Đề Xuất 2/2023 # Soạn Bài: Truyện Kiều Phần 2 – Trao Duyên # Top 5 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 2/2023 # Soạn Bài: Truyện Kiều Phần 2 – Trao Duyên # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài: Truyện Kiều Phần 2 – Trao Duyên mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xin chào các em! Hôm nay, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn văn bản: Trao duyên. Đây là một trích đoạn trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du và được biên soạn trong chương trình ngữ Văn 10 Tập 2. Mời các em cùng tham khảo!

I. Tìm hiểu chung

* Vị trí đoạn trích: Đoạn trích Trao duyên được trích từ câu 723 đến câu 756, là lời Thúy Kiều nói cùng Thúy Vân, mở đầu cuộc đời đầy đau khổ của Thúy Kiều khi gia đình gặp biến cố.

* Bố cục: Đoạn trích được chia làm 3 phần:

Phần 1: 12 câu đầu: Kiều tìm cách thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân.

Phần 2: 15 câu tiếp: Kiều trao kỉ vật cho Vân và dặn dò em.

Phần 3: 8 câu cuối: Kiều đau đớn, vật vã đến ngất đi.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Việc Kiều nhắc đến các kỉ niệm của tình yêu có ý nghĩa:

Kiều được sống trong kí ức đẹp, nàng xót xa, đau đớn khi phải mang những kỉ vật riêng tư chia sẻ với người khác.

Kiều nói với Vân mà như nói với chính bản thân mình. Nhắc lại những kỉ niệm tình yêu cho thấy sức sống mãnh liệt của tình yêu giữa Kiều với Kim Trọng, Kiều trao cho Vân kỉ vật nhưng không thể trao cho Vân kỉ niệm, tình cảm mà nàng dành cho Kim Trọng sẽ không bao giờ phai.

Câu 2:

* Những từ ngữ cho thấy Kiều đã nghĩ đến cái chết: thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối…; người mệnh bạc; Mất người; Thấy hiu hiu gió thì hay chị về; hồn; Dạ đài cách mặt khuất lời; người thác oan.

* Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa:

Khi không còn tình yêu, Kiều cảm thấy trống trải và vô nghĩa, chỉ nhìn thấy cái chết xung quanh.

Tư tưởng về cái chết của Nguyễn Du: ảnh hưởng thuyết luân hồi của đạo Phật.

Sự băn khoăn và day dứt của Nguyễn Du trước nỗi đau của con người, thương xót trước thân phận của người con gái tha thiết yêu thương mà số phận nghiệt ngã.

Câu 3:

* Kiều đối thoại với Thúy Vân, với chính mình và với Kim Trọng.

* Diễn biến tâm trạng của Kiều qua các lời thoại trong đoạn trích:

Đối với chính mình: Sau khi trao duyên cho Vân, Kiều cảm thấy trống rỗng, buông xuôi. Không còn tình yêu của Kim Trọng, nàng cảm thấy như mình đã chết đi rồi.

Câu 4:

Mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiều qua đoạn trích: Lí trí mách bảo nàng trao duyên cho Thúy Vân và hy sinh cứu cha mẹ để làm tròn chữ hiếu. Nhưng con tim hướng về tình yêu lại khiến nàng thổn thức, đau đớn. Đây cũng là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức phong kiến với tâm hồn con người, cũng là sự đau khổ khi nhân cách đa tình, đa cảm song hành cùng thân phận người làm con. Ở đây, Kiều được sống chân thực và tự nhiên với đời sống tình cảm của con người. Nguyễn Du không hề biến Kiều trở thành tấm gương đạo đức đơn giản.

3

/

5

(

3

bình chọn

)

Soạn Bài: Truyện Kiều Phần 2

I. Tìm hiểu chung

* Vị trí đoạn trích: đoạn trích Nỗi thương mình được trích từ câu 1229 đến câu 1248 nói về tình cảnh và tâm trạng của Kiều ở chốn lầu xanh.

* Bố cục: Đoạn trích có thể được chia làm 3 phẩn:

Phần 1: 4 câu thơ đầu: giới thiệu khái quát về cuộc sống ở lầu xanh và cuộc sống trớ trêu của Kiều.

Phần 2: 8 câu thơ tiếp: Niềm thương xót cho thân phận của Kiều khi phải sống trong cảnh cay đắng và nhơ nhuốc ở lầu xanh.

Phần 3: còn lại: Cảnh đẹp, thú vui nhưng lòng người buồn bã, cô đơn.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bố cục của đoạn trích như trên.

* Qua đó, ta có thể thấy tình cảm của tác giả đối với nhân vật là thái độ trân trọng đầy cảm thông, tác giả luôn muốn giữ cho nhân vật của mình một chân dung thanh cao, sáng ngời, không bị hòa tục với những bụi trần dơ bẩn kia.

Câu 3:

Các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng:

* Đối xứng giữa 2 câu lục bát với nhau:

Câu 4:

“Nỗi thương mình” của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ đối với văn học trung đại:

Như chúng ta đều biết, văn học trung đại thường đề cao cái “ta” mà ít khi nói đến cái “tôi” cá nhân. Do vậy, “nỗi thương mình” ở đây có ý nghĩa mới mẻ là sự đột phá của cái “tôi” cá nhân. Đặc biệt hơn khi đó là tiếng lòng của người phụ nữ phong kiến, một thân phận gắn với nhiều lễ giáo và bất công. Đây là một sắc thái hoàn toàn mới về sự tự ý thức của con người.

Câu 5:

Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói với Kiều:

Như nàng lấy hiếu làm trinh Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

Đoạn trích Nỗi thương mình góp phần lí giải câu nói trên của Kim Trọng: Mặc dù vì chữ “hiếu” với cha mẹ mà Kiều đã phải hi sinh cả sự trinh trắng của một người con gái, phải trải qua nhiều thăng trầm, biến cố. Nhưng tâm hồn, nhân cách và phẩm giá của nàng vẫn luôn thanh cao, không hề bị vẩn đục giữa dòng đời nhem nhuốc bụi trần. Và Nỗi thương mình chính là đoạn trích diễn tả được sự thanh cao đó của Kiều trong chốn lầu xanh dơ bẩn.

Soạn Bài Trao Duyên (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 106 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Việc Kiều nhắc đến những kỷ niệm của tình yêu có ý nghĩa gì? Lời giải chi tiết:

Việc Kim – Kiều hẹn ước Vân không hề biết. Vì vậy mà Kiều phải kể rõ nguồn cơn cho Vân nghe, nàng kể tha thiết không hề giấu diếm. Trong khi kể với Thúy Vân, Kiều tưởng như sống lại với những kỉ niệm tình yêu:

– Cảnh cùng chàng Kim tặng nhau quạt để nhỏ ý ước hẹn trăm năm (“khi ngày quạt ước”)

– Cảnh hai người ngồi uống chén rượu thề để nguyện chung thủy (“khi đêm chén thề”)

– Những kỉ vật của tình yêu (“Chiếc vành với bức tơ mây”)

Đặc biệt là Kiều tưởng nhớ lại sự kiện đêm thề nguyền thiêng liêng:

– Cảnh Kim trọng cho thêm hương vào lò hương (“mảnh hương nguyền”, “đốt lò hương ấy”).

– Cảnh nàng đàn cho Kim Trọng nghe (“phím đàn”, “so tơ phím này”) Thúy Kiều nói với Thúy Vân mà như nói với chính mình và nói cùng chàng Kim.

* Ý nghĩa:

– Những từ ngữ trên cho thấy trong tâm hồn Kiều, những kỉ niệm tình yêu có sức sống mãnh liệt.

– Thúy Kiều hi sinh tình yêu, trao duyên cho Thúy Vân nhưng con người lý trí không ngăn được con người tình cảm. Tất cả những kỉ niệm về tình yêu được nàng cất giữ cẩn thận. Nàng trao duyên cho Thúy Vân nhưng không thể trao tình. Nàng trao cho Thúy Vân những kỉ vật nhưng không thể trao những kỉ niệm của tình yêu.

– Kiều sống trong hồi ức đẹp nên càng thấy xót nên thấy xót xa, đau đớn khi mọi thứ chia lìa

Câu 2 Câu 2 (trang 106 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Hãy tìm những từ ngữ cho thấy Kiều nghĩ đếnLời giải chi tiết: cái chết. Việc tập trung dày đặc những từ ngữ đó có ý nghĩa gì?

– Suốt quá trình trao duyên, Kiều luôn nghĩ đến cái chết. Khi thuyết phục em nhận lời trao duyên. Kiều đã lấy cái chết làm lời ủy thác (“Chị dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”). Trao kỉ vật cho Thúy Vân xong, Kiều lại nghĩ đến cái chết. Cả một đoạn thơ dài hiện lên mảnh hồn oan sau khi chết của Thúy Kiều như một nỗi ám ảnh: “Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”, “hồn”, “dạ đài cách mặt khuất lời”, “Người thác oan”… Thúy Kiều liên tưởng mảnh hồn oan của mình với hồn ma Đạm Tiên và dự cảm cái chết của mình cũng đầy oan nghiệt. Tiếng nói của Thúy Kiều là tiếng nói thương thân, xót phận của một người con gái tha thiết với tình yêu và không được sống trong tình yêu, nguyện thủy chung với mối tình đầu mà đành chấp nhận “đứt gánh tương tư”, “trâm gãy gương tan”. Kiều nghĩ đến cái chết và cảm thấy đây là cái chết đầy oan nghiệt.

Câu 3 Câu 3 (trang 106 SGK Ngữ văn 10 tập 2) Kiều đối thoại với những ai? Phân tích diễn biến tâm trạng của Kiều qua lời đối thoại trong đoạn trích. Lời giải chi tiết:

– Nếu liên tưởng rộng đến những sáng tác khác của Nguyễn Du như: Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Phản chiêu hồn, Độc Tiểu Thanh kí… ta sẽ nhận thấy một mô-tip nghệ thuật, gọi hồn, tri âm cùng người đã khuất. Sở dĩ có điều này là vì nhà thơ chịu ảnh hưởng của thuyết “luân hồi” trong đạo Phật. Nhưng sâu sắc hơn là nhà thơ luôn quan tâm đến nỗi “kì oan” (nỗi oan kì lạ) của con người. Con người chết đi mà không được siêu thoát, những mảnh hồn oan còn vật vờ cõi nhân gian. Bằng cách này, nhà nhân đạo chủ nghĩa Nguyễn Du đã vượt qua biên giới của sự sinh hóa, trụ diệt để xót đau cho những kiếp đời bất hạnh, oan ức. Đây là một phương diện độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du.

* Với Thúy Vân:

– Toàn bộ đoạn trích, về hình thức là lời Kiều nói với Thúy Vân. Tuy nhiên, nếu lắng nghe thật kĩ ta sẽ thấy nhiều khi Kiều như đang nói với chính mình, có lúc lại nói với Kim Trọng. Việc chuyển đối tượng đối thoại thể hiện khả năng nắm bắt một cách tinh tế quy luật diễn biến tâm trạng nhân vật của tác giả. Nếu chỉ đơn thuần là những lời dặn dò Thúy Vân thì cảm xúc của nhân vật không đạt tới cao trào, bi kịch của thân phận và tình yêu không được đẩy tới đỉnh điểm, nhân cách cao đẹp của Kiều không có điều kiện bộc lộ rõ.

– Với Thúy Vân (hai chữ “cậy” và “chịu” cùng cử chỉ “lạy”) Kiều coi việc nhận lời của em là một sự hi sinh và Kiều đã “lạy” sự hi sinh ấy

– Tiếp theo, Thúy Kiều phân tích cho em hiểu về tình cảm hiện tại khiến nàng không còn cách lựa chọn nào khác (“Sóng gió bất ki “hiếu tình’ không thể vẹn)

– Rồi Kiều động viên, an ủi em: “Ngày xuân em hãy còn dài”

– Kiều viện đến tình máu mủ ruột rà: “xót tình máu mủ” để làm một cồng việc tình nghĩa sâu nặng: “thay lời nước non”.

– Cuối cùng, Thúy Kiều lấy cả cái chết của bản thân ra để ủy thác (“Chị dù thịt nát xương mòn/Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”)

* Với chính mình

Như vậy, Nguyễn Du đã để cho Kiều nói bằng ngôn ngữ của lí trí còn rất tỉnh táo. Kiều không để Vân có cơ hội từ chối, cứ sau một giây thăm dò Kiều lại viện thêm lí lẽ, lí lẽ nào cũng vừa có tình có lí, trên hết vẫn là tình, cách nói, lời nói, cử chỉ thiết tha, cầu khẩu như vậy khiến Thúy Vân không thể từ chối.

Chiếc vành với bức tờ mây Duyên này thì giữ, vật này của chung

– Tâm trạng Thúy Kiều phải trải qua những giằng xé mâu thuẫn, đau đớn đặc biệt trong thời khắc trao kỉ vật cho Thúy Vân:

Mâu thuẫn nằm trong hai chữ “của chung”. Mới đọc tưởng Kiều nói của em với Kim Trọng nhưng lắng nghe từ trong đau khổ của con tim rớm máu sẽ thấy “của chung” có một phần của Kiều, về lí trí Kiều muốn em nên vợ nên chồng, về tình cảm Kiều không thể nói đoạn tuyệt là đoạn tuyệt. Kỉ vật là hiện thân của mối tình vàng đá. Với Thúy Vân nó chỉ là vật đầu đời, cầm kỉ vật là kỉ niệm sống dậy. Nhưng kỉ vật còn đó mà mối tình đành trao, kỉ vật chỉ gợi xót xa, đau khổ mà thôi.

* Với Kim Trọng

Với Kiểu, mất tình yêu là mất mát quá lớn đối với nàng không gì có thể bù đắp được. Kiều rơi vào bi kịch đau thương tang tóc. Nàng đã nghi đến cái chết. Kiều tự coi mình là kẻ đã chết bởi trao duyên là trao cả trái tim mình thì dù có sống cũng như chết. Nỗi đau trong tâm hồn đến cùng cực, nàng mong với sự trở về (dù là hồn ma) có thể gặp Kim Trọng nhưng cả sự trở về ấy cũng không thể an ủi được khiến nàng càng đau đớn hơn.

Tám câu cuối của đoạn trích, Kiều quay sang tâm sự với Kim Trọng trong tưởng tượng. Lời tâm sự chứa đầy mâu thuẫn, đối lập giữa khát vọng tình yêu mãnh liệt và hiện thực phũ phàng. Khát vọng là “kể làm sao xiết muôn vàn ái ân” còn hiện thực là “trâm gãy gương tan”, là “tơ duyên ngắn ngủi”, là “phận bạc như vôi”, đau đớn tan nát hiện thực đã trùm lên khát vọng.

Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang! Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!

Hai câu cuối:

ND chính

Đoạn trích là những dòng thơ lâm li, đau đớn bậc nhất trong Truyện Kiều biểu hiện bi kịch tình yêu tan vỡ mà thực chất là bi kịch của một số phận bất hạnh, sự hi sinh của Kiều khiến nàng trở nên cao thượng. Nỗi đau đớn xót xa của nàng lại cho thấy cái giá của sự hi sinh. Mối quan hệ giữa tình cảm và lí trí, nhân cách và thân phận của Kiểu đã được Nguyễn Du thể hiện một cách sâu sắc, tinh tế.

chúng tôi

Kiều yêu Kim Trọng tha thiết. Nhưng vì chữ “hiếu” nàng buộc phải chọn và nàng đã hi sinh tình yêu. Về lí trí, Kiều nhận thức được tính tất yếu của việc trao duyên cho Thúy Vân, nhưng về tình cảm, nàng yêu với tình yêu sâu sắc, mãnh liệt. Kiều phải thuyết phục bằng mọi cách để Thúy Vân nhận lời; nhưng Kiều vẫn không sao ngăn được nỗi thổn thức, đau đớn, Kiều sẽ thanh thản về lí trí nhưng trái tim thì rớm máu. Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm chính là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức thời phong kiến với tâm hồn con người. Với Thúy Kiều, cả lí trí và tình cảm đều sâu nặng, tạo nên nhân cách của nàng. Đó là một nhân cách trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng, sâu sắc…

– Phần 1: 12 câu đầu: Thúy Kiều tìm cách thuyết phục, trao duyên cho Thúy Vân.

– Phần 2: 14 câu tiếp: Thúy Kiều trao kỉ vật cho em và dặn dò em.

– Phần 3: 8 câu còn lại: Tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng của Thúy Kiều.

Việc bán mình thu xếp xong xuôi, Kiều ngồi thao thức trắng đêm nghĩ đến thân phận và tình yêu lỡ dở của mình. Nàng khẩn khoản nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho chàng Kim.

Soạn Văn 10 Bài: Truyện Kiều

Ngoài tóm tắt truyện Kiều, VnDoc mời thầy cô và các bạn học sinh tham khảo Soạn văn 10 bài: Truyện Kiều, với nội dung bài soạn chi tiết và ngắn gọn sẽ giúp các bạn học sinh học tập hiệu quả hơn môn Ngữ văn lớp 10.

Truyện Kiều – Tác giả

Câu 1 (trang 96 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

– Nhận xét cuộc đời Nguyễn Du: nhiều thăng trầm trong thời đại đầy biến động.

– Những đặc điểm về cuộc đời Nguyễn Du lí giải về thành công trong sáng tác:

Câu 2 (trang 96 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Sự nghiệp văn chương với các sáng tác chính:

– Ba tập thơ chữ Hán:

+ Thanh Hiên thi tập: 78 bài, viết trong 10 năm gió bụi đất Bắc (buồn đau).

+ Nam Trung tạp ngâm: 40 bài, thời gian làm quan triều Nguyễn (buồn đau).

+ Bắc Hành tạp lục: 131 bài, sáng tác trong chuyến đi sứ Trung Quốc (phê phán chế độ phong kiến Trung Hoa ; ca ngợi, đồng cảm với anh hùng, nghệ sĩ tài hoa ; cảm thông với người nghèo khổ, người phụ nữ tài hoa bạc mệnh).

– Chữ Nôm:

+ Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều): 3254 câu, viết thể lục bát truyền thống.

+ Văn chiêu hồn: 184 câu, viết thể song thất lục bát, nội dung nhân đạo sâu sắc.

– Đặc điểm chung các tác phẩm:

+ Thể hiện tư tưởng nhân đạo.

+ Lên án, tố cáo những thế lực đen tối chà đạp con người, ngợi ca, trân trọng con người và vẻ đẹp kì diệu của tình yêu.

Truyện Kiều – Trao duyên

Hướng dẫn soạn bài

– Vị trí đoạn trích: Trích từ câu 723 đến câu 756, mở đầu cuộc đời đầy đau khổ của Kiều khi gia đình gặp biến cố.

Bố cục:

+ 12 câu đầu: Kiều thuyết phục và trao duyên cho Thúy Vân.

15 câu tiếp: Kiều trao kỉ vật và dặn dò.

8 câu cuối: Kiều đau đớn và độc thoại nội tâm.

Câu 1 (trang 106 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Ý nghĩa của việc Kiều nhắc lại các kỉ niệm tình yêu:

– Kiều sống trong kí ức đẹp, càng xót xa, đau đớn phải mang những kỉ vật chia sẻ.

– Kiều nói với Vân mà như nói với chính mình. Nhắc lại kỉ niệm tình yêu cho thấy sức sống mãnh liệt của tình yêu, Kiều trao cho Vân kỷ vật nhưng không thể trao kỷ niệm tình yêu.

Câu 2 (trang 106 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

– Những từ ngữ xuất hiện dày đặc cho thấy Kiều đã nghĩ đến cái chết: thịt nát xương mòn, Ngậm cười chín suối…; người mệnh bạc; Mất người; Thấy hiu hiu gió thì hay chị về; hồn; Dạ đài cách mặt khuất lời; người thác oan.

Không còn tình yêu, Kiều cảm thấy trống trải và vô nghĩa, chỉ nhìn thấy cái chết.

Tư tưởng về cái chết của Nguyễn Du: ảnh hưởng thuyết luân hồi của đạo Phật.

Sự băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du trước nỗi đau của con người, thương thân xót phận cho người con gái tha thiết yêu thương mà số kiếp nghiệt ngã.

Câu 3 (trang 106 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Kiều đối thoại với Vân, với chính mình và với Kim Trọng.

– Với Vân: Kiều biết ơn chân thành, yên tâm, thanh thản vì mâu thuẫn được giải quyết tạm thời.

– Với chính mình: tâm trạng giằng xé đầy mâu thuẫn, đau đớn tột cùng.

– Với Kim Trọng: Khát vọng tình yêu mãnh liệt với hiện thực phũ phàng, Kiều ngất đi trong hình bóng Kim Trọng Ôi Kim Lang…, Kiều tự trách than và đau đớn.

Câu 4 (trang 106 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

– Mối quan hệ tình cảm – lí trí, nhân cách – thân phận: tình yêu – chữ hiếu.

– Lí trí bảo nàng trao duyên cho Vân, hy sinh cứu cha mẹ. Nhưng con tim hướng về tình yêu lại khiến nàng thổn thức, đau đớn. Đó cũng là mâu thuẫn giữa các phạm trù đạo đức phong kiến với tâm hồn con người, cũng là sự đau khổ khi nhân cách đa tình, đa cảm song hành cùng thân phận người làm con.

Truyện Kiều – Nỗi thương mình

Hướng dẫn soạn bài

– Vị trí đoạn trích: Trích từ câu 1229 đến câu 1248, nói lên tình cảnh, tâm trạng của Kiều chốn lầu xanh.

Câu 1 (trang 108 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Bố cục đoạn trích:

4 câu đầu: Tình cảnh trớ trêu của Kiều.

8 câu tiếp: Niềm thương thân xót phận của Kiều.

8 câu cuối: Cảnh đẹp, thú vui, lòng người buồn bã.

Câu 2 (trang 108 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

– Tác giả muốn giữ cho nhân vật của mình một chân dung thanh cao sáng ngời, không bị hòa tục với những bụi trần nhơ bẩn kia (thái độ trân trọng).

Câu 3 (trang 108 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng:

Câu 4 (trang 108 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

Câu 5 (trang 108 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

Đoạn trích góp phần lí giải câu nói của Kim Trọng: “lấy hiếu làm trinh”, vì chữ “hiếu”, Kiều đã phải hi sinh cả sự trinh trắng, trải đời đau khổ. Nhưng “Bụi nào cho đục được mình ấy vay?”. Tâm hồn, nhân cách, phẩm giá của nàng vẫn thanh cao, không vẩn đục giữa dòng đời nhem nhuốc bụi trần. Nỗi thương mình là một đoạn trích diễn tả sự thanh cao ấy của Kiều trong chốn lầu xanh đầy bụi.

Truyện Kiều – Chí khí anh hùng

Hướng dẫn soạn bài

– Vị trí đoạn trích: trích từ câu 2213 đến câu 2230, nói về việc Từ Hải dứt áo ra đi dựng sự nghiệp anh hùng.

Bố cục:

+ 4 câu đầu: Khát vọng lên đường của Từ Hải.

+ 12 câu tiếp: Cuộc đối thoại giữa Từ Hải với Kiều.

+ 2 câu cuối: Hành động dứt khoát của Từ Hải.

Câu 1 (trang 114 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

– Lòng bốn phương: chí nguyện lập công danh, sự nghiệp.

– Mặt phi thường: chỉ tính chất khác người, xuất chúng.

– Sự trân trọng của Nguyễn Du với Từ Hải thể hiện: trượng phu, lòng bốn phương, mặt phi thường, thoắt, trông vời, trời bể mênh mang, thanh gươm yên ngựa…

Câu 2 (trang 114 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Từ Hải bộc lộ lí tưởng anh hùng của mình qua lời nói với Thúy Kiều:

– Trách Kiều là tri kỉ mà không hiểu mình, không luyến tiếc, không vì tình yêu mà quên đi lí tưởng cao cả “tâm phúc tương tri … kì dặm khơi”.

– Tự tin về một tương lai thành công “Bao giờ mười vạn tinh binh … nghi gia”.

Câu 3 (trang 114 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

Cách miêu tả người anh hùng Từ Hải: Khuynh hướng lí tưởng hóa nhân vật bằng bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ, trong đó ước lệ và cảm hứng vũ trụ gắn bó chặt chẽ với nhau. Kiểu mẫu người anh hùng vốn là nhân vật truyền thống trong văn học trung đại với nét đặc trưng là chí khí “bốn phương”, suy nghĩ và hành động ngắn gọn, dứt khoát, hơi hướng lí trí hơn tình cảm.

Truyện Kiều – Thề nguyền

Hướng dẫn soạn bài

– Vị trí đoạn trích: trích từ câu 431 đến câu 452, nói về đêm thề nguyền giữa Kiều và Kim Trọng, hai người nguyện gắn bó thủy chung suốt đời.

Bố cục:

+ 14 câu đầu: Kiều trở lại nhà Kim Trọng.

+ 8 câu còn lại: Cảnh thề nguyền Kim – Kiều.

Câu 1 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

Các từ vội, xăm xăm, băng mang hàm nghĩa : Một phần diễn tả tâm trạng và tình cảm của Kiều, một phần diễn tả động tác vội vàng, khẩn trương đi theo tiếng gọi của tình yêu bất chấp quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến.

Câu 2 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Không gian thơ mộng, thiêng liêng của cuộc thề nguyền:

+ Trong nhà giữa một đêm trăng sáng, ngọc đèn với ánh sáng dìu dịu, hiu hắt.

+ Có tờ giấy viết lời thề, đài sen, lò đào thêm hương, trao kỉ vật tóc mây.

+ Vầng trăng thiên nhiên là nhân chứng.

Câu 3 (trang 116 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2): Liên hệ với trích đoạn Trao duyên để thấy tính lô gíc nhất quán trong quan niệm về tình yêu của Kiều:

Có cuộc thề nguyền thì mới có những kỉ vật trao cho Thúy Vân. Tình yêu Kim – Kiều có gắn bó, mang màu sắc tâm linh (vầng trăng chứng giám). Kiều chân thành, tôn thờ và thủy chung với tình yêu. Nàng dám nghĩ, dám sống và cũng dám hi sinh vì tình yêu. Đó là quan niệm mới mẻ trong văn học trung đại mà Nguyễn Du thể hiện thông qua Kiều.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài: Truyện Kiều Phần 2 – Trao Duyên trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!