Đề Xuất 11/2022 # Sửa Đổi Quy Trình Thu Bhxh, Bhyt Theo Quyết Định 595/Qđ / 2023 # Top 11 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Sửa Đổi Quy Trình Thu Bhxh, Bhyt Theo Quyết Định 595/Qđ / 2023 # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sửa Đổi Quy Trình Thu Bhxh, Bhyt Theo Quyết Định 595/Qđ / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

BHXH Việt Nam ban hành Quyết định 505/QĐ-BHXH ngày 27/3/2020 sửa đổi Quy trình thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế kèm theo Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017.

Quy trình thu BHXH, BHYT

Theo đó, sửa đổi, bổ sung một số quy định về BHXH bắt buộc với lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam như sau:

– Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 4 như sau:

Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khi có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và có HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam.

Trường hợp người lao động di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 187 của Bộ luật Lao động thì không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc.

(Trước đó, Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp (thực hiện từ ngày 01/01/2018 theo quy định của Chính phủ)).

– Sửa đổi, bổ sung Điểm 1.5 Khoản 1 Điều 5 như sau:

Người lao động quy định tại Khoản 2 Điều 4: Từ ngày 01/01/2022, người lao động hằng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

(Trước đó, Người lao động quy định tại Khoản 2 Điều 4, thực hiện theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của BHXH Việt Nam).

– Bổ sung Điểm 2.3 Khoản 2 Điều 5 như sau:

Đơn vị hằng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng BHXH của người lao động quy định tại Khoản 2 Điều 4 như sau:

+ 3% vào quỹ ốm đau và thai sản;

+ 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất từ ngày 01/01/2022.

Quyết định 505/QĐ-BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2020.

 

Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Quyết Định 595/Qđ / 2023

Các văn bản khác

 

Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

 

Thông tư 43/2013/TT-BYT của Bộ Y tế về việc quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh

 

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) của Quốc hội, số 71/2020/QH14

 

Nghị định 79/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chế độ, chính sách trong xây dựng, huy động lực lượng dự bị động viên

 

Biểu mẫu Quyết định 23/2021/QĐ-TTg về thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19

Tài Liệu Tập Huấn Quyết Định 595/Qđ / 2023

Tài liệu tập huấn những điểm mới của Quyết định 595/QĐ-BHXH và quy trình cấp mã số BHXH được phát hành bởi cơ quan BHXH Thành phố Hà Nội ngày 02/10/2017.

Trong đó, có một số nội dung nổi bật như sau:

1. Đối tượng bắt đầu tham gia BHXH kể từ ngày 01/01/2018

– Từ ngày 01/01/2018, người làm việc theo HĐLĐ, HĐLV có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng thuộc đối tượng tham gia BHXH, BHTNLĐ, BNN

– Người LĐ là công dân nước ngoài làm việc tại VN có giấy phép LĐ, hoặc chứng chỉ hành nghề, hoặc giấy phép hành nghề của CQ có thẩm quyền cấp được tham gia BHXH bắt buộc.

(Khoản 1 Điều 124 và Khoản 2 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014)

2. Đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN đối với một số trường hợp đặc biệt

– Người lao động đồng thời có từ 02 HĐLĐ trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên, đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất, đóng BHTNLĐ,BNN theo từng HĐLĐ.

– Trường hợp lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con theo quy định thì thời gian đi làm trước thời hạn phải đóng BHXH, BHYT, BHTN.

(Điểm c Khoản 2 Điều 12 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH)

– Đối với trường hợp người lao động nghỉ việc không hưởng tiền lương, chấm dứt HĐLĐ, HĐLV đơn vị nộp hồ sơ báo giảm cho cơ quan BHXH từ ngày 01 phải đóng BHYT của tháng đó và các tháng báo giảm chậm. Thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết tháng báo giảm.

3. Những trường hợp không phải đóng

– Người LĐ ký HĐLĐ nhưng đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ,BNN.

– HĐLĐ là người giúp việc gia đình không phải đóng BHXH bắt buộc, BHTN, BHTNLĐ,BNN.

– Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT và không tính là thời gian tham gia BHXH, BHTN.

– Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng không phải đóng BHXH, BHTN được tính là thời gian đóng BHXH.

– Người lao động nghỉ việc không hưởng tiền lương từ 14 ngày trở lên trong tháng thì không phải đóng BHXH, BHTN tháng đó.

4. Về tiền lương tháng đóng BHXH

Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương theo quy định tại khoản 1, Điều 30 Thông tư 59/2015/TTBLĐTBXH và các khoản bổ sung khác theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TTBLĐTBXH.

Lưu ý: Tiền lương tháng đóng BHXH, BHYT, BHTN không bao gồm các khoản chế độ và phúc lợi khác, như tiền thưởng theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật lao động, tiền thưởng sáng kiến; tiền ăn giữa ca; các khoản hỗ trợ xăng xe, điện thoại, đi lại, tiền nhà ở, tiền giữ trẻ, nuôi con nhỏ; hỗ trợ khi người lao động có thân nhân bị chết, người lao động có người thân kết hôn, sinh nhật của người lao động, trợ cấp cho người lao động gặp hoàn cảnh khó khăn khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và các khoản hỗ trợ, trợ cấp khác ghi thành mục riêng trong HĐLĐ theo khoản 11 Điều 4 của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

5. Quy trình cấp thẻ BHYT, sổ BHXH theo mã số BHXH.

Ảnh chụp mô tả một phần quy trình

Nguồn: Thư viện pháp luật

Nghị Quyết 21 Đã Làm Thay Đổi Nhận Thức Về Bhxh, Bhyt / 2023

Thực hiện Nghị quyết 21, BHXH Việt Nam còn đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin để tạo hài lòng cho người dân và doanh nghiệp.

Khẳng định trụ cột an sinh

Nghị quyết 21 khẳng định: BHXH và BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ trưởng, Tổng GĐ BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh nhìn nhận, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 21, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chính sách BHXH, BHYT đã đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực. Về phần minh, theo bà Minh, BHXH Việt Nam đã phối hợp với các bộ ngành xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật BHXH, BHYT. BHXH Việt Nam đã tập trung, quyết liệt chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ chính trị được giao; đổi mới phương thức hoạt động, từng bước xây dựng ngành BHXH hiện đại, chuyên nghiệp, hướng tới sự hài lòng của người dân, đơn vị.

Do đó, đến hết năm 2017, toàn quốc có số người tham gia BHXH là 13,82 triệu người, tăng 3,25 triệu người so với năm 2012 (tăng 30,8%); số người tham gia BH thất nghiệp là 11,7 triệu người, tăng 3,5 triệu người so với năm 2012 (tăng 42,4%); số người tham gia BHYT là 79,95 triệu người, tăng 20,97 triệu người so với năm 2012 (tăng 35,6%) – đạt tỷ lệ bao phủ 85,6% dân số.

Đồng thời làm tốt công tác giám định BHYT, đưa vào vận hành Hệ thống thông tin giám định BHYT, qua đó kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi lạm dụng, trục lợi Quỹ BHYT. Ngoài ra, công tác thanh kiểm tra cũng được chú trọng, nhằm hạn chế tình trạng trốn đóng, nợ đóng BHXH, BHYT, đến hết năm 2017, tỷ lệ nợ BHXH giảm còn 2,9%, mức thấp nhất từ trước tới nay…

Tiền đề cho cải cách chính sách BHXH

Dù đạt nhiều kết quả lớn, nhưng Tổng GĐ BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh cũng cho rằng, việc triển khai Nghị quyết 21 còn một số tồn tại, bất cập phổ biến như: Việc quán triệt Nghị quyết ở một số nơi chưa sâu rộng, còn hình thức, chủ yếu chỉ đến cán bộ lãnh đạo chủ chốt, đảng viên trong hệ thống chính trị mà chưa đến đối tượng đóng, hưởng chế độ BHXH, BHYT; Một số cấp ủy, chính quyền còn coi công tác tuyên truyền là nhiệm vụ riêng của ngành BHXH, hoặc tuyên giáo…

Thời gian tới, BHXH Việt Nam tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành, địa phương, tổ chức chính trị – xã hội trong tuyên truyền phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT; hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về BHXH, BHYT và đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động nghiệp vụ; thực hiện giao dịch điện tử trên tất cả các lĩnh vực; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính…

Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, BHXH Việt Nam cũng kiến nghị: Bộ Chính trị ban hành nghị quyết để chỉ đạo cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tăng cường thực hiện chính sách BHXH, BHYT thời gian tới. Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật phù hợp với tinh thần các Nghị quyết của Trung ương về chính sách BHXH, BHYT. Chính phủ ban hành và chỉ đạo ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để kịp thời tổ chức triển khai thực hiện các quy định mới của pháp luật BHXH, BHYT; giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHYT cho từng địa phương.

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cũng cho rằng, BHXH và BHYT giữ vai trò trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội. Trong thời gian qua, cùng với chính sách phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính sách an sinh xã hội, đặc trong công tác BHXH, BHYT. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW trong hơn 5 năm qua đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực và nhiều thành quả có ý nghĩa, góp phần quan trọng tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững kinh tế- xã hội. Kết quả sơ kết và những kinh nghiệm trong 5 năm triển khai sẽ là bài học quý báu cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH.

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết 21, BHXH Việt Nam đã chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho trên 3,1 triệu người (tăng 18,7% so với năm 2012); giải quyết cho trên 3,78 triệu người hưởng trợ cấp một lần (tăng 6,59% so với năm 2012). Ðặc biệt, đã giải quyết cho 714,44 triệu lượt người khám chữa bệnh BHYT, bình quân mỗi năm là 142,9 triệu lượt người (tăng 17% so với năm 2012).

Phạm Thanh

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sửa Đổi Quy Trình Thu Bhxh, Bhyt Theo Quyết Định 595/Qđ / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!