Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài Ngữ Văn : Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới # Top 5 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài Ngữ Văn : Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài Ngữ Văn : Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Vũ Khoan)

~~~*~~~ 

I. Đọc hiểu chung

1. Tác giả tác phẩm

a. Tác giả

– Vũ Khoan: là 1 nhà hoạt động chính trị

– Hiện là phó Thủ tướng Chính phủ

b. Tác phẩm

– Viết 2001. In trong tập “Một góc nhìn tri thức”

II. Đọc hiểu văn bản

1. Thể loại

– Nghị luận chính trị xã hội.

2. Bố cục: 3 phần

3. Phân tích

a. Nêu vấn đề 

-Đối tượng, mục đích, nội dung của vấn đề:

+ Thời điểm: 2001 hết sức quan trọng, thiêng liêng và ý nghĩa. 

– Đây là vấn đề của mọi người, của toàn dân tộc, của một đất nước.

b. Giải quyết vấn đề

*Sự chuẩn bị của bản thân con người là quan trọng nhất

– Con người là động lực của lịch sử

+ Ở thế kỉ XXI, vai trò của con người càng nổi trội hơn.

*Bối cảnh thế giới hôm nay.

-Thế giới hiện nay: Khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại (nhanh)

– Việt Nam: giải quyết 3 nhiệm vụ

+ Thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu

+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

+ Tiếp cận với kinh tế tri thức 

*Điểm mạnh-yếu của con người Việt Nam.

– Mạnh:

+ Sự thông minh, nhạy bén với cái mới

+ Sáng tạo, cần cù

+ Đoàn kết, chống giặc ngoại xâm

– Yếu:

+ Thiếu kiến thức cơ bản

+ Thiếu khả năng thực hành và sáng tạo

+ Chưa quen với kinh tế công nghệ

+ Thiếu cẩn trọng, tỉ mỉ..

+ Không đoàn kết trong làm ăn, có tính đố kị.

+ Do thiên hướng chạy theo các môn học thời thượng.

+ Thiếu tính tỉ mỉ

+ Không coi trọng quy trình các quy trình công nghệ

c. Kết thúc vấn đề

– Mục đích đất nước: “Sánh vai với các cường quốc năm châu”

– Biện pháp:

+ Phát huy điểm mạnh, vứt bỏ điểm xấu

+ Sự đột phá của lớp trẻ

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

– Sử dụng thành ngữ, tục ngữ; sử dụng nhiều từ, cụm từ mới

2. Nội dung

– Ghi nhớ (sgk)

Soạn Bài Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới Siêu Ngắn

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1

Bố cục: 3 phần

– Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới.

– Phần 2: tiếp theo cho đến “kinh doanh và hội nhập”: Tình hình thế giới và những nhiệm vụ của đất nước.

– Phần 3: tiếp theo cho đến hết. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới.

Trả lời câu 1 (trang 30 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Tác giả viết bài này vào thời điểm chuyển tiếp giữa hai thế kỉ (thế kỉ XX – XXI).

– Vấn đề: việc chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới của thế hệ trẻ Việt Nam.

– Nhiệm vụ : nhìn nhận những hạn chế cần khắc phục để không bị tụt hậu và bắt kịp bước đi của thời đại. Đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp cận nền kinh tế tri thức.

– Ý nghĩa thời sự và tính lâu dài của nó là: Bài viết chọn đúng thời điểm đất nước đang bước vào giai đoạn chuyển mình. Việc phát huy những điểm mạnh hiện có, khắc phục những điểm xấu, yếu kém đã ăn sâu có tác dụng thay đổi toàn bộ bộ mặt con người Việt Nam, giúp người Việt có thể hội nhập và phát triển.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 30 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

Trình tự lập luận:

– Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người.

– Bối cảnh thế giới và nhiệm vụ của đất nước ta.

– Những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam.

– Nhiệm vụ cả thế hệ trẻ khi bước vào thế kỉ mới.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 30 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

“Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất”. Vì con người là chủ thế mọi thứ, con người sáng tạo và phát minh ra những yếu tố phục vụ cho xã hội. Bởi vậy chuẩn bị bản thân con người là cần thiết nhất.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 30 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Những điểm mạnh:

+ Thông minh, nhạy bén với cái mới;

+ Cần cù, sáng tạo;

+ Tính cộng đồng đoàn kết.

– Những điểm yếu:

+ Kiến thức có chỗ hổng, yếu về thực hành;

+ Thiếu sự tỉ mỉ, thiếu kế hoạch, chưa có thói quen tôn trọng quy trình công nghệ;

+ Chưa quen cường độ khẩn trương;

+ Còn đố kị, sống theo thứ bậc, coi thường kinh doanh, khôn vặt, sùng ngoại, chưa coi trọng chữ tín,…

+ Điểm giống: nêu lên những mặt mạnh của người Việt Nam.

+ Điểm khác: chỉ ra và phân tích những điểm yếu kém của người Việt Nam.

– Thái độ của tác giả: tôn trọng sự thật khách quan, quan tâm đến việc nhận thức toàn diện, không tự mãn nhưng cũng không tự ti, giúp thế hệ trẻ vững tin bước vào thế kỉ mới.

Luyện tập

Trả lời câu 1 (trang 31 Ngữ Văn lớp 9 Tập 2):

– Thời kì chiến tranh, nhân dân các làng bản, vùng quê đem lương thực nuôi bộ đội, giúp bộ đội tránh khỏi sự lùng sục của kẻ thù, sự đoàn kết của quân dân ta đã đánh bại hai kẻ thù lớn là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

– Đoàn Trường Sinh ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 10 năm cõng người bạn bị liệt cả hai chân đi học.

– Nguyễn Văn Nam sinh năm 1995, quê ở huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã 3 lần cứu sống 9 người sắp bị chết đuối, trong lần cứu 5 em nhỏ bản thân Nam đã bị chết đuối.

– Học sinh học thuộc lòng kiến thức để làm các bài kiểm tra mà không hiểu bản chất của vấn đề, không thể vận dụng kiến thức ấy vào những trường hợp mang tính mở rộng.

Trả lời câu 2 (trang 31 Ngữ Văn lớp 9 Tập 2):

– Điểm mạnh của bản thân:

+ Có khả năng tiếp thu kiến thức nhanh

+ Có khả năng nắm bắt khái quát vấn đề.

+ Có tính sáng tạo.

– Điểm yếu của bản thân:

+ Đôi khi còn lười trong suy nghĩ và hành động.

+ Chưa làm việc một cách tỉ mỉ, cẩn thận.

Bố cục

Bố cục: 3 phần

– Phần 1 từ đầu đến “thiên niên kỷ mới”: Sự chuẩn bị bản thân con người là sự chuẩn bị quan trọng nhất trong hành trang bước vào thế kỉ mới.

– Phần 2: tiếp theo cho đến “kinh doanh và hội nhập”: Tình hình thế giới và những nhiệm vụ của đất nước.

– Phần 3: tiếp theo cho đến hết. Những điểm manh, điểm yếu của con người Việt Nam và nhiệm vụ của con người khi bước vào thế kỉ mới.

ND chính

chúng tôi

Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Chuẩn Bị Hành Trang Bước Vào Thế Kỉ Mới

CHUẨN BỊ HÀNH TRANG BƯỚC VÀO THẾ KỈ MỚI

Vũ Khoan

I. Vài nét về tác giả, tác phẩm:

1. Tác giả: SGK 2. Tác phẩm:

– Đăng trên tạp chí “Tia sáng” năm 2001

– In vào tập “Một góc nhìn của tri thức” – năm 2002.

1. Tìm hiểu chung:

– Phương thức biểu đạt: Nghị luận.

– Vấn đề nghị luận: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.

– Bố cục 3 phần

– Hệ thống ý trong phần giải quyết vấn đề:

+ Sự chuẩn bị của bản thân con người.

+ Bối cảnh thế giới hiện nay và mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước ta.

+ Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam.

2. Tìm hiểu chi tiết:

2.1 Đặt vấn đề:

– Vấn đề được nêu một cách trực tiếp, ngắn gọn, rõ ràng.

2.2 Giải quyết vấn đề:

a. Sự chuẩn bị của bản thân con người:

– Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển lịch sử.

– Trong thời kì kinh tế tri thức thì vai trò của con người lại càng nổi trội.

b. Bối cảnh thế giới hiện nay và mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước ta.

– Khoa học, công nghệ phát triển như huyền thoại, sự giao thoa, hội nhập giữa các nền kinh tế ngày càng sâu rộng.

– Nhiệm vụ và mục tiêu của đất nước ta:

+ Thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu.

+ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

+ Tiếp cận nền kinh tế tri thức.

c. Những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam:

– Thông minh, nhạy bén với cái mới nhưng thiếu kiến thức cơ bản, kém khả năng thực hành.

– Cần cù, sáng tạo nhưng thiếu tính tỉ mỉ, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ, chưa quen với cường độ lao động khẩn trương.

– Có tinh thần đoàn kết, đùm bọc nhưng thường đố kị trong làm ăn.

– Thích ứng nhanh nhưng lại nhiều hạn chế trong thói quen và nếp nghĩ, kì thị trong kinh doanh, quen thói bao cấp, thói sùng ngoại, bài ngoại hoặc thói khôn vặt…

2.3: Kết thúc vấn đề:

– Khẳng định, chỉ ra phương pháp hành động.

+ Lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu.

+ Làm cho lớp trẻ nhận ra điều đó…

III. Tổng kết: 1. Nghệ thuật:

– Ngôn ngữ báo chí, gắn với đời sống dân tộc.

– Cách nói giản dị, trực tiếp, dễ hiểu.

– Sử dụng cách nói sinh động, cụ thể, lại ý vị sâu sắc mà vẫn ngắn gọn của tục ngữ, thành ngữ.

2. Nội dung: Ghi nhớ, sách giáo khoa.

IV. Bài tập vận dụng:

Viết đoạn văn từ 7 đến 10 câu trình bày cảm nghĩ của em sau khi học xong văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới”.

Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

Soạn Bài Lão Hạc Trang 38 Sgk Ngữ Văn 8

1. Diễn biến tâm trạng của lão Hạc xung quanh việc bán cậu vàngMặc dù rất yêu thương con chó Vàng, nhưng lảo Hạc cũng phảibán đi vì không nuôi nối nó và sợ tiêu lạm vào số tiền lâu nay lão dành dụm cho đứa con trai, đứa con vì nghèo mà phẫn chí bỏ làng đi:Nỗi đau của người cha bất hạnh này là ở chỗ đó.Lão Hạc toan tính mãi, dằn vặt mãi và do dự mãi mới quyết định gọi người tới bán.Khi chuyện trò với ông giáo về việc bán con chó Vàng, lão cố làm ra vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt ầng ậng nước… Mặt lão đột nhiên co dúm lại. Những vết nhãn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo uể một bên và cái miệng móm mém của lão mếu máo như con nít. Lão hu hu khóc… Lão Hạc cứ day dứt, ăn năn mãi vì già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó. Nhũng chi tiết miêu tả bộ dạng, cứ chỉ của lão lúc ấy cho thấy nội tâm của lão đang đau đớn, xót xa, ân hận đến cùng cực.Tình cảm của lão Hạc đối với con chó Vàng là sự thể hiện gián tiếp tình yêu thương sâu nặng của lão đối với con trai. Từ ngày anh con trai phẫn chí bỏ nhà đi phu đồn điền cao su vì không có tiền cưới vợ, lão Hạc ở nhà đợi con về luôn mang tâm trạng day dứt vì đã không cho con bán vườn lấy vợ. Lão ân hận thấy mình có lỗi vì không lo liệu nổi cho con. Lão cố tâm dành dụm đế khỏa lấp mặc cảm ấy! Do vậy, dù rất thương cậu Vàng nhưng đến nỗi này thì lão cũng phải bán, vì không muốn tiêu phạm vào đồng tiền và mảnh vườn mà lão cố giữ cả cho con trai. Việc phải bán cậu Vàng cho thấy tình thương con của lão Hạc sâu nặng biết bao.2. Nguyên nhân cái chết của lão Hạc. Suy nghĩ về tình cảnh cùng đường và về bản chất, tính cách của lão qua những điều lão thu xếp nhờ cậy “ông giáo” rồi sau đó tìm đến cái chếtTình cảnh túng quẫn, đói khổ ngày càng đe dọa lão Hạc và đấy lão vào con đường chết, tìm một lối thoát cuối cùng. Đủ thấy số phận bi thảm của những người nông dân nghèo khổ ớ những năm đen tối trước Cách mạng tháng Tám.Nhưng suy cho cùng, việc lão tìm đến cái chết một cách tự nguyện cũng vì con. Nên nhớ, khi đó lão Hạc còn ba mươi đồng bạc (một số tiền khá lớn thời bấy giờ) và mảnh vườn ba sào. Nhưng lão nhất quyết không tiêu phạm vào cái vốn liếng cuối cùng mà lão đã dành cho con trai lão. Lão Hạc cũng là người đầy khí tiết, có lòng tự trọng. Thà chịu đói, chịu chết chứ không nhờ người khác.Qua những điều lão Hạc thu xếp và nhờ cậy ” ông Giáo ” , ta thấy lão là người cẩn thận, chu đáo, hay suy nghĩ và nhận biết rõ tình cảnh của mình khi đó. Lão đau đáu một nỗi lo không giữ được ba sào vườn cho con trai. Lão tự trọng, không muốn gây phiền hà cho lối xóm bà con nên đã âm thầm lo liệu mọi đường cho cái chết của mình từ khi bán “cậu Vàng”.3. Thái độ, tình cảm của “ông giáo” đối với lão HạcKhi nghe lão Hạc kể chuyện, “ông giáo” ái ngại cho tình cảnh của lão. Ông an ủi và sau đó nhận lời nhờ cậy của lão. Nhiều lúc ông đã giấu giếm vợ ngấm ngầm giúp đỡ cho người láng giềng tội nghiệp này. Khi hiểu lầm lão Hạc làm liều, ông giáo hơi thất vọng, cảm thấy cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn. Vì xưa nay, ông vẫn tin vào nhân cách của lão Hạc.Đến lúc hiểu ra đó chĩ là sự hiểu lầm. Cái chết của lão Hạc càng làm sáng tỏ thêm vẻ đẹp tâm hồn của lão. Ông giáo thấy “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn” vì cuộc đời vẫn không làm mất đi niềm tin của ông vào bản chất lương thiện của người nông dân lao động. Ông giáo tự hứa trao lại số tiền và ba sào vườn lão đã gửi gắm cho con trai của lão.4. Khi nghe Binh Tư cho biết lão Hạc xin bả chó để định bắt một con chó hàng xóm thì “ông giáo” cảm thấy “cuộc đời quá thật đáng buồn”. Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn của lão Hạc ”ông giáo” đã nghĩ: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”.Ông giáo cảm thấy: “Cuộc đời quá thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn” vì lâu nay ông vẫn tin vào nhân cách của lão Hạc, đâu ngờ “bần cùng sinh dạo tặc” “đến lúc cùng Lão cũng có thể làm liều như ai hết”.Nhưng đó chỉ là hiểu lầm. Lão Hạc xin bả chó là đế tự kết liễu đời mình. Cái chết đột ngột càng làm sáng đẹp thêm những phẩm chất đáng quý của lão. Vì vậy, ông giáo cảm thấy: “Không! Cuộc đời chưa hẳn là đáng buồn” ( vì cuộc đời vẫn còn những con người đáng quý thà chịu chết vật vã đau đớn mà không làm phiền lụy con cái, láng giềng). Sở dĩ ông giáo lại nghĩ: “nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác” là vì trong cuộc đời ấy, những con người lương thiện như lão Hạc không có đất sống, cái giá của người gìn giữ nhân cách đã được nhà văn thế hiện một cách thành công.5. Đặc sắc nghệ thuật của truyệna) Nghệ thuật xây dựng nhân vật chủ yếu là qua nhân vật lão Hạc:Nhà văn Nam Cao rất điêu luyện trong việc xây dựng nhân vật lão Hạc. Bằng phương pháp đối lập, nhà văn tạo vẻ bề ngoài cho lão Hạc dường như lẩm cấm, gàn dở, đôi lúc bị nghi ngờ là phường “đâm heo thuốc chó” nữa. Nhưng bên trong lão lại là một người có vẻ đẹp tâm hồn cao quý, đáng kính trọng. b) Cách dựng truyệnNhà văn dựng truyện chân thực và sinh động. Ông dẫn người đọc vào mạch truyện đầy khéo léo, bất ngờ. Càng lúc truyện càng căng thẳng qua đó, bộc lộ tính cách nhân vật. Anh con trai vì nghèo đói bỏ làng ra đồn điền cao su kiếm tiền Lão Hạc ở nhà chăm sóc con chó của con như một kỉ vật. Rồi do bệnh tật, thất nghiệp, đói kém, lão phải bán chó. Vẫn đói kém do sợ tiêu mất tiền dành dụm, mất vườn của con nên lão gửi tiền và văn tự bán vườn cho ông giáo. Lão xin bả chó của Binh Tư để tự tử. Cái chết đột ngột của lão để giải quyết mâu thuẫn giữa tình thương con và sự đói nghèo. Việc lão xin bả chó của Binh Tư tạo sự hiểu lầm hấp dẫn làm cho hình ảnh lão Hạc sau đó, khi mọi việc được hiểu đúng, sáng đẹp hơn biết bao lần…c) Ngôn ngữ của truyệnTruyện được viết với nghệ thuật ngôn ngữ cô đọng. Nét nổi bật là ngôn ngữ đối thoại và độc thoại đầy chất trữ tình mang cả tình cảm, suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật.6. Sau khi vợ nhận xét không hay về lão Hạc, ông giáo suy nghĩ: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố gắng mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bí Ổi… toàn những cái cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương: không bao giờ ta thương…”.Suy nghĩ của ông giáo thể hiện cách nhìn nhận người nông dân của nhà văn Nam Cao. Theo nhà văn, chúng ta phải nhìn nhận và đánh giá bằng đôi mắt của tình thương và lòng tin mới thấy hết được bản chất tôt đẹp của họ. Đây đúng là một quan điểm tiến bộ, đúng đắn và sâu sắc, đầy tính nhân văn của nhà văn Nam Cao.7. Cảm nhận về cuộc đời và tính cách người nông dân xã hội cũ qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ và truyện ngắn Lão HạcTừ đoạn trích Tức nước vờ bờ và truyện ngắn Lão Hạc, người đọc thấy được tình cảnh túng quẫn, nghèo khổ cùng đường của tầng lớp nông bần cùng trong xã hội thực dân nửa phong kiến.Lấp lánh trong từng trang văn ấy là vẻ đẹp tâm hồn cao quý. lòng tận tụy hi sinh vì người thân ruột thịt của con người lam lũ, cùng khổ nhưng rất đáng kính trọng ấy.Nếu vẻ đẹp tâm hồn của chị Dậu là sức mạnh cua tình thương yêu, của tiềm năng phản kháng thì vẻ đẹp của lão Hạc là vẻ đẹp của nhân cách: của hoa sen nở cánh trong bùn, của con cò lộn cố xuống ao dù chết cũng muốn chết trong sạch.

Đã có app Học Tốt – Giải Bài Tập trên điện thoại, giải bài tập SGK, soạn văn, văn mẫu…. Tải App để chúng tôi phục vụ tốt hơn.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài Ngữ Văn : Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!