cầu quá trình đưa ra yêu cầu của bệnh nhân cần có sự tham vấn của một bác sĩ khác là bác sĩ tâm thần hoặc một chuyên gia; với trẻ vị thành niên sống tự lập cần tham vấn một bác sĩ tâm thần trẻ em hoặc một nhà tâm lý học và thông báo về lý do được tham vấn. Mọi yêu cầu phải được đưa ra bằng văn bản, và với bệnh nhân là trẻ vị thành niên sẽ cần sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.

Về số lượng các trường hợp an tử đã thực hiện ở Bỉ, theo thống kê sau 10 năm Đạo luật có hiệu lực, con số luôn có chiều hướng tăng (xem biểu đồ). Trong 02 năm tiếp theo (2012 và 2013), con số lần lượt là 1.432 và 1.816 trường hợp [20]

Số lượng các trường hợp đã thực hiện an tử ở Bỉ (2002-2011)[21]

Ở Mỹ, Chính phủ Liên bang và tất cả 50 bang và Quận Columbia đều nghiêm cấm an tử theo luật về tội giết người nói chung. Chính phủ Liên bang không có luật về trợ tử mà những luật này thường chỉ được sử dụng ở cấp bang. Hiện tại, có 03 bang là Oregon, Vermont và Washington thông qua luật hợp pháp hóa trợ tử; 01 bang là Montana hợp pháp hóa trợ tử qua phán quyết của Tòa án Tối cao (của bang). Điểm chung là bệnh nhân phải cư trú trên lãnh thổ của các bang và phải thỏa mãn các điều kiện: (i) độ tuổi tối thiểu của bệnh nhân là 18; (ii) bệnh nhân có khả năng thực hiện và truyền đạt các quyết định chăm sóc y tế cho mình; (iii) thời gian dự kiến cái chết sẽ xảy ra trong 06 tháng hoặc ít hơn; (iv) yêu cầu được thực hiện 02 lần bằng miệng (cách nhau ít nhất 15 ngày) và 01 lần bằng văn bản.

Số lượng các trường hợp trợ tử ở Oregon (1998-2014)[23] Số lượng các trường hợp trợ tử ở Washington (2009-2013)[24]

Qua các biểu đồ trên cho thấy, tỷ lệ số bệnh nhân thực hiện cái chết/được kê đơn ở Oregon (trong 17 năm) dao động trong khoảng từ 55% đến 70% và xu hướng thực hiện cái chết là tăng nhẹ. Ở Washington, tỷ lệ này là cao hơn (từ 92% đến 99%) và xu hướng tăng cũng rõ hơn.

Thụy Sỹ[25]:

Ở Thụy Sỹ, không có luật về an tử hay trợ tử. Mọi dạng an tử chủ động đều bị cấm, và luật chỉ cho phép trợ tử. Sự cho phép này được suy ra từ Điều 115 Bộ luật Hình sự của Thụy Sỹ (có hiệu lực từ năm 1942), trong đó quy định rằng: “Xúi giục và hỗ trợ tự tử: Bất kỳ người nào vì động cơ ích kỷ xúi giục hoặc trợ giúp người khác thực hiện hoặc cố gắng thực hiện tự tử mà sau đó người này thực hiện hoặc cố gắng thực hiện tự tử thì sẽ phải chịu án tù không quá 05 năm hoặc bị phạt tiền”. Như vậy, trợ tử chỉ bị coi là tội phạm khi động cơ thực hiện là “ích kỷ” (ví dụ: thu lợi cá nhân).

Về số lượng các trường hợp thực hiện trợ tử ở Thụy Sỹ, số liệu thống kê cho thấy một xu hướng tăng mạnh; và có một điểm đáng chú ý đó là do luật của Thụy Sỹ về trợ tử là không rõ ràng, do đó, ngày càng có nhiều du khách đến quốc gia này chỉ với mục là để kết thúc cuộc sống của mình (tự tử), chiếm từ 25% đến 30% số trường hợp được hỗ trợ tự tử mỗi năm (tính từ năm 2008 đến năm 2012) [26]

Số lượng các trường hợp trợ tử ở Thụy Sỹ (1998-2010)[27]

4. Những gợi mở với Việt Nam

Về vấn đề trên, có tác giả đã nêu ra 05 điều kiện để một quốc gia có thể ban hành Luật về An tử, đó là [30] : (i) số lượng bệnh nhân giai đoạn cuối, mắc bệnh vô phương cứu chữa xin được chết lớn; giới bác sỹ tồn tại nhiều bức xúc về vấn đề này; (ii) quốc gia có hệ thống pháp luật chặt chẽ, đồng bộ, nghiêm minh; kỹ thuật lập pháp của quốc gia đó đủ để có thể xây dựng luật ít bị lạm dụng nhất; (iii) người dân quốc gia đó có ý thức tuân thủ pháp luật cao; (iv) tại thời điểm muốn ban hành Luật về An tử không có quá nhiều người của quốc gia đó phản đối (thông qua thăm dò dư luận); (v) quyền an tử cần được ghi nhận trong các đạo luật gốc với tư cách là quyền nhân thân, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng luật chuyên ngành (Luật về An tử).

Đối chiếu với các điều kiện trên, Việt Nam có lẽ chỉ mới thỏa mãn điều kiện thứ nhất về nhu cầu xã hội [31] , nhưng hiện vẫn chưa có những cuộc điều tra và số liệu thống kê cụ thể. Các điều kiện còn lại Việt Nam hầu như chưa đáp ứng được. Nói cách khác, để luật hóa quyền an tử ở Việt Nam, cần có thêm những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này.

Như vậy, với cách tiếp cận khoa học và thận trọng thì thời điểm hiện nay chưa thực sự phù hợp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là không có khả năng hợp pháp hóa quyền an tử ở Việt Nam. Như đã trình bày ở trên, xu hướng cho thấy an tử đang ngày càng được nhiều quốc gia thừa nhận hơn, trong khi cũng như ở các nước khác, nhu cầu về an tử ở Việt Nam là có thật. Bởi vậy, có thể trong một vài năm tới, an tử lại tiếp tục được đặt ra như một vấn đề xã hội bức xúc, từ đó dẫn tới việc luật hóa quyền an tử ở Việt Nam. Để chuẩn bị cho bối cảnh ấy, việc cần làm hiện nay là tiếp tục nghiên cứu sâu về vấn đề an tử, cả trên phương diện luật học, xã hội học, tâm lý học và đạo đức. Thêm vào đó, cần phổ biến thông tin cho công chúng và nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia đã và chuẩn bị hợp pháp hóa an tử./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thể Chế Pháp Luật Kinh Tế Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!