Đề Xuất 1/2023 # Tăng Cường Xử Lý Văn Bản, Hồ Sơ Công Việc Trên Môi Trường Mạng # Top 6 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Tăng Cường Xử Lý Văn Bản, Hồ Sơ Công Việc Trên Môi Trường Mạng # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tăng Cường Xử Lý Văn Bản, Hồ Sơ Công Việc Trên Môi Trường Mạng mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Chinhphu.vn) – Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường xử lý văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng.

                                                                        

Để tăng cường xử lý văn bản, hồ sơ công việc (trừ hệ mật) trên môi trường mạng bảo đảm an toàn thông tin, tránh lộ lọt dữ liệu của các bộ, ngành, địa phương, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chuẩn hóa, điện tử hóa quy trình tiếp nhận, xử lý, phát hành, quản lý văn bản và xử lý công việc của cơ quan; lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ phù hợp thực hiện nâng cấp, hoàn thiện hệ thống quản lý văn bản và điều hành, tích hợp giải pháp dịch vụ ký số cá nhân, tổ chức của Ban Cơ yếu Chính phủ (Bộ Quốc phòng) bảo đảm xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng hướng tới mục tiêu bộ, ngành, địa phương “không giấy tờ”.

Đồng thời khẩn trương rà soát, đăng ký nhu cầu sử dụng chứng thư số cho cơ quan, tổ chức, cá nhân là lãnh đạo cấp vụ, cục, sở và tương đương trở lên gửi Ban Cơ yếu Chính phủ (Bộ Quốc phòng) để cấp phát chứng thư số phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử, xử lý công việc trên môi trường mạng tại Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 23/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ.

Các bộ, ngành, địa phươg chủ trì, phối hợp với Ban Cơ yếu Chính phủ (Bộ Quốc phòng) để triển khai các giải pháp bảo mật, tích hợp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành và trên thiết bị di động phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử bảo đảm bảo mật và an toàn thông tin.

Bố trí đầy đủ thiết bị, giải pháp để triển khai phương án bảo đảm an toàn thông tin phù hợp với cấp độ an toàn của Hệ thống quản lý văn bản và điều hành theo quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ, Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 03/2017/TT-BTTTT ngày 24/4/2017, công văn số 3001/BTTTT-CATTT ngày 06/9/2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc hướng dẫn bảo đảm an toàn thông tin cho Hệ thống quản lý văn bản và điều hành của cơ quan, tổ chức nhà nước và các trách nhiệm nếu để lộ lọt thông tin trong quá trình gửi, nhận văn bản điện tử, xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; chủ trì, phối hợp thường xuyên kiểm tra, đánh giá an ninh mạng, an toàn thông tin hệ thống quản lý văn bản và điều hành.

Các bộ, ngành, địa phương ưu tiên bố trí kinh phí hoàn thành việc nâng cấp hệ thống quản lý văn bản và điều hành phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử và xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng trước ngày 30/6/2020 theo quy định tại Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ.

Các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gương mẫu trong sử dụng chữ ký số cá nhân phê duyệt các hồ sơ, văn bản điện tử và xử lý công việc trên môi trường mạng.

Văn phòng Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc tại Văn phòng Chính phủ bảo đảm việc gửi, nhận văn bản điện tử theo quy định tại Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ; chia sẻ kinh nghiệm tổ chức, triển khai với các bộ, ngành, địa phương có yêu cầu. Phối hợp với nhà cung cấp dịch vụ và các thông suốt, ổn định của Trục liên thông văn bản quốc gia, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ theo quy định tại Nghị định số 85/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ.

Bộ Nội vụ trong tháng 9/2019, trình Chính phủ ban hành Nghị định thay thế Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 về công tác văn thư để bảo đảm hành lang pháp lý cho việc gửi, nhận, xử lý và lưu trữ văn bản điện tử trên môi trường mạng theo nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 của Chính phủ.

Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ giá an toàn thông tin hệ thống Trục liên thông văn bản quốc gia. Điều phối huy động ứng phó, khắc phục sự cố an toàn thông tin mạng trên Trục liên thông văn bản quốc gia, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ; kiểm soát quá trình vận hành, bảo đảm đường truyền Mạng Truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước hoạt động thông suốt, ổn định đáp ứng yêu cầu gửi, nhận văn bản điện tử theo quy định tại Quyết định số 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc công tác bảo đảm an toàn thông tin cho Hệ thống quản lý văn bản và điều hành của bộ, ngành, địa phương theo quy định của pháp luật.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và ninh mạng, thường xuyên kiểm tra, giám sát an ninh mạng; kiểm tra an ninh, an toàn thông tin các thiết bị công nghệ thông tin, điện – điện tử trước khi đưa vào sử dụng; ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với Trục liên thông văn bản quốc gia, Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ.

Ban Cơ yếu Chính phủ (Bộ Quốc phòng) chủ trì, phối hợp các bộ, ngành, địa phương triển khai cấp phát đầy đủ chứng thư số theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 23/01/2019 và triển các giải pháp mã hóa dữ liệu, tích hợp dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng Chính phủ trên hệ thống quản lý văn bản và điều hành, thiết bị di động phục vụ gửi, nhận văn bản điện tử trên Trục liên thông văn bản quốc gia bảo đảm bảo mật và an toàn thông tin.

Việt Nam Tăng Cường Pháp Luật Về Bảo Vệ Trẻ Em Trên Môi Trường Mạng

Ngoài những đóng góp mang lại cho nền kinh tế xã hội của Việt Nam, sự phát triển của Internet trong thời gian qua đã và đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội cấp thiết, trong đó có bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Lễ Ký kết hợp tác trong công tác bảo vệ trẻ em trên không gian mạng giữa Cục An toàn thông tin (Bộ TT & TT ) và Cục Trẻ em (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội).

Ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục An toàn thông tin, chia sẻ: “Trong bối cảnh thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bước vào thời đại chuyển đổi số rộng khắp, trẻ em đã trở thành công dân số từ rất sớm, sống trên môi trường mạng nhiều giờ/1 ngày, thay đổi hoàn toàn cách các em học tập, kết bạn, giao tiếp so với thế hệ cha anh”.

Do đó, theo ông Phúc, trong bối cảnh đó đòi hỏi chúng ta phải chung tay xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn cho người dân nói chung và trẻ em nói riêng; Bảo vệ, hỗ trợ trẻ em trên môi trường mạng mạng; Trang bị cho trẻ em kiến thức, kỹ năng sống an toàn trên môi trường mạng.

Ông Phúc cho hay, một trong những nội dung quan trọng của hợp tác này là nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; sửa đổi, bổ sung, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng hiệu quả và chế tài xử lý nghiêm minh hơn các loại tội phạm xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực và chính phủ các quốc gia đã và đang đưa ra những quy định, khuyến nghị, hướng dẫn, các biện pháp để toàn xã hội cùng chung tay trong bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trên không gian mạng.

Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Luật Trẻ em, Luật An ninh an toàn, an ninh mạng, Luật an ninh mạng và các văn bản hướng dẫn đã đưa ra một số quy phạm pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng); Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ trong đó có giao Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm “Chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về bảo vệ thông tin cá nhân, hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên không gian mạng.”

Mục tiêu chính của kế hoạch phối hợp nhằm ghi nhận và thực hiện những cam kết được thống nhất giữa hai bên trên cơ sở khai thác thế mạnh của mỗi bên; Tăng cường phối hợp chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Theo kế hoạch, Cục An toàn thông tin và Cục trẻ em tập trung khảo sát, đánh giá tác động của môi trường mạng; Triển khai xây dựng, hướng dẫn về bộ tiêu chí bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

Xây dựng mạng lưới bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, để kết nối các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cùng hoạt động vì trẻ em. Tạo thành quy trình hài hòa để phòng ngừa, phát hiện, can thiệp, xử lý các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng. Thông qua mạng lưới này, trẻ em sẽ dễ dàng lên tiếng, tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ, được bảo vệ an toàn khi bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại trên môi trường mạng, tương tự quy trình hỗ trợ, can thiệp trẻ em có nguy cơ hoặc bị xâm hại trong đời thực. Đồng thời, các công cụ, phương tiện để bảo vệ và hỗ trợ trẻ em, các công cụ giáo dục trẻ em tương tác tích cực, sáng tạo trên môi trường mạng cũng sẽ được xây dựng với nhiều hình thức truyền tải như: các video, clip, app….

Nâng cao hiểu biết về kiến thức, kỹ năng sử dụng mạng internet an toàn để trẻ em tự bảo vệ mình, kịp thời tố giác hành vi xâm hại trên môi trường mạng.

Hiện nay Việt Nam đã có Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em số

111 và App Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em, các tài liệu trực tuyến giáo dục nhằm nâng cao kỹ năng cho trẻ em, xây dựng các tiêu chí bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng cũng sẽ được phát triển và đăng tải trên nền tảng trực tuyến.

Các báo cáo nghiên cứu, triển khai đánh giá tác động của môi trường mạng sẽ được xây dựng và hình thành cơ sở dữ liệu phân loại theo độ tuổi.

Đây là lần đầu tiên có sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thông tin trên không gian mạng với cơ quan quản lý nhà nước về bảo đảm quyền trẻ em. Sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh của áp dụng công nghệ tiên tiến với kiến thức, kinh nghiệm về bảo vệ trẻ em hi vọng sẽ tạo nên một bước tiến mới để trẻ em Việt Nam được bảo vệ an toàn và phát triển lành mạnh trên môi trường mạng, hạn chế tối đa tác động tiêu cực từ môi trường mạng. Bản kế hoạch phối hợp thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cơ quan quản lý, kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước sẵn sàng cùng đồng hành để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng theo quy định của pháp luật về quyền trẻ em và về an ninh mạng, trong bối cảnh xu hướng xâm hại trẻ em trên không gian mạng ngày càng diễn biến tinh vi và phức tạp.

Cục Trẻ em thuộc Bộ LDTBXH và Cục An toàn thông tin thuộc Bộ TTTT thống nhất ký kết Bản ghi nhớ hợp tác ngày hôm nay, tập trung vào 07 nội dung cơ bản:

1. Nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; sửa đổi, bổ sung, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng hiệu quả và chế tài xử lý nghiêm minh hơn các loại tội phạm xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

2. Xây dựng mạng lưới bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

3. Xây dựng công cụ, phương tiện để bảo vệ và hỗ trợ trẻ em, giáo dục tích cực trên môi trường mạng.

4. Nâng cao hiểu biết cho trẻ em về kiến thức, kỹ năng sử dụng mạng bổ ích, an toàn, kỹ năng tự bảo vệ mình trên môi trường mạng và lên tiếng thông tin, thông báo, tố giác hành vi, vụ việc xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

6. Triển khai xây dựng, hướng dẫn về bộ tiêu chí bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

7. Thí điểm hệ sinh thái thúc đẩy các tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào xây dựng nội dung lành mạnh cho trẻ em trên môi trường mạng.

Minh Anh

Nghị Quyết Của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Về Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Trên Địa Bàn Tỉnh

Ngày 22-12-2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 15-NQ/TU về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Nội dung như sau:

I. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1. Hiện trạng môi trường

Theo số liệu đánh giá từ năm 2008 đến nay của các cơ quan chuyên môn, hiện trạng môi trường tỉnh Nam Định như sau:

Chất lượng nước trên các tuyến sông lớn như sông Hồng, sông Ninh Cơ, sông Đào nhìn chung tương đối tốt, song tại một số điểm tiếp nhận nước thải của Thành phố Nam Định và từ các nhánh sông trong khu dân cư nông thôn, cụm công nghiệp, làng nghề có nhiều thông số không đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phép. Chất lượng nước sông ngòi kênh, mương nội đồng có diễn biến xấu; dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt tiêu chuẩn, quy chuẩn trong thời kỳ phun thuốc. Nước mặt khu vực làng nghề, cụm công nghiệp đang trong tình trạng báo động; nước mặt tại các khu dân cư nông thôn đang có diễn biến phức tạp, theo chiều hướng xấu. Chất lượng nước ngầm có dấu hiệu ô nhiễm ở phía bắc tỉnh. Phần lớn các cụm, khu công nghiệp chưa có trạm xử lý nước thải tập trung.

Môi trường không khí nhìn chung chưa bị ô nhiễm, chất lượng không khí tương đối tốt. Song cá biệt môi trường không khí tại các làng nghề như Bình Yên, xã Nam Thanh; Vân Chàng, Thị trấn Nam Giang; Tống Xá, xã Yên Xá có những thông số vượt tiêu chuẩn cho phép tại thời điểm quan trắc. Ô nhiễm bụi, tiếng ồn thường xuyên xảy ra tại các nút giao thông, tại các tuyến đường đang trong giai đoạn cải tạo, nâng cấp mở rộng.

Môi trường đất khu vực trồng trọt chất lượng suy giảm do sử dụng phân hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật. Môi trường đất khu vực làng nghề, khu cụm công nghiệp ô nhiễm kim loại nặng ngày một gia tăng ảnh hưởng xấu tới môi trường.

2. Kết quả công tác bảo vệ môi trường thời gian qua

Những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền và cả hệ thống chính trị của tỉnh Nam Định đã vận dụng, cụ thể hóa Nghị quyết của Trung ương và Tỉnh ủy, nhất là Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số 29 ngày 21-01-2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 34-CT/TU ngày 28-4-2005 của Tỉnh ủy về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết 41-NQ/TW để triển khai sâu rộng, phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương, từng bước tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường, thu được những kết quả tích cực:

Công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường đã được quan tâm hơn. Đã xây dựng được mạng lưới báo cáo viên về công tác môi trường trong các tổ chức đoàn thể; nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường đã có chuyển biến tích cực hơn. Tổ chức bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường từ tỉnh tới xã từng bước đã được kiện toàn kể cả về chức năng nhiệm vụ và về biên chế. Đã thực hiện chi trên 1% tổng chi ngân sách hàng năm cho hoạt động sự nghiệp về bảo vệ môi trường. Công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; xác nhận bản cam kết đạt tiêu chuẩn môi trường, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường đã được quan tâm và tăng cường. Việc quan trắc giám sát, cảnh báo môi trường được thực hiện định kỳ, nền nếp. Việc thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại khu đô thị và khu dân cư; chất thải công nghiệp nguy hại, y tế đã thu được những kết quả tích cực (khu vực Thành phố Nam Định thu gom, xử lý đạt 95%; tại 9 huyện có 168/204 xã, thị trấn có hoạt động thu gom rác thải. Đã hỗ trợ cho 74 xã, thị trấn đầu tư xây dựng khu chôn lấp, xử lý rác thải hợp vệ sinh; tỷ lệ thu gom đạt 60%; chất thải y tế nguy hại được xử lý đạt 50%; chất thải công nghiệp nguy hại đã xử lý 10%). Xây dựng 4 nhà máy xử lý nước thải công nghiệp cho KCN Hòa Xá và 3 CCN Xuân Tiến, Yên Xá và An Xá. Hệ thống trạm bơm, kênh mương tiêu thoát nước tại khu vực đô thị, khu vực nông thôn từng bước được đầu tư xây dựng theo quy hoạch, kiên cố hóa và nạo vét, khơi thông dòng chảy đảm bảo việc tiêu thoát nước đô thị và nông thôn. Đã có một số mô hình tốt về bảo vệ môi trường tại các khu dân cư và cơ sở sản xuất kinh doanh.

3. Những tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại: Nhận thức, ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận nhân dân, doanh nghiệp còn thấp; nước thải tập trung tại Thành phố Nam Định còn chưa được xử lý. Môi trường làng nghề, môi trường khu vực nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc, chưa được giải quyết tốt như: việc thu gom, xử lý rác thải nguy hại, việc xả nước thải sản xuất chưa được xử lý, khai thác cạn kiệt nguồn nước… Bộ máy làm công tác quản lý về môi trường chưa đáp ứng cả về số lượng và chuyên môn. Trang thiết bị phục vụ cho công tác giám sát quản lý môi trường còn rất thiếu. Việc phân công và thực hiện chức năng nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các sở, ban, ngành chưa phù hợp. Tình trạng biến đổi khí hậu đang có những tác động tiêu cực do nước biển dâng, xâm nhập mặn, thời tiết diễn biến bất thường, chưa có các giải pháp khắc phục một cách chủ động, hiệu quả.

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐẾN NĂM 2020

A. Quan điểm

Công tác bảo vệ môi trường là một trong những yếu tố quyết định đối với phát triển kinh tế – xã hội hiệu quả, bền vững và bảo vệ, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và nguồn nhân lực. Vì vậy các cấp, các ngành, toàn bộ hệ thống chính trị phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số 29 ngày 21-1-2009 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

B. Mục tiêu

1. Mục tiêu chung

Phát triển kinh tế – xã hội gắn kết với việc coi trọng và thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững, từng bước thực hiện việc xử lý và phục hồi môi trường, xây dựng Nam Định trở thành tỉnh công nghiệp có môi trường cảnh quan, tự nhiên tốt, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.

2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2015

a, Hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm

– 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường.

– 100% doanh nghiệp có dụng cụ phân loại rác thải tại nguồn.

– Triển khai xây dựng Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại Thành phố Nam Định.

– Hoàn thành việc xây dựng Nhà máy xử lý nước thải tập trung của các KCN Mỹ Trung và Bảo Minh.

– Đến năm 2013, trên địa bàn toàn tỉnh 100% các CCN phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

– Xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung tại 5 CCN.

– 100% các khu, CCN xây dựng mới đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường.

– Đầu tư xây dựng mới 60 bãi chôn lấp, xử lý rác thải quy mô cấp xã tại 9 huyện.

– Thu gom 90% chất thải công nghiệp và dịch vụ, xử lý trên 60% chất thải nguy hại và 100% chất thải bệnh viện.

– Thực hiện các nội dung để đưa Bệnh các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22-4-2003 của Thủ tướng Chính phủ.

Hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải của 7 bệnh viện.

b. Cải thiện chất lượng môi trường

– 97% dân số đô thị và 90% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

– Hoàn thành việc xử lý hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu tại 2 điểm thôn Vạn Diệp, xã Nam Phong, Thành phố Nam Định và xã Hoành Sơn, huyện Giao Thuỷ.

– 90% các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao động và có cây xanh trong khuôn viên thuộc khu vực sản xuất.

3. Mục tiêu định hướng lớn đến năm 2020

– Hoàn thành Nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung của Thành phố Nam Định.

các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22-4-2003 của Thủ tướng Chính phủ đối với Tổng Cty CP Dệt may Nam Định.

– 100% các khu, CCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

– 100% các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa cấp tỉnh, huyện có hệ thống xử lý rác thải y tế nguy hại, nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.

– 100% các xã, thị trấn ở 9 huyện có bãi chôn lấp, xử lý rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh quy mô cấp xã. Xây dựng hoàn thành 5 khu xử lý chất thải rắn cấp vùng theo quy hoạch xử lý chất thải rắn vùng tỉnh Nam Định.

– 100% dân số đô thị và 95% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

– Diện tích trồng rừng tập trung đến 2020 đạt 5.700ha và diện tích rừng được tăng dần trong các năm tiếp theo.

C. Nhiệm vụ

1. Đối với vùng đô thị và vùng ven đô thị

– Trong quy hoạch xây dựng và chỉnh trang đô thị cần phải có quy hoạch và xây dựng đồng bộ hệ thống thu gom nước mưa, nước thải sinh hoạt, triển khai xây dựng nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung khu vực Thành phố Nam Định trước năm 2015 và hoàn thành trước năm 2020. Bố trí hợp lý diện tích đất cho cảnh quan môi trường.

– Hoàn thành việc đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải y tế tập trung của Bệnh viện Phụ sản Nam Định, Bệnh viện Tâm thần, Y học cổ truyền, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Nam Định, Bệnh viện Lao và bệnh phổi trước năm 2015; đối với Bệnh viện Mắt, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Nam Định, Bệnh viện Nhi hoàn thành trước năm 2020.

– Tiếp tục quy hoạch xây dựng khu xử lý rác thải của Thành phố Nam Định theo hướng tăng tỷ lệ tái chế, tái sử dụng; từng bước thực hiện phân loại rác tại nguồn.

– Kịp thời phát hiện và xử lý triệt để, kiên quyết các cơ sở gây ô nhiễm môi trường; từng bước di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư.

– Giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, bảo đảm các điều kiện về nơi vệ sinh, phương tiện đựng rác ở những nơi công cộng, đông người qua lại.

– Tăng cường trồng cây xanh dọc các tuyến phố, công viên; hình thành các thảm cây xanh trong đô thị và vành đai xanh xung quanh đô thị.

2. Đối với vùng nông thôn

– Xây dựng hoàn thành trạm xử lý nước thải y tế tập trung của 2 bệnh viện Đa khoa Nghĩa Hưng, Ý Yên trước năm 2015; 8 bệnh viện đa khoa tuyến huyện còn lại hoàn thành trước năm 2020.

– Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản nông sản, thức ăn và thuốc phòng trừ dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản, thu gom và xử lý hợp vệ sinh đối với các loại bao bì chứa đựng hóa chất sau khi sử dụng; xử lý triệt để các điểm ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên địa bàn tỉnh.

– Về chất thải chăn nuôi, đến năm 2015, có 75% trang trại, gia trại; đến năm 2020 có 90% trang trại, gia trại có lắp đặt hầm bioga để xử lý chất thải.

– Quy hoạch và xây dựng các khu xử lý rác thải sinh hoạt nông thôn. Trước mắt đầu tư xây dựng khu xử lý chôn lấp rác thải sinh hoạt quy mô thôn, xã, tiến tới xây dựng khu xử lý chất thải sinh hoạt quy mô cấp vùng theo quy hoạch quản lý chất thải rắn vùng tỉnh. Triển khai áp dụng nhiều phương pháp xử lý, tận dụng rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch.

– Thực hiện việc nạo vét, khơi thông dòng chảy hệ thống cống rãnh, sông ngòi tưới tiêu khu vực nông thôn.

– Đảm bảo cung cấp nước sạch sinh hoạt cho nhân dân; bảo vệ chất lượng các nguồn nước, đặc biệt chú ý khắc phục tình trạng khai thác, sử dụng bừa bãi, gây cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm.

– Xây dựng nếp sống hợp vệ sinh gắn với việc khôi phục phong trào xây dựng “ba công trình vệ sinh” của từng hộ gia đình phù hợp với tình hình thực tế.

– Quy hoạch xây dựng các cụm, điểm dân cư nông thôn phải hết sức coi trọng ngay từ đầu nội dung về đảm bảo môi trường như đảm bảo cung cấp nước, thoát nước, thu gom xử lý rác thải…

3. Đối với khu, cụm, điểm công nghiệp, làng nghề

– Khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề, các khu, cụm, điểm công nghiệp, các cơ sở công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp.

– Xây dựng hoàn thành nhà máy xử lý nước thải công nghiệp tập trung đối với KCN Mỹ Trung và Bảo Minh và 5 CCN (Nghĩa Sơn – huyện Nghĩa Hưng; Đồng Côi, Nam Giang, Nam Hồng huyện Nam Trực; Quang Trung – huyện Vụ Bản; Huyện lỵ Xuân Trường – Thị trấn Xuân Trường) trước năm 2015. Đối với 12 CCN còn lại hoàn thành trước năm 2020. Các khu, CCN xây dựng mới đều phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường.

D. Giải pháp

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền

– Các cấp ủy, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể, các cơ quan chức năng của tỉnh thường xuyên tổ chức và tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí, tầm quan trọng sự cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường.

– Xây dựng tiêu chí về môi trường trong quá trình bình xét thi đua, bình xét khu dân cư, cơ quan, gia đình văn hóa.

– Khôi phục và phát huy truyền thống yêu thiên nhiên, nếp sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên.

2. Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường

– Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực, bảo đảm thực hiện hiệu quả công tác quản lý về bảo vệ môi trường từ tỉnh đến cơ sở. Xác định rõ trách nhiệm và phân công, phân cấp hợp lý nhiệm vụ bảo vệ môi trường giữa các ngành, các cấp. Xây dựng và phát triển các cơ chế giải quyết vấn đề môi trường liên ngành, liên vùng. Chú trọng xây dựng năng lực ứng phó sự cố môi trường.

– Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

– Thực hiện công tác quan trắc, giám sát môi trường thường xuyên, đảm bảo luôn cập nhật, nắm chắc tình hình về môi trường trên địa bàn.

3. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường

– Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác về bảo vệ môi trường.

– Chú trọng xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ môi trường và các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư.

– Phát triển các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường. Đề cao trách nhiệm, tăng cường sự tham gia có hiệu quả của MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội, các phương tiện truyền thông trong hoạt động bảo vệ môi trường.

– Phát hiện, xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa và vào tiêu chuẩn thi đua khen thưởng.

4. Áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường

– Đối với các công trình bảo vệ môi trường, tùy theo từng công trình cụ thể mà tỉnh hỗ trợ tối đa không quá 70% giá trị công trình.

Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc người gây thiệt hại đối với môi trường phải khắc phục, bồi thường. Áp dụng các chính sách, cơ chế hỗ trợ về vốn, khuyến khích về thuế, trợ giá đối với hoạt động bảo vệ môi trường.

5. Tạo sự chuyển biến cơ bản trong đầu tư bảo vệ môi trường

– Đảm bảo mức chi cho sự nghiệp môi trường không dưới 1% tổng chi ngân sách và tăng dần tỷ lệ này theo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cho hoạt động bảo vệ môi trường.

– Các ngành căn cứ theo chức năng nhiệm vụ chủ động đề xuất, triển khai các chương trình, dự án để đảm bảo thực hiện thắng lợi chỉ tiêu Nghị quyết đề ra.

– Khuyến khích các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư bảo vệ môi trường, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho bảo vệ môi trường.

6. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và đào tạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về môi trường

7. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về môi trường. Tranh thủ tối đa nguồn hỗ trợ tài chính, kỹ thuật từ các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân cho công tác bảo vệ môi trường của tỉnh.

III – TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Giao Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng Kế hoạch tổng thể bảo vệ môi trường của tỉnh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; chỉ đạo các sở, ngành, các địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án cụ thể để tổ chức thực hiện.

2. Các Đảng bộ trực thuộc; các ban của Tỉnh ủy, Ban Cán sự Đảng, Đảng đoàn; MTTQ và các đoàn thể tỉnh; các sở, ban, ngành của tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện Nghị quyết.

3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết và tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết; phát hiện, nêu gương những tập thể, cá nhân điển hình trong công tác bảo vệ môi trường.

4. Hàng năm, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh báo cáo với Ban Thường vụ Tỉnh ủy tình hình thực hiện Nghị quyết để rút kinh nghiệm, chỉ đạo kịp thời. Nghị quyết này được phổ biến đến chi bộ.

T/M BAN THƯỜNG VỤ BÍ THƯ Phạm Hồng Hà

(Nguồn: Vu Mai 1 )

Share Trở về ]

Tất Cả Hồ Sơ Mời Thầu Sẽ Được Công Khai Trên Mạng

(BĐT) – Một trong những điểm nổi bật tại Thông tư số 11/2019/TT-BKHĐT vừa được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng ký ban hành là bắt buộc công khai hồ sơ mời thầu (HSMT)/hồ sơ yêu cầu (HSYC) trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (HTMĐTQG) dù gói thầu không áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng.

Công khai HSMT gói thầu không áp dụng đấu thầu qua mạng

Thông tư số 11/2019/TT-BKHĐT ngày 16/12/2019 của Bộ KH&ĐT quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu (TTĐT), lộ trình áp dụng lựa chọn nhà thầu qua mạng (LCNTQM) và quản lý, sử dụng giá trị bảo đảm dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng không được hoàn trả (TT11) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2020, thay thế Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC (TT07).

Theo quy định mới tại TT11, đối với lựa chọn nhà thầu, trong quá trình đăng tải thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng, bên mời thầu phải đính kèm các tài liệu: quyết định phê duyệt HSMT, HSYC, yêu cầu báo giá; HSMT, HSYC, yêu cầu báo giá được phê duyệt.

HSMT, HSYC được phát hành trên HTMĐTQG ngay sau khi đăng tải thành công thông báo mời thầu, thông báo mời chào hàng. Đối với đấu thầu không qua mạng, trường hợp HSMT, HSYC được bán theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Nghị định số 63/2014/NĐ-CP thì nhà thầu phải trả cho bên mời thầu một khoản tiền bằng giá bán HSMT, HSYC trước khi hồ sơ dự thầu (HSDT), hồ sơ đề xuất (HSĐX) được tiếp nhận.

Trong thời gian qua, tình trạng ngăn cản nhà thầu tiếp cận mua HSMT, HSYC đã trở nên phổ biến, gây bức xúc trong giới nhà thầu. Nhiều bên mời thầu sử dụng nhiều chiêu trò gây hạn chế cạnh tranh ngay từ khâu phát hành HSMT, HSYC. Báo Đấu thầu từng có nhiều bài viết phản ánh về tình trạng này, trong đó phổ biến là hiện tượng người bán HSMT/HSYC đi vắng, không liên lạc được; hết HSMT/HSYC; HSMT/HSYC chưa kịp photo, chưa kịp đóng dấu; địa điểm phát hành HSMT/HSYC không rõ ràng; nhà thầu không được vào trụ sở bên mời thầu để mua hồ sơ khi không có người của bên mời thầu dẫn vào…

Với quy định mới tại TT11, việc bắt buộc bên mời thầu công khai HSMT/HSYC của tất cả các gói thầu lên HTMĐTQG được các nhà thầu đánh giá là bước tiến vượt bậc trong công khai thông tin về đấu thầu, giúp tăng cường cạnh tranh, minh bạch, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu thầu.

Bước tiến vượt bậc này, theo Bộ KH&ĐT, tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong đấu thầu, công khai tối đa thông tin về đấu thầu, giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp giữa chủ đầu tư, bên mời thầu với các nhà thầu. HSMT/HSYC được phát hành trên mạng sẽ khắc phục triệt để tình trạng bên mời thầu cố tình không phát hành HSMT/HSYC cho các nhà thầu như đã xảy ra trong thời gian qua, đồng thời nâng cao khả năng giám sát của cộng đồng đối với việc tổ chức lựa chọn nhà thầu.

Quy định cụ thể các gói thầu bắt buộc phải đấu thầu qua mạng

TT11 quy định về lộ trình lộ trình ĐTQM giai đoạn 2020 – 2025. Theo Bộ KH&ĐT, lộ trình mới này được xây dựng trên cơ sở lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và tuân thủ theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại Văn bản số 5464/VPCP-CN ngày 21/6/2019.

Theo đó, TT11 quy định lộ trình ĐTQM cho năm 2020, năm 2021 và giai đoạn 2022 – 2025.

Cụ thể, năm 2020 tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng đối với 100% các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh thuộc lĩnh vực mua sắm hàng hóa, dịch vụ phi tư vấn, dịch vụ tư vấn có giá gói thầu không quá 5 tỷ đồng và thuộc lĩnh vực xây lắp có giá gói thầu không quá 10 tỷ đồng, trừ trường hợp đối với các gói thầu chưa thể tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng hoặc các gói thầu có tính đặc thù.

Việc tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng trong năm phải bảo đảm tổng số lượng các gói thầu đạt tối thiểu 60% số lượng gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh và tổng giá trị gói thầu đạt tối thiểu 25% tổng giá trị các gói thầu áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh.

Tương ứng trong năm 2021 là các mức không quá 10 tỷ đồng và không quá 20 tỷ đồng; đạt tối thiểu 70% số lượng gói thầu và tối thiểu 35% tổng giá trị các gói thầu.

Giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2025, tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng tối thiểu 70% các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu; tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng 100% số lượng gói thầu sử dụng vốn nhà nước để mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức lựa chọn nhà thầu qua mạng 100% số lượng gói thầu mua sắm tập trung.

Tạo thuận lợi hơn cho nhà thầu, nhà đầu tư

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 TT07, trước thời điểm đóng thầu 2 ngày làm việc, nhà thầu, nhà đầu tư chưa có xác nhận đăng ký thông tin trên HTMĐTQG không được tham dự thầu đối với các gói thầu, dự án có hình thức lựa chọn nhà thầu quy định tại các Điều 20, 21, 22, 23, 24, 25 và 26 của Luật Đấu thầu.

Nhằm tạo thuận lợi hơn cho các nhà thầu khi tham gia HTMĐTQG, tại Điều 21 TT11 quy định về trách nhiệm của nhà thầu, nhà đầu tư theo hướng “mở” hơn so với quy định tại TT07.

Cụ thể, theo TT11, nhà thầu, nhà đầu tư phải đăng ký tham gia HTMĐTQG và được phê duyệt theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 của Thông tư này trước khi xét duyệt trúng thầu để bảo đảm tư cách hợp lệ theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 5 của Luật Đấu thầu. Trường hợp trong quá trình đánh giá HSDT, bên mời thầu phát hiện nhà thầu, nhà đầu tư chưa đăng ký tham gia Hệ thống thì bên mời thầu phải yêu cầu nhà thầu, nhà đầu tư hoàn thành việc đăng ký theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 của Thông tư này. Khoản 2 Điều 6 của TT11 quy định cụ thể về việc đăng ký tham gia HTMĐTQG và quy trình xử lý hồ sơ đăng ký của nhà thầu, nhà đầu tư.

TT11 gồm 6 Chương 31 Điều và các Phụ lục ban hành kèm theo. Ngoài những nội dung nêu trên, TT11 cũng đưa ra các quy định nhằm bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong đấu thầu, tạo cơ sở pháp lý trong việc đăng tải thông tin về đấu thầu; quản lý và sử dụng chi phí đăng tải thông tin trong đấu thầu; giá trị bảo đảm dự thầu, bảo đảm thực hiện hợp đồng không được hoàn trả; xây dựng thông tin về pháp lý, năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu, nhà đầu tư; tạo sự đồng bộ trong quá trình tổ chức đấu thầu trên mạng, từ khâu lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu, phát hành E-HSMT, nộp E-HSDT, đánh giá E-HSDT; thống nhất cơ sở dữ liệu thông tin về đấu thầu trên HTMĐTQG…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tăng Cường Xử Lý Văn Bản, Hồ Sơ Công Việc Trên Môi Trường Mạng trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!