Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài: Ông Đồ – Ngữ Văn 8 Tập 2 # Top 4 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài: Ông Đồ – Ngữ Văn 8 Tập 2 # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài: Ông Đồ – Ngữ Văn 8 Tập 2 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả ( các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Vũ Đình Liên trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Ông đồ là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ giàu thương cảm của Vũ Đình Liên. Tuy sáng tác thơ không nhiều, nhưng chỉ với bài Ông đồ, Vũ Đình Liên đã có vị trí xứng đáng trong phong trào Thơ mới.’

* Thể thơ: Bài thơ Ông đồ được viết theo thể thơ 5 chữ.

* Bố cục: Bài thơ Ông đồ có thể được chia làm 3 phần:

Phần 1: khổ thơ 1 + 2 : Hình ảnh ông đồ xưa.

Phần 2: khổ thơ 3 + 4 : Hình ảnh ông đồ nay.

Phần 3: khổ cuối : Hoài niệm của tác giả đối với ông đồ.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Hai khổ thơ đầu:

Hình ảnh ông đồ viết chữ cho ngày tết là một hình ảnh đẹp. Ông xuất hiện cùng với “hoa đào”, “mực tàu”, “giấy đỏ”. Ông đem lại niềm vui cho nhiều người khi viết những câu đối tết. Bao nhiêu người nhờ ông, tấm tắc khen ngợi tài viết chữ của ông.

* Khổ 3 + 4:

Vẫn diễn tả hình ảnh ông đồ trong không gian ấy, thời gian tết đến xuân về nhưng không khí đã có điểm khác biệt: trở nên vắng vẻ qua từng năm, và dần dần không còn ai thuê ông đồ viết chữ như trước nữa. Giấy cũng buồn, mực cũng sầu theo. Ông đồ vẫn ngồi ở vị trí đó, nhưng có vẻ như người ta không ai nhận ra ông, không ai chú ý đến ông nữa, ông gần như bị lãng quên.

* Sự khác nhau trên gợi cho người đọc cảm xúc thương cảm với ông đồ, ông như đang bị gạt ra rìa cuộc sống, ông đang dần bị lãng quên cùng với thú chơi câu đối một thời.

Đặc biệt, hai câu thơ:

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay.

Đây không chỉ đơn giản là hai câu thơ tả cảnh mà còn là hai câu thơ miêu tả cảnh ngộ và tâm trạng của ông đồ. Lá vàng rơi là biểu hiện của sự tàn úa, lại còn kèm theo mưa bụi bay càng thể hiện sự lãnh lẽo và thảm sầu.

Câu 2:

Tâm tư của nhà thơ thể hiện qua bài thơ:

Năm nay đào lại nở

Không thấy ông đồ xưa.

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Nhờ kết cấu đầu cuối tương ứng, cảnh thiên nhiên được hiện lên tươi đẹp còn ông đồ vắng bóng bị dòng đời, bị thời gian quên lãng. Câu hỏi tu từ ở cuối khổ thơ đã thể hiện nỗi niềm thương tiếc của tác giả với ông đồ, với giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc và hơn thế là sự cảm thương một lớp người đã trở thành quá khứ.

Câu 3:

* Bài thơ này hay ở những điểm nội dung và nghệ thuật:

Về nội dung: bài thơ đề cập đến vấn đề có tính vĩnh cửu và khá phổ biến: số phận của con người trong sự thay đổi của cuộc đời. Hơn thế nữa, vấn đề đó lại được gắn chặt với niềm tiếc thương một nét đẹp văn hóa dân tộc càng khiến cho cảm xúc bài thơ trở nên sâu lắng hơn.

Về nghệ thuật:

Thể thơ 5 chữ, kết hợp với lời lẽ dung dị, không có những câu chữ cầu kì, khó hiểu, cùng với hình ảnh thơ gợi cảm, nhuốm đầy tâm trạng.

Kết cấu đầu cuối tương ứng: vẫn là không gian đó, vẫn là thời gian giáp tết, vẫn là hoa đào nở, nhưng hình ảnh ông đồ ngày càng nhạt nhòa dẫn, và cuối bài thơ không thấy xuất hiện hình ảnh ông đồ nữa.

Cách dựng cảnh tương phản: một bên thì tấp nập, đông vui; một bên thì buồn bã, hiu hắt. Một bên thì nét chữ như rồng bay phượng múa; một bên thì giấy bút buồn không thắm, mực đựng trong nghiên sầu.

Câu 4:

Những câu thơ:

Giấy đỏ buồn không thắm 

Mực đọng trong nghiên sầu…

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay.

Đây là những câu thơ không chỉ tả cảnh, tác giả đã dùng biện pháp nhân hóa để làm cho những vật vô tri vô giác (giấy, nghiên mực,…) như cũng biết sầu giống con người. Phải chăng cái buồn của ông đồ đã làm nhiễm sang cảnh vật? Là vàng lại rơi trên giấy không thắm, mưa bụi lại làm cho cảnh vật như bị nhòe mờ. Ông đồ vốn đã bị lãng quên, nay càng bị khuất lấp. Chính những câu thơ này đã làm cho người đọc có ấn tượng và nỗi ám ảnh sâu sắc.

3.4

/

5

(

8

bình chọn

)

Soạn Bài: Nhớ Rừng – Ngữ Văn 8 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Thế Lữ trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Nhớ rừng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Thế Lữ và là tác phẩm góp phần mở đường cho sự thắng lợi của Thơ mới.

* Thể thơ: Văn bản Nhớ rừng được viết theo thể thơ 8 chữ.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bài thơ được ngắt thành 5 đoạn:

Đoạn 1: Cảnh ngộ bị tù hãm và nỗi uất hận, ngao ngán, buông xuôi và sự bất lực của con hổ.

Đoạn 2 + 3: Nỗi nhớ nhung, niềm khao khát tự do mãnh liệt qua những hoài niệm về cảnh núi rừng bạt ngàn, kì vĩ, rất tương xứng với sức mạnh của vị chúa tể sơn lâm.

Đoạn 4: Sự khinh ghét của con hổ với vẻ đơn điệu, tầm thường của khung cảnh vườn bách thú, hoàn toàn đối lập với sự hùng vĩ nơi chốn núi rừng.

Đoạn 5: Niềm đau đớn và nỗi tuyệt vọng của kẻ anh hùng sa cơ và những hoài niệm nơi núi rừng khi xưa với giấc mộng tàn.

Câu 2:

Trong bài thơ có 2 cảnh được miêu tả đầy ấn tượng: cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 2 và đoạn 4); cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa” ( đoạn 2 và 3).

a)

* Cảnh tượng ở vườn bách thú là cảnh tù túng, ngột ngạt

Đoạn 1: thể hiện tâm trạng chán ngán, căm hờn, uất ức của con hổ khi bị giam hãm trong cũi sắt, bị biến thành đồ chơi, trò tiêu khiển cho con người, bị xếp cùng với những loài thú “dở hơi”, “vô tư lự”. Mặc dù vậy, chúa sơn lâm vẫn vượt khỏi sự tù hãm bằng trí tưởng tượng, sống trong nỗi nhớ về cảnh núi rừng đại ngàn.

* Cảnh núi rừng hùng vĩ, oai nghiêm

Đoạn 2 và 3 miêu tả cảnh núi rừng đại ngàn – nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa”. Nơi này, cái gì cũng lớn lao, cao cả và phi thường (bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi). Ở đoạn thơ này, chúa sơn lâm hiện lên với vẻ đẹp vừa tinh tế lại vừa dũng mãnh, uy nghi mà cũng không kém phần mềm mại, uyển chuyển.

b) Có thể nói, việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3 rất đặc biệt. Cảnh núi rừng được miêu tả với hàng loạt từ ngữ chỉ sự cao cả, lớn lao, phi thường (bóng cả, cây già, gào, hét, thét). Trong khi đó, chúa sơn lâm hiện lên với phong thái chậm rãi, khoan thai, được so sánh với sóng cuộn nhịp nhàng.

c)

* Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng nêu trên, tâm sự của con hổ ở vườn bách thú được thể hiện với những nỗi bất hòa, chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và nỗi nhớ da diết với quá khứ huy hoàng trước đây của nó.

* Tâm sự của con hổ cũng chính là tâm sự của người dân Việt Nam mất nước đang sống trong cảnh nô lệ và tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt với những chiến công chống giặc ngoại xâm vẻ vang của dân tộc ta trong lịch sử.

Câu 3:

Tác giả mượn “lời con hổ ở vườn bách thú” vì nó vừa thể hiện được thái độ chán ngán với thực tại tù túng, tầm thường và giả dối, vừa thể hiện được khát vọng tự do, khát vọng đạt tới sự cao cả, phi thường. Hơn thế nữa, khi mượn lời con hổ, tác giả cũng tránh được sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân khi đó. Nhưng dù sao, bài thơ vẫn thể hiện được niềm khao khát tự do thầm kín của những người đương thời.

Câu 4:

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được”. Điều này nói lên việc sử dụng từ ngữ vô cùng điêu luyện của Thế Lữ đã đạt đến độ chính xác cao.

Âm thanh núi rừng, Thế Lữ cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trường ca dữ dội.

Một loạt những từ ngữ được điệp lại “nào đâu…”, “đâu những…” tạo ra sự tiếc nuối quá khứ huy hoàng.

Câu thơ nhịp nhàng, cân đối khi miêu tả dáng điệu hùng dũng, mềm mại của con hổ.

1.8

/

5

(

34

bình chọn

)

Soạn Bài: Khi Con Tu Hú – Ngữ Văn 8 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả ( các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Tố Hữu trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Khi con tu hú được sáng tác trong nhà lao Thừa Phủ, khi tác giả mới bị bắt giam ở đây..

* Thể thơ: Bài thơ Khi con tu hú được viết theo thể thơ lục bát.

* Bố cục: Bài thơ có thể được chia làm 2 phần:

Phần 1: 6 câu đầu : Bức tranh mùa hè.

Phần 2: 4 câu cuối : Tâm trạng của người tù và người chiến sĩ cách mạng.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Nhan đề bài thơ là vế phụ của một câu trọn ý, chỉ thời gian diễn ra sự việc trong câu. Hơn thế nữa, tiếng chim tu hú chính là tín hiệu của sự sống, của mùa hè sôi động.

* Câu văn có 4 chữ đầu là “Khi con tu hú” tóm tắt nội dung bài thơ là: Khi con tu hú gọi bầy cũng là khi đất trời chuyển sang hè, trong không gian lao tù bức bối, ngột ngạt, người chiến sĩ cách mạng lắng nghe tiếng chim tu hú giống như lắng nghe nhịp sống của mùa hè càng thêm cháy bỏng niềm khao khát tự do.

* Tiếng tu hú kêu lại tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhà thơ là bởi vì nó gợi nhắc về một mùa hè tràn đầy sức sống, một mùa hè sôi nổi, phóng khoáng, đối lập hoàn toàn với cảnh tù túng chật chội mà tác giả đang phải chịu.

Câu 2:

* Cảnh mùa hè được miêu tả trong 6 câu thơ đầu hiện lên rất tươi đẹp, dào dạt sức sống, khung cảnh đất trời cao rộng.

* Rất nhiều chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong bài được chọn lọc như: tiếng ve kêu râm ran, lúa chín vàng trên cánh đồng, bầu trời cao rộng với những cánh diều bay liệng và trái cây trong vườn thơm ngọt.

Câu 3:

* Tâm trạng của người tù, người chiến sĩ ở 4 câu thơ cuối: tâm trạng đau khổ, uất ức, ngột ngạt.

Ở những câu thơ này, cách ngắt nhịp đã có sự khác biệt, câu 8 (ngắt 6/2), câu 9 (ngắt 3/3). Kết hợp với đó là những từ diễn tả hoạt động, trạng thái với sắc thái mạnh: dậy, đạp tan, ngột, chết uất và những từ cảm thán, diễn đạt sự bức xúc: ôi, làm sao, thôi, cứ,…

Có thể nói, nếu tiếng tu hú ở đầu bài thơ gợi cho tác giả những cảm nhận về mùa hè sôi động, đầy sức sống, mùa hè của tự do, của niềm háo hức, rộn rã; thì ở những câu thơ cuối, tiếng chim tu hú khiến cho nhà thơ có cảm giác ngột ngạt, u uất lên đến cao độ, lúc này, tâm trạng của người chiến sĩ càng thêm đau khổ, bức bối vì cảnh tù giam hãm, mất tự do.

Câu 4:

Theo em, cái hay của bài thơ nằm trong cả hai phần nội dung và nghệ thuật.

Về nội dung: Bài thơ thể hiện tình yêu đối với cuộc sống tha thiết, niềm khát khao tự do cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng khi bị giam cầm trong nhà tù thực dân.

Về nghệ thuật: Bài thơ có nhiều hình ảnh gần gũi, giản dị mà giàu sức gợi cảm, sử dụng thể thơ lục bát dễ nghe, dễ nhớ, lời thơ tự nhiên và có thể truyền tải được những cảm xúc sâu lắng, đồng thời, góp phần thể hiện được sức sống đang sục sôi của người chiến sĩ cách mạng.

4.3

/

5

(

7

bình chọn

)

Soạn Bài: Lão Hạc – Ngữ Văn 8 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nam Cao trong SGK Ngữ văn 8 tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Lão Hạc là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao, được đăng báo lần đầu tiên vào năm 1943.

* Tóm tắt

Truyện kể về nhân vật Lão Hạc – một nông dân nghèo, vợ mất sớm, con trai lão vì không có tiền lấy vợ nên quẫn trí bỏ đi làm đồn điền cao su. Lão sống cô độc, nghèo khổ với một chú chó tên là cậu Vàng. Sau một trận ốm, lão không đủ sức làm thuê như trước, quá cùng đường, lão ra quyết định đau đớn là bán cậu Vàng. Sau khi bán chó xong, lão đem tiền và mảnh vườn gửi ông giáo – một người trí thức nghèo hay sang nhà lão chơi để lo trước tiền ma chay khi lão mất. Lão nói dối Binh Tư làm nghề trộm chó rằng xin bả chó bắt con chó hay vào vườn nhưng thực ra là tự kết liễu đời mình. Và lão Hạc đã chết trong dữ dội, trong quằn quại, không ai hiểu nguyên nhân ngoại trừ Binh Tư và ông giáo.

* Bố cục:

Văn bản Lão Hạc có thể được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại : Cái chết đau đớn của lão Hạc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1: Diễn biến tâm lí của lão Hạc xung quanh chuyện bán chó:

Mối quan hệ: cậu Vàng vừa là kỉ vật của con trai lão để lại, vừa là người bạn trung thành trong cuộc sống cô độc, quạnh hiu của lão.

Lão đau khổ khi cùng đường phải bán cậu Vàng : “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước… Lão hu hu khóc”, lão đau đớn cùng cực, nghẹn ngào, giày xéo vì “đã trót đánh lừa một con chó”

Câu 2:

* Nguyên nhân cái chết của lão Hạc: túng quẫn, tuyệt vọng sau trận ốm, bán cậu Vàng cũng là mất đi người bạn thân thiết, cảm giác tội lỗi vì trót lừa một con chó, không đợi được con trai về. Có thể nói, lão Hạc chết vì lòng tự trọng, vì tình thương và vì lão quá đỗi lương thiện.

* Qua những điều lão Hạc thu xếp nhờ cậy ông giáo rồi sau đó tìm đến cái chết, em thấy tình cảnh của lão thật éo le, đáng thương, nhưng lão vẫn không muốn nhờ vả, liên lụy đến mọi người xung quanh. Đây là một con người có lòng tự trọng rất cao, hiền hậu, khiêm cung trong cử chỉ, tinh tế, hiểu đời, hiểu người nhưng lại bất lực. Là người cha yêu thương con vô bờ, là một ông lão giàu tình cảm và lương thiện.

Câu 3:

Thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi” đối với nhân vật lão Hạc có sự thay đổi. Ban đầu, nhân vật “tôi” vẫn còn thờ ơ, dửng dưng nghe lão kể chuyện bán chó. Sau đó thấu hiểu và an ủi lão. Khi chứng kiến cái chết của lão Hạc, nhân vật “tôi” đã rất thương cảm và kính trọng nhân cách, tấm lòng nhân hậu của lão.

Câu 4:

Khi nghe Binh Tư cho biết lão Hạc xin bả chó đế định bắt một con chó hàng xóm thì “ông giáo” cảm thấy “cuộc đời quả thật… đáng buồn”. Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn của lão Hạc, “tôi” lại nghĩ: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”.

Ban đầu, khi nghe Binh Tư nói, ông giáo cảm thấy buồn vì sự tha hóa nhân cách con người, thất vọng vì ông cảm thấy lão Hạc đã thực sự đánh mất sự lương thiện bấy lâu nay.

Nhưng khi chứng kiến cảnh lão Hạc chết, ông giáo thấy “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn” vì niềm tin, niềm hi vọng vào xã hội vẫn còn bởi vẫn còn những con người dù nghèo khổ nhưng vẫn giữ được bản chất lương thiện. “Đáng buồn theo một nghĩa khác”, đây là một dấu chấm lặng, cuộc đời vẫn đáng buồn vì số phận hẩm hiu, bất hạnh của những con người lương thiện, buồn vì cái chết đau đớn, dữ dội mà một con người như lão Hạc đang phải chịu.

Câu 5:

* Theo em, cái hay của truyện được thể hiện rõ nhất ở việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể chuyện của nhà văn.

* Việc tạo dựng tình huống truyện bất ngờ có tác dụng làm sáng tỏ nhân cách của lão Hạc trong người đọc và trong những nhân vật khác trong truyện.

* Cách xây dựng nhân vật rất chân thực và sinh động từ ngoại hình cho đến nội tâm sâu sắc.

* Việc truyện được kể bằng lời của nhân vật “tôi” có tác dụng tạo sự gần gũi, thân thuộc. Nhân vật “tôi” kể mà như nhập vào lão Hạc, mọi thứ cảm xúc bộc lộ rất chân thật và sâu sắc.

Câu 6:

Đoạn văn: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bí ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn ; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương ; không bao giờ ta thương… Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất”.

Qua đoạn văn trên, ta thấy ý nghĩ của nhân vật “tôi” thật triết lí, nó nêu lên bài học về cách nhìn người, nhìn đời và cách ứng xử trong cuộc sống. Hơn thế nữa, ý nghĩ này còn thể hiện nhân vật “tôi” (tác giả) có lòng thương người, biết đồng cảm, thấu hiểu với hoàn cảnh, với số phận của người khác.

Câu 7:

Qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ và Lão Hạc, em thấy cuộc sống của người nông dân trong xã hội cũ thật khổ cực, bất hạnh, bị xã hội chèn ép, áp bức, bất công. Mặc dù vậy, phẩm chất của người nông dân vẫn rất cao đẹp, giàu tình thương, không bị hòa hòa trộn trong dòng nước vẩn đục của xã hội phong kiến.

4.4

/

5

(

7

bình chọn

)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài: Ông Đồ – Ngữ Văn 8 Tập 2 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!