Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài: Lòng Yêu Nước – Ngữ Văn 6 Tập 2 # Top 10 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài: Lòng Yêu Nước – Ngữ Văn 6 Tập 2 # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài: Lòng Yêu Nước – Ngữ Văn 6 Tập 2 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

II. Tác phẩm

* Văn bản Lòng yêu nước được trích từ bài báo Thử lửa của I-ri-a Ê-ren-bua. Tác phẩm được viết vào tháng 6 năm 1942, thời kỳ khó khăn nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức xâm lược (1941 – 1945).

*  Tóm tắt:

Lòng yêu nước bắt đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất. Nhớ đến quê hương, người dân Xô Viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê mình. Nỗi nhớ của người vùng Bắc, người xứ U – crai – na, người xứ Gru – di – a, người ở thành Lê – nin – grat không giống nhau nhưng lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê của họ đều trở thành lòng yêu tổ quốc. Người ta càng hiểu sâu sắc hơn về tình yêu đó khi kẻ thù đến xâm lược tổ quốc mình.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Đại ý của bài văn:

Bài văn lý giải ngọn nguồn của lòng yêu nước. Lòng yêu nước bắt đầu từ tình yêu, từ những gì thân thuộc, gần gũi, tình yêu gia đình, xóm làng, miền quê. Và lòng yêu nước càng được bộc lộ một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất khi đất nước có giặc ngoại xâm.

Câu 2:

a) Câu mở đầu đoạn văn trên là: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh”.

Câu cuối đoạn là: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

b) Trình tự lập luận trong đoạn văn trên của tác giả rất linh hoạt, sáng tạo, kết hợp giữa diễn dịch và tổng – phân – hợp trong từng đoạn nhỏ. Ví dụ như:

Câu 1: Nửa đầu nêu ý khái quát, nửa sau tác giả lấy ví dụ cụ thể để chứng minh cho nhận định trên

Câu 3: Vừa triển khai ý của hai câu trên, tác giả vừa nêu tiếp một nhận định mới về lòng yêu quê hương, yêu đất nước.

Câu 3:

Nhớ đến quê hương, người dân Xô – viết ở mỗi vùng đều nhớ đến vẻ đẹp tiêu biểu của quê hương mình, đó là những vẻ đẹp:

Người vùng Bắc thì nhớ đến cánh rừng bên dòng sông Vina hay miền Xu – cu – nô, thân cây mọc là là mặt nước, nghĩ đến những đêm tháng sáu sáng hồng và tiếng “cô  nàng” gọi đùa người yêu.

Người xứ U-crai-na thì nhớ bóng thùy dương tư lự bên đường, cái bằng lặng của trưa hè vàng ánh,…

Người xứ Gru-di-a thì ca tụng khí trời của núi cao, những tảng đá sáng rực, vị mát của nước đóng thành băng rượu vang cay sẽ tu trong bọc đựng rượu bằng da dê,…

Người ở thành Lê-nin-grat nhớ dòng sông Nê-va rộng và đường bệ như nước Nga, nhớ những tượng bằng đồng tạc những con chiến mã lồng lên, nhớ công viên, phố phường,…

Người Mát-xcơ-va nhớ những phố cũ chạy ngoằn ngoèo, điện Krem-li, tháp cổ,…

Có thể nói, tác giả đã chọn lọc những chi tiết giản dị, miêu tả được cái thần của sự vật. Những vẻ đẹp này đã gắn liền với nét riêng của từng vùng, đồng thời, thể hiện sâu sắc nỗi nhớ của những người ở vùng đó.

Câu 4:

Bài văn nêu lên một chân lý phổ biến và sâu sắc về lòng yêu nước. Câu văn trong bài văn thâu tóm được chân lý ấy là: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”.

4.1

/

5

(

37

bình chọn

)

Soạn Bài: Sông Nước Cà Mau – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

2. Tác phẩm

Văn bản Sông nước Cà Mau được trích từ chương thứ XVIII của truyện Đất rừng phương Nam – một truyện dài nổi tiếng của Đoàn Giỏi.

3. Tóm tắt

Văn bản Đất rừng phương Nam miêu tả cảnh quan thiên nhiên, sông nước vùng Cà Mau – mảnh đất tận cùng phía nam của tổ quốc. Cảnh thiên nhiên ở đây thật rộng lớn, hoang dã và hùng vĩ, đặc biệt là những dòng sông và rừng đước. Cảnh chợ Năm Căn là hình ảnh trù phú, độc đáo, tấp nập về sinh hoạt của con người ở vùng đất ấy.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bài văn miêu tả cảnh sông nước Cà Mau – một tỉnh nằm ở cực nam của Tổ quốc.

* Trình tự miêu tả của bài văn là: bắt đầu từ cảm tưởng chung, thông qua sự quan sát thiên nhiên Cà Mau, tác giả đi đến những nét đặc tả kênh rạch, sông ngòi và nét độc đáo của cảnh chợ Năm Căn họp trên mặt nước.

*  Dựa vào trình tự miêu tả trên, chúng ta có thể chia bài văn làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Đặc tả cảnh chợ Năm Căn

Qua bài văn, chúng ta có thể hình dung vị trí quan sát của người miêu tả chính là người đang ngồi trên con thuyền. Và đây cũng là vị trí phù hợp nhất để tác giả có thể quan sát và miêu tả một cách chân thực, chính xác nhất những cảnh vật thiên nhiên đang hiện ra trước mắt mình. Với vị trí quan sát này, những hình ảnh được hiện ra trong bài văn giống như một cuốn phim sống động, có nhiều màu sắc, cảnh trí đan cài và giàu cảm xúc.

Câu 2:

Kênh rạch càng bủa vây chăng chít

Trên thì…dưới thì…chung quanh…cũng chỉ…

Những ấn tượng ấy được tác giả cảm nhận qua những giác quan là: thị giác, thính giác và vị giác. Đặc biệt là cảm giác đơn điệu về màu xanh và…tiếng rì rào bất tận…của rừng, của sóng. Ấn tượng ấy được thể hiện qua những câu văn dài ngắn xen kẽ, biến hóa linh hoạt, vừa tả vừa kể, tạo ra một mạch văn trữ tình lôi cuốn.

Câu 3:

* Qua  đoạn nói về cách đặt tên cho những dòng sông, con kênh ở vùng Cà Mau đã cho ta thấy cách đặt tên các địa danh ở đây rất giản dị, gần gũi, cứ theo những đặc điểm riêng mà gọi thành tên chứ không theo một quy luật nào cả.

* Những địa danh này đã thể hiện được những đặc điểm rất riêng biệt của thiên nhiên vùng Cà Mau so với những vùng đất khác.

Câu 4:

a) Những chi tiết thể hiện sự hùng vĩ, rộng lớn của dòng sông và rừng đước:

Nước ầm ầm đổ ra biển ngày đêm như thác

Con sông rộng hơn ngàn thước

Cá nước bơi hàng đàn đen trũi nhô lên hụp xuống như người ếch bơi giữa đầu sóng trắng

b) * Trong câu “Thuyền chúng tôi chèo thoát qua kênh Bọ Mắt, đổ ra con sông cửa lớn, xuôi về Năm Căn” có những hoạt động: chèo thoát, đổ ra, xuôi về chỉ cùng một hoạt động của con thuyền.

* Nếu thay đổi trình tự những động từ ấy trong câu trên thì sẽ không thể hiện được những trạng thái hoạt động rất phong phú của con thuyền trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

*  Theo em, trong câu này, tác giả đã dùng từ một cách chính xác và rất tinh tế, vì:

Thoát ra: diễn đạt sự khó khăn mà con thuyền phải vượt qua

Đổ ra: chỉ trạng thái con thuyền từ sông nhỏ đến dòng sông lớn

Xuôi về: diễn tả trạng thái nhẹ nhàng của con thuyền xuôi theo dòng nước

c) Những từ miêu tả màu sắc của rừng đước: màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ. Qua những từ đó, vừa thấy được khả năng quan sát và phân biệt những sắc độ của tác giả rất tinh tế, đồng thời, cũng thấy được sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của loài đước.

Câu 5:

Những chi tiết, hình ảnh về chợ Năm Căn thể hiện sự tấp nập, đông vui, trù phú, độc đáo của chợ vùng Cà Mau là:

Những túp lều lá thô sơ bên cạnh những căn nhà hai tầng

Những đống gỗ cao như núi

Những cột đáy, thuyền chài, thuyền buôn dập dềnh trên sóng

Dọc theo sông là những lò than hầm gỗ đước

Những ngôi nhà ban đêm sáng rực đèn măng – sông

Đặc biệt nhất là người ta mua bán, ăn nhậu trên thuyền, trên sông nước

Nơi đây cũng là nơi quần tụ của một cộng đồng người sống hòa hợp: người Hoa Kiều, người Chà Châu Giang, người Miên với đủ giọng nói líu lô, đủ kiểu ăn mặc sặc sỡ.

Câu 6:

Qua bài văn Sông nước Cà Mau, qua cách miêu tả từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, cùng với việc sử dụng những từ ngữ gợi cảm tinh tế của tác giả, người đọc có thể cảm nhận được vẻ đẹp trù phú của vùng sông nước Cà Mau. Đó là một nơi có khung cảnh thiên nhiên hoang dã và hùng vĩ, nơi có những dòng sông rộng lớn và rừng được bạt ngàn, đồng thời, nơi đây cũng có những cảnh chợ Năm Căn đặc sắc, tấp nập và đông vui.

4.7

/

5

(

80

bình chọn

)

Soạn Bài: Lao Xao – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Lao xao được trích từ tác phẩm Tuổi thơ im lặng của nhà văn Duy Khán, được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1987.

* Tóm tắt:

Trời chớm vào hè, cây cối um tùm, tỏa ngát hương hoa, ong bướm nhộn nhịp bay nhảy. Thế giới của các loài chim ở đồng quê hiện lên sinh động với đa dạng các loài chim. Chim Bồ các thì to mồm, chị Điệp nhanh nhảu. Rồi cả sáo sậu, sáo đen, tu hú, chim ngói, chú chim nhạn hiền lành, gần gũi với con người. Bìm bịp thì lại suốt ngày rúc trong bụi cây, chim diều hâu hung ác đuổi bắt gà con, quạ lia lia láu láu dòm chuồng lợn, chim chèo bẻo kẻ cắp nhưng hung hăng, thích đánh nhau, đánh cả diều hâu lẫn quạ. Rồi có cả chim cắt hung dữ đến mức không một loài chim nào trị được thế mà bị chèo bẻo đánh cho ngắc ngoải.

* Bố cục:

Văn bản Lao xao có thể được chia làm 2 đoạn:

Đoạn 2: còn lại: Miêu tả thế giới các loài chim.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

*  Bài văn tả và kể về các loài chim ở làng quê theo trình tự từng nhóm loài gần nhau.

a) Những loài chim được nói đến trong bài văn: bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú, quạ đen, diều hâu, quạ khoang, bìm bịp, chim cắt, chèo bẻo.

b) Các loài chim hoàn toàn được sắp xếp theo từng nhóm loài gần nhau, cụ thể: nhóm chim hiền, nhóm chim dữ và lũ chim ác.

c) Có thể nhận xét, lời kể của tác giả trong bài văn rất tự nhiên. Cách tả mỗi con vật đều rất độc đáo, rất đặc trưng cho hoạt động của mỗi loài. Không những thế, cách xâu chuỗi hình ảnh và chi tiết rất hợp lý và bất ngờ. Đặc biệt, mặc dù mục đích chính của bài văn là miêu tả thiên nhiên, miêu tả về thế giới loài chim, nhưng cảm giác lý thú và tự nhiên mà người đọc cảm nhận được chính là nhờ cảnh đó được miêu tả qua con mắt và trí tưởng tượng của một cậu bé.

Câu 2:

a) Những loài chim được miêu tả:

Chim Bồ các: tiếng kêu các các, vừa bay vừa kêu cứ như là bị ai đuổi đánh

Diều hâu: có cái mũi khoằm, đánh hơi tinh lắm

Chim cắt: cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn

b) Tác giả kết hợp kể và tả trong môi trường sinh sống, trong những hoạt động của chúng và trong mối quan hệ với những loài khác:

Chim Bìm bịp kêu thì chim ác mới ra mặt

Nhạn vùng vẫy tít mây xanh “chéc chéc”

Tu hú đến khi mùa vải chín, khi quả hết, nó bay đi đâu biệt

c) Qua việc miêu tả những loài chim, cho thấy tài quan sát của tác giả rất nhạy bén, tỉ mỉ, vốn hiểu biết phong phú về những loài chim ở làng quê. Đồng thời, chúng ta cũng cảm nhận được tình cảm yêu mến và gắn bó với thiên nhiên, với làng quê của tác giả. Đặc biệt hơn khi nhà văn vẫn giữ nguyên vẹn cho mình cái nhìn và những cảm xúc hồn nhiên của tuổi thơ khi kể và tả về thiên nhiên làng quê.

Câu 3:

Trong bài có sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân gian như thành ngữ, đồng dao, truyện cổ tích:

Thành ngữ: Kẻ cắp gặp bà già; Dây mơ, rễ má; Lia lia láu láu như quạ vào chuồng lợn

Đồng dao: Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu. Sáo sậu là cậu sáo đen. Sáo đen là em tu hú. Tu hú là chú bồ các…

Truyện cổ tích: Sự tích chim bìm bịp, sự tích chim chèo bẻo

Cách cảm nhận đậm chất dân gian về những loài chim trong bài đã tạo nên sự sinh động trong lời kể, giúp cho mạch văn phát triển một cách tự nhiên và gần gũi với con người. Tuy nhiên, trên thực tế, những quan niệm dân gian ấy, bên cạnh nét hồn nhiên, chất phác, nét tự nhiên, gần gũi, thì không phải không có những hạn chế của cách nhìn mang tính định kiến và thiếu căn cứ khoa học. Ví dụ như từ sự tích chim bìm bịp mà cho rằng chỉ khi con chim này kêu thì những loài chim ác, chim dữ mới xuất hiện,…

Câu 4:

Bài văn Lao xao đã mang đến cho em những hiểu biết rất thú vị về các loài chim. Cho em hiểu rõ hơn về đặc điểm, tập tính, hình dáng của một số loài chim mà em chưa biết tới. Qua đó, giúp cho mỗi chúng ta ý thức hơn trong việc giữ gìn và trân trọng những vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc quê hương Việt Nam.

3.4

/

5

(

184

bình chọn

)

Soạn Bài: Động Phong Nha – Ngữ Văn 6 Tập 2

I. Về thể loại

Văn bản Động Phong Nha thuộc thể loại văn bản nhật dụng vừa mang chất văn của một văn bản văn học đơn thuần vừa mang tính chất thời sự, đó là vấn đề bảo vệ môi trường thiên nhiên, bảo vệ danh lam thắng cảnh và phát triển kinh tế du lịch.

II. Tóm tắt

Động Phong Nha nằm trong quần thể hang động thuộc khối núi đá vôi Kẻ Bàng ở miền tây của tỉnh Quảng Trị. Động gồm hai bộ phận chính: động khô và động nước. Động khô vốn là một dòng sông ngàn đã kiệt nước, chỉ còn những vòm đá trắng vân nhũ, vô số cột đá màu xanh ngọc bích óng ánh. Động nước là một con sông ngầm, động chính gồm đến 14 buồng. Động Phong Nha là một cảnh đẹp, một điểm du lịch, thám hiểm và nghiên cứu khoa học vô cùng lý thú.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Đọc kỹ bài văn phần Chú thích, từ đó, cố gắng hình dung ra vẻ đẹp kỳ ảo của Động Phong Nha, nơi được coi là “Đệ nhất kì quan”.

Câu 2:

Văn bản Động Phong Nha có  2 cách chia như sau:

* Chia làm 2 đoạn:

Đoạn 2: còn lại: Khẳng định những giá trị của động Phong Nha, sức thu hút của động đối với khách tham quan và việc đầu tư khai thác để sớm biến động Phong Nha trở thành một địa điểm du lịch, thám hiểm và nghiên cứu khoa học.

*  Chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lai: Khẳng định những giá trị của động Phong Nha, nêu những tiềm năng của Phong Nha trong việc khai thác du lịch, thám hiểm và nghiên cứu khoa học.

Câu 3:

* Cảnh sắc của động Phong  Nha được tác giả miêu tả theo trình tự không gian, từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ ngoài vào trong:

Giới thiệu vị trí của quần thể động Phong Nha

Hai đường thủy, bộ vào động cùng gặp nhau ở bến sông Son

Hai bộ phận chính của hang là động khô và động nước

Động chính với 14 buồng nối đuôi nhau bởi một hành lang chính và nhiều hành lang phụ

Vào sâu nữa là những dòng sông ngầm dưới khối núi đá vôi và khu rừng nguyên sinh

Đặc tả vẻ đẹp lộng lẫy, kỳ ảo của động Phong Nha

* Vẻ đẹp của Động khô và Động nước được miêu tả qua những chi tiết:

Vẻ đẹp của Động khô:

Độ cao 200m

Nguồn gốc: xưa là một dòng sông ngầm

Những vòm đá trắn vân nhũ và vô số cột đá màu xanh ngọc bích óng ánh

Vẻ đẹp của Động nước:

Có một con sông ngầm dài chảy suốt ngày đêm dưới núi đá vôi nối Kẻ Bàng và khu rừng nguyên sinh

Đặc điểm: sông sâu và nước trong

Có thể nói, động Phong Nha mang vẻ đẹp lộng lẫy, kỳ ảo, hiếm có. Từ các khối thạch nho hiện lên với đủ hình khối (hình con gà, hình con cóc, có khối xếp thành đốt trúc dựng đứng, hình mâm xôi, hình cái khánh, hình các tiên ông đang ngồi đánh cờ) và huyền ảo về sắc màu lóng lánh như kim cương không bút nào lột tả hết. Không những thế, âm thanh nơi đây cũng khác lạ: một tiếng nước gõ long tong, một tiếng nói trong hang động đều có âm vang riêng, khác nào tiếng đàn, tiếng chuông nơi cảnh chùa, đất Bụt. Và đây đó, trên vách động còn rủ xuống những nhánh phong lan xanh biếc. Du khách như lạc vào một thế giới khác lạ – thế giới của tiên cảnh: vừa có nét hoang sơ, bí hiểm, lại vừa rất thanh thoát và giàu chất thơ. Thật vô cùng xứng đáng với danh hiệu “kì quan đệ nhất động” của Việt Nam.

Câu 4:

a) Nhà thám hiểm đã nhận xét và đánh giá động Phong Nha là động dài nhất và đẹp nhất trên thế giới, bao gồm 7 cái nhất:

Hang động dài nhất

Cửa hang cao và rộng nhất

Bãi cát, bãi đá rộng và đẹp nhất

Có những hồ ngầm đẹp nhất

Hang khô rộng và đẹp nhất

Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất

Sông ngầm dài nhất

b) Lời đánh giá trên vừa khích lệ vừa nhắc nhở mỗi con người chúng ta cần phải biết bảo tồn, biết đầu tư tôn tạo và khai thác tiềm năng của động Phong Nha một cách hiệu quả và hợp lý.

Câu 5:

Động Phong Nha đã và đang trở thành một địa điểm du lịch, thám hiểm và nghiên cứu khoa học thu hút nhiều nhà khoa học, nhà thám hiểm trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, muốn phát huy được những giá trị tuyệt vời của động, mọi người cần phải có thái độ tích cực trong việc đầu tư, bảo vệ và giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên của cảnh quan.

4.2

/

5

(

127

bình chọn

)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài: Lòng Yêu Nước – Ngữ Văn 6 Tập 2 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!