Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài Làng Hay Nhất Lớp 9 # Top 9 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Soạn Bài Làng Hay Nhất Lớp 9 # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Soạn Bài Làng Hay Nhất Lớp 9 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Soạn bài Làng lớp 9

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Kim Lân (1920 – 2007), tên thật là Nguyễn Văn Tài, là một nhà văn Việt Nam.

Ông quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là làng Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết bậc tiểu học rồi phải đi làm. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941.

Một số truyện: Vợ nhặt, Đứa con người vợ lẽ, Đứa con người cô đầu, Cô Vịa,…

2. Tác phẩm

Làng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn Kim Lân viết về làng quê và những người dân quê Việt Nam.

Truyện ngắn được sáng tác vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và được đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

Bố cục:

Phần 1 (từ đầu đến “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá”): Ông Hai nghe tin tức chiến đấu của quân ta.

Phần 2 (tiếp theo đến “cũng vợi đi được đôi phần”): Tâm trạng phức tạp của ông Hai khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc.

Phần 3 (Còn lại): Niềm vui, niềm tự hào, xúc động của ông Hai khi nghe nghe tin làng chợ Dầu theo giặc được cải chính.

II. Hướng dẫn Soạn bài Làng lớp 9

Câu 1 trang 124 SGK văn 9 tập 1

Truyện “Làng” đã xây dựng được môt tình huống truyện độc đáo làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê, tình yêu đất nước của nhân vật ông Hai. Đó là tình huống: Ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu quê mình theo giặc đúng lúc đnag nghe được tin quân ta thắng trận.

Câu 2 trang 124 SGK văn 9 tập 1

Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện:

Khi nghe tin đột ngột làng chợ Dầu theo giặc: “cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da tê rân rân, ông lão lặng đi, tưởng như không thở được, một lúc sau ông mới hỏi lại giọng lạc hẳn đi nhưng ông chưa tin, đến khi những người tản cư kể rành rọt quá, ông không thể không tin”

Khi về nhà: “mặt cúi gằm xuống đất, về đến nhà ông vật ra gường, nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão tràn ra, đau đớn rít lên, nguyền rủa bọn phản bội”; suốt ngày ở trong nhà, chẳng chịu đi đâu, chỉ quanh quẩn để nghe ngóng tình hình bên ngoài, có đám đông xúm lại ông cũng để ý, dăm bảy tiếng cười nói xa xa ông cũng chột dạ, lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý mình.

Khi đi nghe tin cái chính làng chợ Dầu không theo giặc: ông Hai “bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên”. Ông mua bánh chia cho các con, lại đi khắp nơi khóc về làng ông như xưa nhưng bây giờ, trong câu chuyện của ông có thêm cái tin Tây đốt làng ông, đốt cả nhà ông nữa.

Câu 3 trang 124 SGK văn 9 tập 1

Ông nói chuyện với đứa con của mình như vậy là bởi vì không biết phải tự giãi bày, tự minh phân trần lòng mình với ai nên ông nói chuyện với đứa con nhỏ.

Qua lời trò chuyện của ông Hai với con:

Ông Hai rất yêu làng của mình (Việc nhắc con nhớ về làng mình) nhưng là làng Chợ Dầu trước đây, làng kháng chiến.

Ông Hai cũng rất yêu đất nước, lòng chung thành một lòng với kháng chiến, với cách mang, với Bác Hồ.

Câu 4 trang 124 SGK văn 9 tập 1

Nhận xét về nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngôn ngữ nhân vật ông Hai:

Nghệ thuật miêu tả cụ thể gợi cảm các diễn biến nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đặc biệt tác giả diễn tả rất đúng và gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật.

Đặt nhân vật vào tình huống thử thách bên trong đề bộc lộ chiều sâu tâm trạng.

III. Luyện tập về bài Làng

Câu 1 trang 124 SGK văn 9 tập 1

Đoạn văn:

Cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:

– Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại…

Phân tích:

Khi nghe làng Chợ Dầu quê hương ông theo giặc:

Lúc đầu vì thông tin đến một cách quá bất ngờ khiến cho ông lão không thể phản ứng lại được, có phản ứng lại cũng chỉ là sự tê tái của niềm tin bị phản bội: “Cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được”.

Ngay trong lúc ông đang sung sướng khi nghe được tin vui chiến thắng của quân ta thì lại được báo tin làng kháng chiến mà ông tự hào bấy lâu theo giặc điều đó khiến cho ông khó lòng mà tin được nên ông mới hỏi lại, giọng lại hẳn đi.

Câu 2 trang 124 SGK văn 9 tập 1

Những truyện ngắn, bài thơ viết về tình cảm quê hương, đất nước: Tre Việt Nam(Nguyễn Duy), Quê hương (Đỗ Trung Quân).

Nét riêng của truyện ngắn Làng: tình yêu quê hương và tình yêu đất nước được đặt trong sự gắn bó khăng khít với nhau, hòa quyện, thống nhất với nhau. Đó là hai tình cảm không thể tách rời và tình yêu quê hương là cơ sở cho tình yêu tổ quốc.

Nguồn Internet

Tóm Tắt Văn Bản Làng Môn Văn Lớp 9 Hay Nhất

Chúng tôi giới thiệu đến các em bài tóm tắt văn bản Làng Ngữ Văn 9, giúp các em khái quát được nội dung tác phẩm. Đồng thời cũng giúp cho việc phân tích truyện ngắn Làng dễ dàng, hiệu quả hơn.

1.1. Bài làm 1: Tóm tắt bài Làng của Kim Lân

1.2. Bài làm 2: Tóm tắt văn bản Làng Kim Lân

Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

1.3. Bài làm 3: Tóm tắt văn bản Làng Ngữ Văn lớp 9

– Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

– Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết.

– Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.

– Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.

– Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

– Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

1.4. Bài làm 4: Tóm tắt văn bản Làng của Kim Lân lớp 9

Các em CLICK vào file tải bên dưới để xem full mẫu bài làm 4: Ngữ Văn 9 tóm tắt văn bản làng

Soạn Bài Chị Em Thúy Kiều Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất

SOẠN BÀI CHỊ EM THÚY KIỀU LỚP 9 HAY NHẤT

I.Tìm hiểu chung:

1, Tác giả

Nguyễn Du (1766-1820)

Quan nhà Lê trung hưng và nhà Nguyễn

2, Tác phẩm

Truyện Kiều ( tham khảo sách giáo khoa)

Đoạn trích Chị em Thúy Kiều

Nằm ở phần đầu của kiệt tác

Khắc họa chân dung hai chị em Thúy Vân và Thúy Kiều

II. Đọc hiểu văn bản Chị em Thúy Kiều

Câu 1 trang 81 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Bố cục đoạn trích:

Bốn câu thơ đầu: Giới thiệu về hai chị em

Bốn câu tiếp: Tả vẻ đẹp của Thúy Vân

Mười hai câu tiếp: Tả tài sắc vẹn toàn của Thúy Kiều

Bốn câu cuối: Cuộc sống hai chị em

Câu 2 trang 81 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Phác họa chân dung của Thúy Vân:

Vân xem trang trọng khắc vời

khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa tươi ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Nguyễn Du đặc tả chân dung của Vân dựa vào những hình thượng mang đậm tính ước lệ trung đại. Lấy thiên nhiên làm chuẩn mực, Vân mang một vẻ đẹp phúc hậu trang nhã của người thiếu nữ phong sắc hương tình, vẻ đẹp ấy rất hòa hợp với thiên nhiên, được thiên nhiên khiêm nhường:

Khuôn mặt tròn trịa đầy đặn như trăng

Long mày sắc nét đậm như con ngài

Miệng cười tươi như hoa

Giọng nói trong như ngọc

Mái tóc đen tựa mây

Làn da trắng như tuyết

Vẻ đẹp ấy dự báo một cuộc đời êm đềm, bình lặng và suôn sẻ

Câu 3 trang 81 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Nhan sắc của Kiều vẫn được gợi tả bằng những hình ảnh ước lệ nhưng còn có sự chấm phá tạo điểm nhấn:

Kiều cằng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn

Làn thuy thủy nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

“Sắc sảo mặn mà” là hai cụm từ được dùng để lột tả vẻ đẹp của Thúy Kiều. Cách tác giả miêu tả Vân trước, Kiều sau chính là thủ pháp đòn bẩy khiến cho vẻ đẹp của Thúy Kiều để lại ấn tượng sâu đậm.

Ở Vân, tác giả miêu tả toàn bộ dáng hình nhưng ở Thúy Kiều, tác giả tập trung đặc tả đôi mắt và đôi lông mày, bởi đôi mắt là cửa sổ tâm hồn của con người.

“làn thuy thủy” đôi mắt ấy tựa hồ nước mùa thu, trong vắt phẳng lặng êm đêm,

“Nét xuân sơn” đôi mày tựa nét núi mùa xuân, tươi tắn tràn đầy sức sống

Câu 4 trang 81 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Ở Thúy Kiều, tác giả không chỉ gợi tả nhan sắc mà còn ca ngợi tài năng của nàng

“Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”. Tài năng ấy đạt mức lí tượng với chuẩn mực của phong kiến: Cầm, kì, thi,họa. Trong các tài ấy, nàng giỏi nhất là cầm, cung đàn bạc mệnh mà nàng tự sáng tác ghi lại tiếng lòng của mình, đó là một trái tim đa sầu đa cảm. Vẻ đẹp của nàng và tài năng của nàng khiến cho người ta hâm mộ mà cũng tiếc thương cho một “hồng nhan bạc mệnh”

Câu 5 trang 81 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Ở đoạn trích, chân dung của Thúy Vân được khắc họa trước, Thúy Kiều được tả sai, nổi bật hơn. Có lẽ vì dụng ý của tác giả, miêu tả Thúy Vân để làm nền, sử dụng linh hoạt thủ pháp đòn bẩu để đặc tả sắc tài của Kiều. Từ số lượng câu trong đoạn trích cũng thể hiện rõ điều này.

III Luyện tập đoạn trích chị em Thúy Kiều

Học sinh tự học thuộc đoạn trích

Nguồn Internet

Soạn Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Lớp 9 Đầy Đủ Hay Nhất

SOẠN BÀI BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH LỚP 9 HAY NHẤT

I,Tìm hiểu chung

1.Tác giả

Phạm Tiến Duật (1941-2007)

Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống mỹ

2.Tác phẩm

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Trích tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” năm 1970

Sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt

3. Bố cục:

Hai khổ đầu: Tư thế hiên ngang ra trận của những người lính lái xe tiểu đội xe không kính.

Bốn khổ thơ tiếp theo: Tinh thần dũng cảm, lạc quan của những người lính.

Khổ thơ cuối: Ý chí quyết tâm chiến đấu vì miền Nam.

II Đọc hiểu văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Câu 1 trang 132 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Điểm khác biệt ở nhan đề bài thơ là:

Số lượng chữ dài hơn bình thường, độc đáo, rõ thấy mang dụng ý nghệ thuật của nhà thơ

Trong nhan đề có từ “bài thơ” tưởng thừa nhưng thực chất là để tăng tinhd hiện thực cho bài

Câu 2 trang 132 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn được Pham Tiến Duật khắc họa rất nổi bật. Với một tư thế và phong thái rất đỗi anh hùng

Tư thế: ung dung đường hoàng ngồi trong buồng lái

Phong thái: Hiên ngang, lạc quan, coi thường hiểm nguy vất vả ( mưa, bụi, ướt áo, vỡ kính, hỏng xe, xước thùng, hỏng mui,..)

Tâm hồn lãng mạn, yêu đời khi đối mặt với gian nan

Họ là những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ thanh nên Việt Nam thời kì chống Mỹ

Câu 3 trang 132 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Giọng thơ ngang tàn, pha chút nghịch ngợm nhưng lại rất phù hợp dùng để miêu tả tư thế và phong thái những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn đầy gian nan hiểm trở

Ngôn ngữ giản dị gần gũi với lời nói thường ngày, như lời đối thoại tâm tình:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ mất rồi

Câu 4 trang 132 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Cảm nhận về hình ảnh những người lính lái xe:

Vẻ đẹp người lính lái xe với tư thế hiến ngang ung dung, tự tin và yêu đời( “Ung dung buồng lái ta ngồi/Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng”)

Vẻ đẹp của họ làm nên một bức chân dung tinh thần của người lính bất chấp tất cả những gian khó hiểm nguy

Họ có một tình đồng chí, đồng đội cao đẹp

II Luyện tập Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Câu 1 trang 133 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Học sinh tự học thuộc lòng bài thơ

Câu 2 trang 133 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1

Những cảm giác ấn tượng của người lính lái xe không kính trên đường Trường Sơn được tác giả Phạm Tiến Duật khắc họa một cách chân thực và sống động:

Họ nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng, gió như sa như ủa vào buống lái, làm cho đôi mắt người lính cay xè

Họ thấy những con đường dài tăm tắp chạy thẳng vào tim, sao trời và cánh chim

Nghệ thuật được tác giả sử dụng rất nhiều đó là nghệ thuật phóng đại và ẩn dụ, làm cho hình ảnh người lính càng trở nên rõ nét và chân thật

Nguồn Internet

Bạn đang đọc nội dung bài viết Soạn Bài Làng Hay Nhất Lớp 9 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!