Đề Xuất 12/2022 # Tăng Cường Vai Trò Người Chỉ Huy Chính Trị / 2023 # Top 13 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Tăng Cường Vai Trò Người Chỉ Huy Chính Trị / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tăng Cường Vai Trò Người Chỉ Huy Chính Trị / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Qua 8 năm triển khai thực hiện, có thể khẳng định Nghị quyết 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW của Quân ủy Trung ương về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội Nhân dân Việt Nam” đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo,  sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Ngay sau khi có Nghị quyết 51-NQ/TW và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW, Đảng ủy Quân sự thành phố tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, tổ chức nghiên cứu, học tập cho 100% cán bộ, đảng viên, nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết, từ đó tạo niềm tin, sự chuyển biến trong mọi hành động.

Quán triệt phương châm “Tích cực, chủ động, đồng bộ, vững chắc, có quy trình và bước đi phù hợp”, Đảng ủy Quân sự thành phố nắm chắc tiêu chuẩn cán bộ trong quân đội, nhất là tiêu chuẩn với từng chức danh chính ủy, phó chính ủy, chính trị viên, chính trị viên phó, trên cơ sở phạm vi quyền hạn được giao và quy hoạch được xác định, qua đó soát xét nhân sự đề nghị quân khu bổ nhiệm chính ủy, chính trị viên đợt đầu trong lực lượng vũ trang thành phố, bảo đảm đúng quy trình và nguyên tắc, hướng dẫn.

Đồng thời, chỉ đạo các cơ quan chức năng nắm bắt, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng, chủ động tạo nguồn kết hợp với cử cán bộ đi đào tạo, chuyển loại tại các học viện, nhà trường để nâng cao trình độ phù hợp với chức trách khi được bổ nhiệm, đáp ứng yêu cầu khi nhận nhiệm vụ mới. Hằng năm xây dựng bổ sung nguồn quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ, xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, tạo nguồn bổ nhiệm chính ủy, chính trị viên các cấp, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ chính trị đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu cơ bản của người chính ủy, chính trị viên theo tinh thần Nghị quyết 51.

Từ năm 2006 đến nay đã điều động, bổ nhiệm, sắp xếp chính ủy, chính trị viên các cấp 96 lượt, trong đó cấp bộ 4 lượt, cấp quân khu 47 lượt, cấp thành phố 45 lượt, lựa chọn đi đào tạo, bồi dưỡng các trường 28 đồng chí. Đối với Ban chỉ huy quân sự xã, phường biên chế 100% chính trị viên do đồng chí Bí thư Đảng ủy cùng cấp đảm nhiệm, chính trị viên phó do Bí thư Đoàn cùng cấp kiêm nhiệm.

Chất lượng cán bộ chính trị được đào tạo cơ bản cũng tăng lên, trong đó đào tạo dài chiếm 37,5%; đào tạo ngắn, chuyển loại chính trị đúng cương vị đạt 64,5%. Đội ngũ cán bộ chính trị đã phát huy được vị trí, vai trò, nhiệm vụ theo chức trách được giao. Nhiệm vụ công tác Đảng – công tác chính trị được chú trọng, chất lượng hiệu quả ngày một tốt hơn, các hoạt động phong trào ngày càng sôi nổi, nhất là cơ cấu cấp phân đội chính trị viên được bầu vào cương vị Bí thư cấp ủy, chi bộ, chính trị viên phó đảm nhiệm Bí thư Đoàn nên chất lượng sinh hoạt, hoạt động của tổ chức Đảng, Đoàn được nâng lên, các phong trào xung kích được tổ chức sôi nổi hơn.

Công tác xây dựng Đảng đã phát huy tốt hơn vai trò lãnh đạo của tập thể cấp ủy, tổ chức Đảng, vai trò cá nhân phụ trách của đồng chí bí thư, phó bí thư cấp ủy, giữ vững và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế dân chủ, tinh thần đoàn kết, thống nhất trong cấp ủy, chỉ huy và sự đồng thuận trong toàn đơn vị được tăng cường.           

Các chính trị viên Ban chỉ huy quân sự quận, huyện được cơ cấu vào cấp ủy địa phương (quận, huyện ủy viên) đã phát huy tính chủ động trong công tác, nêu cao tinh thần đoàn kết, trao đổi, hiệp đồng cùng người chỉ huy tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác Đảng – công tác chính trị; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa chính trị viên, chính trị viên phó với người chỉ huy và cấp phó cùng cấp, tạo được sự đồng thuận trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị; giữ vững nguyên tắc, chế độ, phát huy tốt vai trò làm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – quân sự địa phương đạt hiệu quả; xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Đến nay, đội ngũ chính ủy, chính trị viên đã thật sự thích nghi với cơ chế mới, có sự chuyển biến cả về nhận thức lẫn hành động, thực hiện nghiêm chức trách, nhiệm vụ được giao. Người chỉ huy tôn trọng, tạo điều kiện cho chính ủy, chính trị viên thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ và ngược lại, vai trò của chính ủy, chính trị viên được phát huy một cách tốt nhất cũng chính là tăng thêm hiệu quả, hiệu lực quản lý, điều hành của người chỉ huy.

Qua 8 năm triển khai thực hiện, có thể khẳng định Nghị quyết 51-NQ/TW và Nghị quyết 513-NQ/ĐUQSTW đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức Đảng. Hiệu quả rõ nét nhất là khẳng định vị trí, vai trò chức năng của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy, giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai cán bộ chủ trì, từng bước khắc phục những hạn chế trong thực hiện chế độ phó chỉ huy về chính trị theo Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị trước đây.

H.H

Cải Cách Hành Chính Và Vai Trò Của Đảng Chính Trị / 2023

Thứ tư, 02 Tháng 3 2016 15:30

(LLCT) – Trong tiến trình thực hiện đường lối đổi mới, cải cách hành chính được đặt ra như một đòi hỏi khách quan để tạo tiền đề và thúc đẩy cải cách kinh tế. Cải cách thể chế, thủ tục hành chính được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành một bộ phận quan trọng trong chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

1. Chủ trương và phương thức lãnh đạo trong tiến trình cải cách hành chính

Ngay từ Đại hội VI (1986), Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối.

Tại Đại hội VII (1991), Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương. Thực hiện Nghị quyết Đại hội, trong nhiệm kỳ, hệ thống chính trị gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được sắp xếp, kiện toàn.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 do Đại hội VII thông qua đã khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về nền hành chính nhà nước. Cương lĩnh nêu rõ: về Nhà nước “phải có đủ quyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước”. Chiến lược cũng nêu trọng tâm cải cách “nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả”.

Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1-1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính (CCHC) nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

Đại hội VIII của Đảng (1996) đề cập tới yêu cầu tiến hành CCHC đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (1996-2000). Nghị quyết Đại hội VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ Trung ương đến địa phương, hợp nhất một số cơ quan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ và thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành.

Một trong những chủ trương và giải pháp lớn về CCHC được nhấn mạnh trong Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức.

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII đã biểu thị một quyết tâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành CCHC, đặt CCHC trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị. Đảng ta khẳng định: Không thể tiến hành cải cách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Cũng không thể CCHC một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp.

Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương 7 khoá VIII đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với CCHC theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giản biên chế, cải cách chính sách tiền lương.

Đại hội IX của Đảng (2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong CCHC như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…

Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, nhấn mạnh thực hiện CCHC phải đồng bộ với cải cách lập pháp và cải cách t­ư pháp, trong đó đặc biệt chú ý đến chất lượng xây dựng luật. Về cải cách thủ tục hành chính, Nghị quyết xác định “…đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp”. Nghị quyết cũng đặc biệt đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác CCHC đó là: Đảng quyết định các mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp lớn về CCHC và tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn kịp thời việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác CCHC.

Như vậy có thể thấy, xuyên suốt tiến trình CCHC nhà nước, Đảng luôn giữ vai trò “tiên phong” trong việc chỉ đạo, lãnh đạo, đề ra đường lối, chủ trương cải cách. Các quyết sách chính trị đó của Đảng có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng, chỉ đạo và tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung và thực hiện thủ tục hành chính nói riêng.

Để thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước đã đề ra và thực hiện phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Trong những năm qua, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ngày càng đổi mới theo hướng vừa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo, tự chủ của các cơ quan, các cấp chính quyền nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, từ đó góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực, cải thiện và giải quyết ngày càng tốt hơn mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội.

Như vậy, xét trên mọi phương diện, nguyên tắc Đảng lãnh đạo không bao trùm lên việc Đảng làm thay các hoạt động của chính quyền, song mọi hoạt động của chính quyền lại chịu sự chi phối lớn bởi các quyết sách của Đảng, vì thế, nếu hoạt động của chính quyền có những sai sót, tất yếu phải xét tới vai trò của Đảng.

2. Một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cải cách hành chính

Một số địa phương khi tiến hành sơ kết, tổng kết triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X đã rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích về vai trò của Đảng trong tiến trình CCHC như sau:

Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan hành chính các cấp có phẩm chất đạo đức, vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, có tính chuyên nghiệp, tận tụy phục vụ nhân dân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị là nhân tố quyết định đến sự thành công của công tác CCHC. Thực tế cho thấy, nơi nào cấp uỷ quan tâm, người đứng đầu thể hiện rõ quyết tâm và sự quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ CCHC thì nơi đó sẽ có chuyển biến rõ rệt và ngược lại, bên cạnh đó cần phải có đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác CCHC nhiệt tình, tâm huyết và năng lực nhất định để tham mưu, đề xuất giúp người đứng đầu chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính đạt kết quả.

Năm là, đề cao vai trò giám sát của nhân dân và tạo điều kiện để nhân dân tham gia nhiều hơn vào giải quyết các công việc của địa phương, xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, thống nhất.

Phải quán triệt tư tưởng dân là chủ, lấy dân làm gốc, phải hướng vào mục tiêu phục vụ nhân dân, khắc phục mọi phiền hà, sách nhiễu đối với dân. Mở rộng về phạm vi và tính thực chất trong các quy định về quyền của công dân tham gia các công việc của Nhà nước và xã hội, xây dựng các quyết định chính trị quan trọng của Đảng, Nhà nước. Từ đó từng bước nâng cao trình độ, năng lực làm chủ của người dân.

Sáu là, cần cải cách thủ tục hành chính trong Đảng theo hướng xây dựng các quy chế, quy định,quy trình thực hiện các mối quan hệ của cấp ủy với các tổ chức, cơ quan, đơn vị và người đứng đầu các tổ chức nhà nước, các đoàn thể chính trị – xã hội.

Xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức thực sự có đủ tâm, đủ tầm, trung thực, tận tuỵ với công việc và am hiểu pháp luật. Các cơ quan, đơn vị có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ đối với cán bộ, công chức, đặc biệt là với đội ngũ cán bộ làm công tác lãnh đạo để kịp thời nắm bắt thông tin, kiến thức mới, phục vụ cho công tác lãnh đạo, điều hành; kịp thời loại bỏ những cán bộ, công chức không hoàn thành nhiệm vụ, tham nhũng, biến chất, cơ hội, gây cản trở công cuộc cải cách hành chính hiện nay.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6 – 2015

TS Nguyễn Văn Hậu

Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Vai Trò Quyết Định Trong Quản Trị / 2023

XIN CHÀO CÔ VÀ TOÀN THỂ CÁC BẠN HÔM NAY EM XIN TRÌNH BÀY ĐỒ ÁN QTHMỜI CÔ VÀ CÁC BẠN CÙNG XEM VA CHO Ý KIẾNSINH VIÊN: DƯƠNG TUYẾT ANHTRẦN TUYẾT NGỌCCHƯƠNG IV : VAI TRÒ LÀM QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN TRỊMỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU : Trong quá trình điều hành hoạt động của DN ,nhà quản trị phải xử lý các tình huống và ra các quyết định khác nhau .Ra quyết định là một công việc hết sức quan trọng của nhà quản trị .Vì tính chính xác của các quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Mục đích của chương này là cung cấp cho chúng ta bản chất của quyết định quản trị và quy trình ra quyết định của nhà quản trị .Chúng ta cần nắm rõ các vấn đề sau :Khái niệm chức năng và phân loại quyết định quản trị .Quy trình ra quyết định quản trị Hiểu và vận dụng được một số công cụ định lượng trong ra quyết định.Nắm được những yếu tố nhằm nâng cao hiệu quả của quyết định quản trị.I . Khái niệm và đặc điểm của quyết định quản trị :Nội dung cơ bản của hoạt động quản trị là việc đề ra các quyết định . Bởi vì việc điều hành công việc hằng ngày cho đến giải quyết đồng bộ các vấn đề kinh tế lớn đều được tiến hành trên cơ sở những quyết định thích hợp . Để đảm bảo được điều này , cần chú ý đến các đặc điểm sau của các quyết định quản trị :– Các quyết định quản trị phải trực tiếp hướng vào tổ chức lao động tập thể .– Các quyết định đề ra khi vấn đề đã chín muồi khắc phục sự khác biệt giữa tình trạng tất yếu và tình trạng hiện tại của hệ thống bị quản trị .

– Các tiêu chuẩn và nguyên tắc đề ra quyết định quản trị được xây dựng trên cơ sỡ hiệu quả về tính quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của hệ thống thừa hành

* Khái niệm : quyết định quản trị là việc xem xét , cân nhắc , đánh giá các phương án và lựa chọn phương án tối ưu nhất . * Định nghĩa : Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm địnhb ra các chương và tính chất hoạt động của tổ chứcđể giải quyết vấn đề đã đặc ra .

II. Các chức năng của quyết định quản trị :Vị trí của quyết định quản trị thể hiện ở các chức năng mà nó đảm dương trong quá trình quản trị như : – Quyết định quản trị thực hiện chu6c1 năng định hướng : khi nó quy định phương hướng vận động,phát triển khắc phục mâu thuẩn nghiên cứu lợi ích của các quy luật khách quan. – Quyết định quản trị thực hiện chức năng đảm bảo : khi xác định các nguồn vật chất cụ thể cần thiết cho việc đạt tới những mục tiêu đã đề ra . – Quyết định quản trị thực hiện chức năng hợp tác & phối hợp : xác đkịnh vị trí các bộ phận, tham gia thực hiện mục tiêu đề ra . – Quyết định quản trị thực hiện chức năng pháp lệnh:tức là khi quyết định đưa ra thì ràng buộc đối tượng bị quyết định phải thực hiện hay thi hành.III. Phân loại quyết định quản trị:1.Tiến hành làm quyết định: – Xác định vấn đề cần quyết định – Liệt kê các yếu tố cần quyết định – Chọn lọc các thông tin liên hệ – Nhận dạng (xác định) giải pháp. ▫ Đưa ra nhiều phương ná khác nhau để lựa chọn ▫ So sánh và xác định ưu tiên các phương án này ▫ Lựa chọn phương án tối ưu thích hợp với tình huống cần quyết định,đồng thời dự liệu các phương án thay thế – Triển khai phương án đã lựa chọn – Đánh giá kết quả đã thực hiện Thực hiện đầy đủ 6 bước trên gọi là tiến trình : D-E-C-I-D-E → Tiến trình làm quyết định .2. Phân loại quyết định quản trị :Do tính chất phức tạp của quá trình, các quyết định quản trị rất đa dạng, có thể phân loại quyết định quản trị theo những tiêu thức sau : a) Theo tính chất của các quyết định : – các quyết định chiến lược – các quyết định chiến thuật – Các quyết định tác nghiệp

b) Theo thời gian thực hiện : – Quyết định dài hạn – Quyết định trung hạn – Quyết định ngắn hạnc) Theo chức năng thực hiện : – quyết định kế hoạch – Quyết định tổ chức – Quyết định điều khiển – Quyết định kiểm soátd) Theo phạm vi thực hiện : – Quyết định toàn cục – Quyết định bộ phận – Quyết định chuyên đềe) Theo các khía cạnh khác nhau của sản xuất hệ thống : – Quyết định về kỹ thuật , tổ chức . – Quyết định về kinh tế , xã hội ….f) Quyết định trực tiếp , gián tiếp3.Những yêu cầu đối với quyết định quản trị :Quyết định quản trị là sản phẩm đặc biệt của lao động quản trị và đýợc sử dụng ở tất cả các cấp quản trị . Việc hoàn thiện không ngừng và nâng cao chất lýợng các quyết định quản trị là nhiệm vụ hàng đầu của nhà quản trị (NQT).Các quyết định quản trị thỏa mãn các yêu cầu sau :1- các quyết định quản trị phải có căn cứ khoa học : bất kể đó là loại quyết định nào ,nó phải đýợc đề ra trên cõ sở nắm vững các quy luật khách quan dựa trên thông tin xác thực và bảo đảm chất lýợng .2- Các quyết định quản trị phải thỏa mãn tính chất thống nhất : phải tuân theo mọi quy định, thể chế chung, phải tránh không tạo mâu thuẩn hoặc lại bỏ lẫn nhau giữa các quyết định đã có và sẽ có mà các cấp thực hiện phải tuân thủ .4- Các quyết định quản trị phải có định hýớng : có nghĩa là phải có địa chỉ cụ thể và phải dễ hiểu , tránh tình trạng cùng một quyết định nhýng những ngýời thực hiện lại có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau .5- Các quyết định quản trị phải thật cụ thể về thời gian .6- Các quyết định quản trị phải thỏa mãn yêu cầu kịp thời .VI.Các mô hình ra quyết định Mô hình 1: Nhà quản trị độc lập ra quyết định. Mô hình 2: Nhà quản trị đề nghị các thuộc cấp cung cấp thông tin , rồi độc lập ra quyết định. Mô hình 3: nhà quản trị trao đổi với các thuộc cấp , NQT đýa ra quyết định . Mô hình 4: NQT trao đổi, bàn bạc ra quyết định phụ thuộc vào đa số tập thể .V. Mô hình ra quyết định hợp lý:Býớc 1: Nhận diện và xác định vấn đề: Có 3 kỹ năng thýờng đýợc áp dụng để xác định và nhận dạng vấn đề:+ Nhận dạng: Là phải theo dõi và ghi chép mọi ảnh hýởng của môi trýờng bên ngoài.+ Làm sáng tỏ: Đánh giá vấn đề đã đýợc nhận biết và xác định nguyên nhân thực sự có vấn đề.

Phát Huy Vai Trò Của Luật Sư Trong Tố Tụng Hình Sự / 2023

TS Hoàng Thị Minh Sơn phát biểu tại Hội thảo

Đây là nhận định được nhiều ý kiến đồng tình khi tham dự cuộc hội thảo do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức mới đây và mong muốn hạn chế trên sẽ được khắc phục trong lần sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự (TTHS) sắp tới.

Quyền nhiều nhưng dễ bị cản trở

Bộ luật TTHS 2003 tại Điều 58 quy định luật sư (LS) với tư cách là người bào chữa trong TTHS được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang thì người bào chữa tham gia từ khi có quyết định tạm giữ.

Trường hợp cần giữ gìn bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, Viện trưởng VKSND quyết định để người bào chữa tham gia từ khi kết thúc điều tra. Điều 58 cũng trao cho người bào chữa rất nhiều quyền, song các quy định này lại quá chung chung, thậm chí là mập mờ, dễ bị cản trở thực hiện.

TS Vũ Gia Lâm (Trưởng bộ môn Luật TTHS, Trường Đại học Luật Hà Nội) dẫn chứng: Theo quy định hiện hành, chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền thu thập chứng cứ qua việc triệu tập những người biết về vụ án và nghe họ trình bày, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.

Không chỉ đề cập đến quyền thu thập chứng cứ của LS, chúng tôi Hoàng Thị Minh Sơn (Trường Đại học Luật Hà Nội) còn phân tích rất chi tiết vai trò của LS trong tham gia các hoạt động điều tra, trong hoạt động tranh tụng và đặc biệt lưu ý đến vai trò của LS trong bào chữa chỉ định.

Theo bà Sơn, trong thực tiễn để tiện cho mình, cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp mời đích danh một LS quen biết nào đó tham gia tố tụng, thậm chí các thư ký tòa đều có danh sách một số LS “chữa cháy” và gọi điện “nhờ” bào chữa để tránh việc hoãn phiên tòa vì không có LS. Bằng “con đường tắt” ấy, cơ quan tiến hành tố tụng dễ dàng được việc của mình, tránh được vi phạm tố tụng, lại không phải e ngại LS mình mời sẽ gây ra rắc rối.

“Cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp mời LS, đứng ra thanh toán thù lao cho LS, dễ dẫn tới tình trạng LS cả nể, không muốn phản biện, đấu tranh” – bà Sơn thẳng thắn và đề xuất phải xem lại việc “mời trực tiếp” để đảm bảo được sự khách quan và không vi phạm quy định của Bộ luật TTHS.

Tạo chủ động hơn nữa cho luật sư

Cũng quan tâm đến bào chữa chỉ định, TS Nguyễn Thị Thủy (Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế và quản lý khoa học, VKSNDTC) kiến nghị mở rộng những trường hợp bắt buộc cơ quan tố tụng phải chỉ định người bào chữa.

Theo bà Thủy, nên sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa nhanh chóng tham gia tố tụng, tiếp cận với quá trình giải quyết vụ án theo hướng đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và thủ tục tham gia bào chữa, kể cả thay quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa bằng giấy đăng ký bào chữa.

Tán thành mở rộng hơn những trường hợp bắt buộc phải mời người bào chữa nhưng ThS Nguyễn Văn Tùng (Phó trưởng phòng Viện Khoa học xét xử, TANDTC) lại cho rằng cần tiếp tục giữ quy định về cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Có điều, ông Tùng nhất trí nên đơn giản thủ tục này và cho phép LS chỉ phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận một lần, tránh việc đã được cơ quan điều tra cấp giấy chứng nhận là người bào chữa mà vẫn làm lại thủ tục ở giai đoạn truy tố, xét xử như hiện nay.

Bàn về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa, Thiếu tướng, chúng tôi Lê Minh Hùng (Phó Giám đốc Học viện An ninh nhân dân) đề nghị sửa đổi theo hướng người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can để phù hợp với Hiến pháp 2013. Trường hợp bắt hoặc tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bắt hoặc nhận người bị bắt hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tăng Cường Vai Trò Người Chỉ Huy Chính Trị / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!