Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Trong Chương Trình Ngữ Văn 11 / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Trong Chương Trình Ngữ Văn 11 / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Trong Chương Trình Ngữ Văn 11 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngữ Văn là môn học gắn với cái đẹp. Học Ngữ Văn (nhất là phân môn Giảng văn) là học cách khám phá cái đẹp của thế giới tự nhiên, của cuộc sống và con người. Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bộ môn, cho nên mối quan tâm của giáo viên Ngữ Văn nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh.

Trước đây, văn bản nghị luận ít được đưa vào chương trình phổ thông do nhiều người cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến những tư tưởng trừu tượng, diễn đạt khô khan nên không gây được sự hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh.

Hiện nay, văn nghị luận đã được đánh giá đúng với vai trò, ý nghĩa đích thực của nó. Văn nghị luận không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay.

Xét theo tiêu chí nội dung luận bàn, người ta phân văn nghị luận thành hai thể:

– Văn chính luận (luận bàn về các vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức.) như Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi, Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh, Về luân lý xã hội ở nước ta (trích “Đạo đức và luân lí Đông Tây”) – Phan Châu Trinh, Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức – Nguyễn An Ninh

– Văn phê bình văn học (luận bàn các vấn đề văn học nghệ thuật) như Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh, Mấy ý nghĩ về thơ – Nguyễn Đình Thi.

Xét theo tiêu chí hình thức thể loại, người ta chia ra: văn nghị luận thời trung đại (chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần, .) và văn nghị luận hiện đại (tuyên ngôn, lời kêu gọi, phê bình, xã luận.)

Mặc dù khác nhau về thời điểm ra đời, về thể loại, về nội dung luận bàn nhưng các văn bản nghị luận đều có điểm chung là bộc lộ tính trí tuệ uyên bác, tình cảm sâu sắc của người viết.

" nên vua Quang Trung dùng "cầu" chứ không ra lệnh. Trong đoạn mở đầu, Ngô Thì Nhậm đã xây dựng một tiền đề vững chắc, thuyết phục bằng thao tác so sánh với hai lập luận: - Lập luận 1: người hiền "như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần", suy ra "người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử". Để tạo tiền đề vững chắc cho lập luận, tác giả lại mượn ý của Khổng Tử trong sách "Luận ngữ" để tạo sự thuyết phục: lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao Bắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ chầu về. Như vậy tác giả vừa tôn vinh những bậc nho sĩ (như sao sáng) vừa khẳng định rằng triều đại mới là một triều đại dùng đức để cai trị đất nước. - Lập luận 2: Sao che mất ánh sáng thì sẽ mất đi vẻ đẹp, người hiền mà không cống hiến tài năng đó cho nước, cho đời là trái mệnh trời. Hai lập luận đều hướng đến khẳng định một điều: người hiền muốn được công nhận phải cống hiến tài năng cho đời. Ngô Thì Nhậm muốn nhắn gửi đến hiền tài sứ mệnh của chính họ. Từ hai lập luận này, có thể xuất hiện tình huống có vấn đề giả định: Giả sử Ngô Thì Nhậm chưa từng làm quan triều Lê - Trịnh thì sức thuyết phục của lập luận này sẽ như thế nào ? Với tình huống này, học sinh dựa vào tư liệu đã thu thập được về Ngô Thì Nhậm để lí giải: nếu Ngô Thì Nhậm chưa từng phụng sự cho triều Lê - Trịnh thì giới nho sĩ Bắc Hà sẽ cho rằng ông không hiểu được nghĩa tình mà triều cũ đối đãi với họ nên sẽ không thuyết phục được giới nho sĩ Bắc Hà. Sự thực thì Ngô Thì Nhậm đã từng làm quan triều cũ, được triều cũ rất trọng dụng. Nay ông nhận thấy triều đại mới đáng để phụng sự nên bỏ qua tư tưởng 'trung thần bất sự nhị quân". Hoặc giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề không phù hợp: Ngô Thì Nhậm lập luận "người hiền" có sứ mệnh phục vụ đất nước. Vậy trong xã hội hiện nay, sứ mệnh đó thuộc về ai? Hiện nay không chỉ người học rộng tài cao mới có sứ mệnh của "người hiền" mà tất cả mọi người có năng lực đều cần phải biết rõ mình nên làm gì. Từ việc giải quyết tình huống trên học sinh nhận ra rằng một cá nhân rụt rè, nhút nhát hoặc ích kỉ, tự phụ thì khó mà khẳng định được vị thế của mình trong xã hội để từ đó học sinh rút ra bài học về cách sống ở đời: sống tự tin, bản lĩnh và cống hiến hết mọi khả năng của mình. Đó mới là ý nghĩa của cuộc sống mỗi người. Trong phần 2 (đoạn 2,3,4) Ngô Thì Nhậm nêu lên lòng khát khao người hiền của Vua Quang Trung. Đoạn 2 như một điểm tựa bắt nguồn từ những sự việc của quá khứ gần "Trước đây thời thế suy vi", giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề không phù hợp: Ngô Thì Nhậm mở đầu bằng "Trước đây thời thế suy vi" tức đưa người đọc ngược dòng lịch sử, trở về với mạt thời Lê Trịnh. Vì sao tác giả lại gọi đó là thời suy vi trong khi bản thân đã từng phục vụ triều cũ? Ngô Thì Nhậm vừa thuyết phục trí thức Bắc Hà (theo ý định của Quang Trung) vừa nêu nhận xét của bản thân. Thời Lê - Trịnh, hiền tài không được trọng dụng. Vì thế cách hành xử tích cực nhất của họ là giữ gìn khí tiết trong sạch bằng cách trốn tránh, ẩn dật hoặc là dè dặt, giữ mình ở chốn quan trường. Thời thế không cho phép họ tự thể hiện mình. Từ đó học sinh thấy rằng trong cuộc sống, phải thể hiện năng lực của bản thân trong mọi hoàn cảnh. Hay giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề xung đột, tương phản: Ngô Thì Nhậm đã nhìn họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh sống (hoàn cảnh rộng - lịch sử xã hội). Chỉ những nhân tài kiệt xuất như Quang Trung Nguyễn Huệ mới có khả năng tạo ra thời thế, còn phần lớn con người đều ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh xã hội. Cách ứng xử của các bậc hiền tài trước đây có nghĩa là họ đã làm chủ được hoàn cảnh hẹp (hoàn cảnh trực tiếp) của bản thân mình. Bài học được rút ra là cách đánh giá con người, phải nhìn nhận họ trong mối quan hệ qua lại với hoàn cảnh sống để có thái độ đánh giá đúng mực. hoặc có thể nêu câu hỏi gợi mở: Tác giả dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ (ở ẩn trong ngòi khe, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõ canh cửa, ra biển vào sông, chết đuối trên cạn,) trong thời thế suy vi nhằm mục đích gì? Mục đích của Ngô Thì Nhậm muốn nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng của hiền tài (biện pháp kích tướng). Ở đoạn 3, tác giả thay lời vua để thổ lộ những tâm tư sâu kín, đó là nỗi niềm canh cánh chờ mong sự xuất hiện của hiền tài "nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi", hàng loạt câu hỏi "Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng ? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?". Giọng văn bình dị như một lời tâm tình làm gần hơn khoảng cách giữa vua với các hiền tài. Trong đoạn 4, Tác giả không hô hào, kêu gọi mà đặt ra một câu hỏi day dứt "Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn này, há trong đó không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?" vì trọng trách quốc gia không chỉ một mình vua gánh vác được. Như vậy, tác giả đề cao vai trò của hiền tài trong việc trị nước; mặt khác lại đánh vào tâm lý, khơi gợi lòng tự trọng của họ. Lời văn nhẹ nhàng mà lí lẽ, lập luận thì sắc sảo, có sức thuyết phục cao vừa lay động chí, vừa chuyển tâm ý của người hiền tài. Hòa quyện trong mỗi lời văn là tình và lí: một bên là sự cần thiết của nước nhà, một bên là tấm lòng ưu ái của nhà vua dành cho các bậc hiền tài. Đoạn 3,4 có chung một cấu trúc: kể, liệt kê thực trạng để tìm cách khơi gợi, kích động những người hiền tài. Từ đó kết đoạn là những câu hỏi tu từ xoáy sâu, nhấn mạnh, khích lệ họ hãy nhanh chóng ra giúp dân giúp nước. Giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ (gợi cái tầm thường trong cuộc sống ẩn dật), khi thì lắng lại, khiêm nhường, thành tâm; khi thì khích lệ, cổ vũ người hiền ra giúp chính quyền buổi đầu Phần 3 (đoạn 5, 6) nêu lên chính sách cầu hiền cụ thể, công bằng, mở rộng cửa cho người hiền giúp vua, giúp nước. Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, lời nói nào dùng được thì cất nhắc, không kể thứ bậc, không dùng thì gác lại không bắt tội. Đối với người có nghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử dụng. Đối với những người tài năng còn bị che kín thì dâng sớ tự tiến cử Quan điểm về hiền tài của vua Quang Trung thật tiến bộ, hợp lòng dân, tạo con đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước. Lời kêu gọi ở đoạn 6 của tác giả sôi nổi, nhiệt thành nhấn mạnh lại cơ hội lập danh, lập thân của người hiền thực sự đã đến làm nức lòng hiền tài bốn bể. Như vậy, trong văn nghị luận, lí lẽ, hình ảnh, cảm xúc và giọng điệu thường hòa quyện chặt chẽ đem lại sự thuyết phục cả về lý trí và tình cảm đối với người đọc, người nghe. "Chiếu cầu hiền" đã kích thích niềm tự tôn, tự hào của các nhân tài, động viên họ đem đức tài ra giúp dân, giúp nước. Có thể nói vua Quang Trung đã không nhầm khi đánh giá cao năng lực và giao cho Ngô Thì Nhậm trọng trách chấp bút thay mình để cầu hiền trong thiên hạ. Bài học mà chúng ta rút ra được từ nghệ thuật ứng xử của vua Quang Trung và Ngô Thì Nhậm? Bài học về cách ứng xử ở đời: lấy chí để thuyết phục chí, lấy tâm để thuyết phục tâm, lấy sự công bằng, dân chủ để thuyết phục nhân, đây cũng là nghệ thuật ứng xử của con người trong mọi thời đại. Hoặc có thể tạo ra tình huống có vấn đề cần so sánh, đối chiếu: Sau khi học "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" - Thân Nhân Trung (lớp 10) và "Chiếu cầu hiền" của Ngô Thì Nhậm, em nhận xét về điểm giống và khác giữa hai văn bản ? Để giải quyết tình huống này, học sinh nêu những nhận xét, đánh giá riêng. Từ đó học sinh nhận thức rằng dù ở bất cứ thời đại nào, nhân tố con người phải luôn được coi trọng, những nhân tài cần được tạo mọi cơ hội để có thể đem hết sức mình cống hiến cho đất nước. 2.2.2. Văn bản "Xin lập khoa luật": Giáo viên cần phân tích hệ thống luận điểm và cách lập luận của bài điều trần học sinh hiểu được tầm quan trọng của luật đối với sự nghiệp canh tân đất nước và thấy được lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trường Tộ. Giáo viên có thể nêu câu hỏi gợi dẫn để xác định luận điểm: Tại sao Nguyễn Trường Tộ lại đề xuất "Xin lập khoa luật" ? Luận điểm 1 "Bất luận quan hay dân, mọi người đều phải học luật nướcAi giỏi luật sẽ được làm quan" để nói về tầm quan trọng của "luật". Luận điểm 2 "Quan dùng luật để trị, dân theo luật mà giữ gìn. Bất cứ một hình phạt nào trong nước đều không vượt ra ngoài luật" chỉ ra tác dụng của luật. Việc Nguyễn Trường Tộ đề xuất với triều đình "lập khoa luật" đã nói lên sự quan tâm của ông đến "kỉ cương, uy quyền, chính lệnh của quốc gia" để khẳng định khả năng bao quát của luật đối với xã hội, khẳng định vai trò của luật đối với việc trị dân của vua có nghĩa là luật bao trùm cả vấn đề đạo đức và trách nhiệm. Tác giả cũng đề cập đến vấn đề dân chủ trong việc thi hành luật pháp, chỉ có nhà nước pháp quyền mới đảm bảo nền dân chủ công bằng xã hội. Muốn làm tốt điều này thì "phàm những ai đã nhập ngạch Bộ Hình xử đoán các vụ kiện tụng thì chỉ có thăng trật chứ không bao giờ bị biếm truất. Dù vua, triều đình cũng không giáng chức họ được một bậc. Như vậy là để giúp cho các vị này được thong dong trong việc chấp hành luật pháp không bị một bó buộc nào cả". Đây chính là thể hiện rõ quan điểm tam quyền phân lập. Giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải đảm bảo tính độc lập khách quan "thế là để cho dân chúng thấy rõ đạo công bằng". Và giáo viên có thể nêu tình huống có vấn đề so sánh, đối chiếu: Theo em, quan điểm này của Nguyễn Trường Tộ có gì khác so với tư tưởng pháp trị phong kiến lúc bấy giờ? Trong xã hội ngày nay, nhà nước ta chủ trương thực hiện đường lối chính sách pháp luật như thế nào? Với tình huống này, học sinh dựa vào những hiểu biết về vấn đề hành pháp ở thời phong kiến để rút ra nhận xét. Sau đó liên hệ xã hội hiện tại để nhận thấy tư tưởng tiến bộ vượt thời đại của Nguyễn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh sự bình đẳng của luật pháp. Quan và dân, quân và thần đều bình đẳng trước pháp luật, đây là điểm tiến bộ rõ rệt so với tư tưởng pháp trị phong kiến vì ông chú ý đến quyền lợi của nhân dân trước pháp luật. Từ đó học sinh nhận thấy hiện nay nhà nước ta luôn nêu cao khẩu hiệu "sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật". Nhà nước và nhân dân ta đang ngày càng nêu cao vai trò trách nhiệm của ngành tư pháp là phải xử đúng luật, đúng người, đúng tội, tránh xử oan sai. Nguyễn Trường Tộ dùng đạo nghĩa của Nho gia "trung hiếu", "lễ nghĩa" để làm điểm tựa cho lập luận nhưng ông phê phán các sách Nho chỉ nói suông trên giấy", rồi lại kết bằng lời của Khổng Tử "Ta chưa hề thấy ai nhận được lỗi của mình mà biết tự trách phạt" và "Chép những lời nói suông chẳng bằng thân hành ra làm việc". Phương pháp lập luận của ông nhằm mục đích gì? Nho gia giáo dục con người bằng chuẩn mực đạo đức, bằng những tấm gương đạo đức của quá khứ nên nặng tính lí thuyết suông, không có đủ khả năng làm cho mọi người tự giác sửa mình. Đưa ra những nhược điểm của việc trị dân bằng lí thuyết nhà nho, tác giả không nhằm hướng đến mục đích phê phán sách Nho mà để khẳng định luật cần thiết đối với sự ổn định của xã hội. Cuối mỗi điều phê phán, Nguyễn Trường Tộ kết lại bằng lời của Khổng Tử khiến cho lí lẽ của ông càng thuyết phục người nghe, nhất là các nhà nho vốn rất bảo thủ. Đó là phương pháp "gậy ông đập lưng ông". Cách lập luận của tác giả vừa sắc sảo vừa chặt chẽ, vừa ngắn gọn, vừa mang tính chiến đấu mạnh mẽ. "Nguyễn Trường Tộ () đem hình thức đối thoại vào bài văn, luôn luôn đặt giả thuyết, đặt câu hỏi để lật lại vấn đề, và tự mình phản bác cặn kẽ những câu hỏi mình nêu ra, làm cho vấn đề càng thêm sáng tỏ. Nhưng điều quan trọng hơn là ông đã nghị luận bằng tất cả nhiệt huyết và lòng tin vào chân lí () Chính phong cách chính luận - trữ tình này đã tạo nên một giọng điệu riêng, một khả năng cuốn hút đặc biệt đối với đối tượng mà ông cần thuyết phục" (Từ điển văn học, Nguyễn Huệ Chi). Hoặc giáo viên có thể tạo ra tình huống có vấn đề dung hòa: Theo em, làm thế nào để vừa có thể vừa bảo vệ đạo làm người vừa dùng luật? Cần xây dựng nhà nước pháp quyền, đề cao tư tưởng pháp trị, Trong xã hội vấn đề khen thưởng, xử phạt phải kịp thời, đúng mức thì mới có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của xã hội, sự tiến bộ của mọi người. Liên hệ với hiện tại, học sinh sẽ nhận thấy nhà nước ta đang thực hiện tất cả vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", các cơ quan lập pháp đang soạn thảo thêm các điều luật và chỉnh sửa luật cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong thời đại mới. Phần 3 (đoạn 4), Nguyễn Trường Tộ đã lí giải thấu đáo vai trò của luật, đồng thời giải quyết triệt để những nghi ngờ về khả năng của luật. Ông dùng lập luận để bác bỏ quan điểm "luật chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh vi". Ông khẳng định "trái luật là tội, giữ đúng luật là đức", nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa pháp trị và đức trị "Nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức". Để khẳng định, tác giả đã dùng các câu nghi vấn tu từ "có đức nào lớn hơn chí công vô tư không ?". Nguyễn Trường Tộ đề cao việc con người sống đúng luật pháp, làm theo luật pháp là đức trời. Ông viết "Chí công vô tư là đức trời. Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời, như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao?". Đoạn trích "Xin lập khoa luật" là một văn bản nghị luận chặt chẽ, thấu tình đạt lí. "Văn chương của Nguyễn Trường Tộ là lối văn chính luận, vừa phải bảo đảm sự chặt chẽ, sắc bén, khúc chiết trong phân tích, trong dẫn chứng nhưng cũng vừa thấm đậm cảm hứng trữ tình của tác giả, nên có sức thuyết phục rất mạnh. Những lá thư điều trần của ông rất dài, bàn về rất nhiều vấn đề cùng một lúc, nhưng văn phong mạch lạc, đâu ra đấy, từng vấn đề được bàn hết lẽ và dứt điểm, lại đều có chứng minh thực tiễn" (Từ điển văn học, Nguyễn Huệ Chi). "Văn bản "Xin lập khoa luật" có giá trị như thế nào trong xã hội ta ngày nay?". Đến nay bản điều trần vẫn còn nguyên giá trị, đó là những sách lược trị nước đúng đắn để cho các cấp chính quyền nghiên cứu vận dụng, để cho nhân dân điều chỉnh hành vi bản thân, sống theo hiến pháp và pháp luật. Được như vậy thì trật tự xã hội sẽ đi vào kỉ cương, chính lệnh của quốc gia sẽ được thực hiện nghiêm minh và đất nước sẽ phát triển, cuộc sống của nhân dân sẽ yên bình hạnh phúc. III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI - Học sinh hứng thú tiếp nhận văn bản, có ý thức tự giác sưu tầm tài liệu, đọc sách và chủ động đưa ý kiến của mình ra đối thoại trước lớp. Tính thời sự của vấn đề được học sinh tự đánh thức, tránh được lối dạy áp đặt một chiều từ phía giáo viên. - Học sinh được tìm hiểu, củng cố thêm về kiến thức lịch sử, có kĩ năng đọc - hiểu các văn bản nghị luận theo thể loại đồng thời rèn luyện thêm về kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận. - Học văn nghị luận giúp học sinh hình thành những quan điểm đúng đắn về chính trị, xã hội; hình thành năng lực tư duy và thành công trong giao tiếp. Hơn nữa, học sinh có năng lực phân tích, tổng hợp khám phá vấn đề có sức thuyết phục trên cơ sở lí lẽ chặt chẽ, căn cứ xác thực. IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG * Đối với giáo viên: - Đối với những tình huống có vấn đề, học sinh dựa trên kiến thức bài học và kiến thức của bản thân để tìm những giải pháp. Giáo viên không nên có kết luận cứng nhắc với tình huống. Kết luận nên ở dạng là một gợi ý có thể bao quát được những hướng giải quyết mà học sinh đưa ra. Từ đó, học sinh có thể tranh luận với nhau về những khả năng cũng như tính khả thi của những phương án có thể lựa chọn. - Giáo viên cần gợi ý cho học sinh về những tư liệu cần hoặc những địa chỉ website để các em có nguồn tư liệu chuẩn xác. * Đối với học sinh: - Cần đọc - hiểu văn bản trước khi tiến hành tìm hiểu ở lớp nhằm khám phá văn bản bằng cả lí trí, tâm hồn. V. KẾT LUẬN Sự hấp dẫn của một tác phẩm nghị luận là do nhiều yếu tố tạo nên trong đó luận điểm và cách lập luận là yếu tố quan trọng. Dạy văn nghị luận giáo viên cần bám sát văn bản, nắm vững đặc trưng cơ bản của từng thể loại. Trong thực tế, việc giảng dạy cần có sự kết hợp nhiều phương pháp, phụ thuộc vào từng tình huống giảng dạy cụ thể nhằm giúp học sinh nắm vững bài học, phát triển tư duy; đồng thời vừa bồi dưỡng những tư tưởng, tình cảm cao quý cho học sinh. Nếu có sự đầu tư đúng mực, bài giảng sẽ đạt được hiệu quả. Trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, người viết chỉ nêu một vài kinh nghiệm mà bản thân tích lũy trong quá trình giảng dạy. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, Cô. Chân thành cảm ơn! NGƯỜI THỰC HIỆN Ngô Xuân Sơn TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách giáo khoa Ngữ văn 11(tập 1) - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục, 2009. Sách giáo viên Ngữ văn 11 (tập 1) - Nhiều tác giả - NXB Giáo dục, 2009. Kĩ năng đọc - hiểu văn bản Ngữ Văn 11 - Nguyễn Kim Phong (Chủ biên), NXB 2007. Từ điển thuật ngữ Văn học - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) - NXB Đại học Quốc gia, 1999. Vẻ đẹp của văn nghị luận - Đỗ Ngọc Thống - Văn học và Tuổi trẻ số 4, 2005. Những lưu ý khi đọc văn nghị luận - Phan Thị Thanh Vân. Phương pháp dạy tích hợp chùm văn bản nghị luận thời trung đại ở chương trình Ngữ văn lớp 11 - Phan Quốc Thanh. Một vài suy nghĩ về việc dạy văn nghị luận - Bùi Thị Vui. Các nguồn tư liệu về Nguyễn Huệ, Nguyễn Trường Tộ trên các báo điện tử. SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI Đơn vị: THPT Nguyễn HữuCảnh CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Biên Hòa, ngày 30 tháng 10 năm 2011 PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2011- 2012 ----------------- PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 Họ và tên: NGÔ XUÂN SƠN Chức vụ: giáo viên. Đơn vị: THPT Nguyễn Hữu Cảnh. Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác) - Quản lý giáo dục 1 - Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn 1 - Phương pháp giáo dục 1 - Lĩnh vực khác: 1 Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị 1 Trong Ngành 1 Có giải pháp hoàn toàn mới 1 Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 1 Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 1 Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 1 Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 1 Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả 1 - Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1 - Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và dễ đi vào cuộc sống: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1 - Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả trong phạm vi rộng: Tốt 1 Khá 1 Đạt 1 XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN TỔ TRƯỞNG HIỆU TRƯỞNG Nguyễn Thị Mai Lan Phan Quang Vinh

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Góp Một Cách Dạy Văn Bảng Nhật Dụng Trong Chương Trình Ngữ Văn Bậc Trung Học Cơ Sở / 2023

Trong dạy học Ngữ văn hiện nay ở bậc THCS, chắc hẳn mỗi giáo viên đều nhận thấy rằng học sinh có xu hướng xem nhẹ những môn học xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Điều đó cho thấy rõ ở chất lượng và thái độ học văn của các em giảm sút so với các môn tự nhiên. Chính vì vậy mà thôi thúc giáo viên phải tìm cho mình một phương pháp dạy học thích hợp phù hợp với xu thế của học sinh.Với giáo viên dạy môn văn lại cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong chương trình để làm sao khơi gợi được sự tích cực sáng tạo, sự say mê hứng thú trong mỗi giờ học của học sinh. Từ đó học sinh sẽ mong chờ tiết học và yêu môn học.

Chương trình Sgk Ngữ văn THCS đang được xây dựng theo tinh thần tích hợp. Các văn bản được lựa chọn theo một tiêu chí kiểu văn bản và tương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm.Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng phù hợp với tâm lý lứa tuổi THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại những vấn đề quen thuộc, gần gũi, bức thiết hàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quan tâm đến.

SOẠN VÀ DẠY VĂN BẢN " BÀI TOÁN DÂN SỐ" (NGÖÕ VAÊN 8-TAÄP 1) A. PHẦN MỞ ĐẦU I.ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lý do chọn đề tài: Trong dạy học Ngữ văn hiện nay ở bậc THCS, chắc hẳn mỗi giáo viên đều nhận thấy rằng học sinh có xu hướng xem nhẹ những môn học xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Điều đó cho thấy rõ ở chất lượng và thái độ học văn của các em giảm sút so với các môn tự nhiên. Chính vì vậy mà thôi thúc giáo viên phải tìm cho mình một phương pháp dạy học thích hợp phù hợp với xu thế của học sinh.Với giáo viên dạy môn văn lại cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo hướng tích cực trong chương trình để làm sao khơi gợi được sự tích cực sáng tạo, sự say mê hứng thú trong mỗi giờ học của học sinh. Từ đó học sinh sẽ mong chờ tiết học và yêu môn học. Chương trình Sgk Ngữ văn THCS đang được xây dựng theo tinh thần tích hợp. Các văn bản được lựa chọn theo một tiêu chí kiểu văn bản và tương ứng với kiểu văn bản là thể loại tác phẩm.Ngoài yêu cầu về tính tư tưởng phù hợp với tâm lý lứa tuổi THCS còn có nội dung là tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại những vấn đề quen thuộc, gần gũi, bức thiết hàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quan tâm đến. 2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. a. Mục tiêu: Đề tài gắn liền với mục tiêu dạy học phân môn văn ở trường THCS. Đặc biệt đề tài chú trọng đến thao tác kỹ năng của giáo viên trong quá trình tổ chức, hướng dẫn cho học sinh những kiến thức cần thiết khi học văn bản nhật dụng. b. Nhiệm vụ nghiên cừu: Đề tài tập trung trình bày các vấn đề sau: - Hiểu khái niệm văn bản nhật dụng, thông qua đó biết về các văn bản nhật dụng trong phân môn văn bản bậc THCS. - Trình bày minh họa một giáo án, cụ thể bài: "Bài toán dân số" trong chương trình ngữ văn 8 (tập 1). - Kết quả các quá trình dạy văn bản nhật dụng. 3. Đối tượng nghiên cứu: a. Đối tượng: Đối tượng của đề tài nghiên cứu là học sinh từ lớp 6 đến 9 đều học văn bản nhật dụng nhưng cụ thể là tôi được phân công dạy ngữ văn 8 gồm các lớp như sau: 8A, 8B, 8D cho nên tôi đã minh họa một bài trong chương trình ngữ văn 8( tập 1). - Sgk và sách giáo viên Ngữ văn 6, 7, 8, 9. - Sách thiết kế Ngữ văn 6, 7, 8, 9. - Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt Tác giả: Trần Đình Chung - Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp 6, 7, 8, 9 của tác giả Giáo sư tiến sĩ: Lê An, Lê Minh Thu, Nguyễn Thị Thuý. NXB: Đại học sư phạm - Höôùng daãn thöïc hieän chuaån kieán thöùc,kó naêng moân Ngöõ vaên trung hoïc cô sôû, taäp2. Nhaø xuaát baûn Giaùo duïc Vieät nam. b. Cơ sở nghiên cứu: Tập trung vào đối tượng từ lớp 6 đến 9 nhưng đối tượng chính ở đây là lớp 8 phân môn văn tiết 49 bài: " Bài toán dân số" ngữ văn 8( tập 1). Vận dụng trong quá trình học văn bản nhật dụng II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Hiểu về văn bản nhật dụng Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hay kiểu văn bản. Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản. Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản. Hệ thống văn bản nhật dụng trong Sgk goàm nhiều kiểu văn bản khác nhau. Đó có thể là: *Văn thuyết minh (Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử, Ca Huế trên sông Hương, Động Phong Nha). *Văn bản biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổng trường mở ra). *Văn bản nghị luận (Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em). * Một bài báo thuyết minh khoa học (Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, Ôn dịch, thuốc lá , Bài toán dân số). * Một văn bản văn học thuộc loại tự sự (Cuộc chia tay của những con búp bê) Từ các hình thức đó, những vấn đề thời sự cập nhaät của cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ đánh thức và làm giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi người học giúp các em dễ hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sống. 2. Hệ thống văn bản nhật dụng trong Sgk Ngữ văn THCS và đề tài nhật dụng Sgk Tên văn bản Đề tài nhật dụng Ngữ văn 6 - Cầu Long Biên, chứng nhân lịch sử - Di tích lịch sử - Bức thư của thủ lĩnh da đỏ - Quan hệ giữa thiên nhiên và con người - Động Phong Nha - Danh lam thắng cảnh Ngữ văn 7 - Cổng trường mở ra - Nhà trường, giáo dục - Mẹ tôi - Tình cảm mẹ con, gia đình - Cuộc chia tay của những con búp bê - Quyền trẻ em - Ca Huế trên sông Hương - Văn hoá dân tộc Ngữ văn 8 - Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 - Môi trường - Ôn dịch, thuốc lá - Tệ nạn xã hội - Bài toán dân số - Dân số Ngữ văn 9 - Đấu tranh cho một thế giới vì hoà bình - Bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh - Phong cách Hồ Chí Minh - Hoà nhập với thế giới và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc - Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em - Quyền sống của con người Các văn bản nhật dụng trên được phân bố đều khắp các khối lớp. Cùng với sự phát triển về tâm lý và nhận thức của học sinh, các vấn đề được cập nhật trong các văn bản nhật dụng ngày một phức tạp hơn. Phù hợp với nhận thức của các em từ thấp đến cao, từ lớp 6 đến lớp 9. 3. Đặc điểm - Đề tài: Phong phú (thiên nhiên, môi trường, dân số ) - Chức năng: Bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá Những vấn đề hiện tượng của đời sống xã hội. - Tính cập nhật: Kịp thời, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày. 4. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau: - Phương pháp quan sát: Hình thức chủ yếu là dự giờ đồng nghiệp để học tập phương pháp từ đó rút ra được ưu điểm để học hỏi, tồn tại để rút kinh nghiệm làm hành trang trong việc dạy học của mình tốt hơn. - Phương pháp so sánh: Để phân loại, đối chiếu kết quả. - Ngoài ra còn đọc tài liệu, thống kê, thăm dò ý kiến học sinh, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp. B. PHẦN NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 1. Thực trạng: Trong quá trình giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp tôi nhận thấy rằng: - Do văn bản nhật dụng mới được đưa vào giảng dạy, mặc dù số lượng văn bản không nhiều nhưng giáo viên vẫn còn thấy mới mẻ, ít có kinh nghiệm, lúng túng về phương pháp. - Giáo viên còn hạn chế trong việc sử dụng máy chiếu nên việc mở rộng kiến thức trực quan cho học sinh bằng hình ảnh cũng bị hạn chế. - Chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài văn bản nhật dụng. 2. Giải pháp: Đứng trước thực trạng ấy, tôi mạnh dạn xin đề xuất một số giải pháp sau: - Mục tiêu: Phải xác định đặc thù của bài học văn bản nhật dụng. Nhấn mạnh vào hai khía cạnh chính. Trang bị kiến thức và trau dồi tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh. Có nghĩa là cung cấp và mở rộng hiểu biết cho học sinh về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ra trong đời sống xã hội hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dân đối với cộng đồng. - Chuẩn bị: + Về kiến thức: Ngoài kiến thức cung cấp cho học sinh giáo viên còn phải trang bị thêm cho mình những kiến thức mở rộng, hỗ trợ cho bài giảng trên các nguồn thông tin đại chúng (phát thanh truyền hình, Internet, báo chí, sách vở, băng đĩa, tranh ảnh ) + Về phương tiện dạy học: Các phương tiện dạy học truyền thống quen thuộc như sgk, bảng phụ chưa thể đáp ứng được hết yêu cầu dạy học văn bản nhật dụng. Giáo viên cần phải chuẩn bị thêm các phương tiện khác như đĩa CD, phim ảnh, máy chiếu có tranh ảnh về bài học để học sinh say mê, hứng thú trong mỗi giờ dạy. Ví dụ: Khi thiết kế bài "Động Phong Nha", được cài đặt thêm các hình ảnh hoặc các đoạn phim ghi hình những đặc sắc của hang động này trên nền nhạc êm ả, mở rộng tới hình ảnh hang động nổi tiếng của Quảng Ninh (Như động Thiên Cung - Hạ Long) thì sức thu hút của học sinh sẽ lên cao hơn. Như vậy, khi dạy văn bản nhật dụng, giáo viên có nhiều cơ hội hơn cho đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại thì caùc văn bản nhật dụng sẽ khắc phục được tính thông tin tẻ nhạt, đơn điệu. Tôi tin rằng giờ dạy học văn bản nhật dụng sẽ đạt hiệu quả cao. 3. Các phương pháp dạy học Có thể nói, trong dạy học văn bản nói chung chúng ta muốn hiểu nội dung tư tưởng của văn bản bằng việc tìm hiểu dấu hiệu hình thức của văn bản đó. Dạy học văn bản nhật dụng cũng vậy. Mặc dù các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản nhật dụng là thuyết minh và nghị luận nhưng vẫn thường đan xen các yếu tố của phương thức khác như tự sự, biểu cảm. Giáo viên cũng cần chú ý đến điều này. Dạy văn bản nhật dụng, giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng của phân môn văn học như: Phương pháp đàm thoại, đọc diễn cảm, giảng bình. Trong đó chú trọng nhất là phương pháp đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt hoïc sinh theo mức độ từ dễ đến khó rồi liên hệ với đời sống. Khi dạy văn bản nhật dụng, giáo viên không nên quá coi trọng phương pháp giảng bình. Bởi bình văn là tỏ lời hay ý đẹp về những điểm sáng thẩm mỹ trong văn chương. Có thể là các văn bản (Mẹ tôi, Cổng trường mở ra, Ca Huế trên sông Hương, Cuộc chia tay của những con búp bê) giáo viên có thể sử dụng lời bình song cũng không nên đi quá sâu. Còn đối với những văn bản không nhằm cảm thụ văn chương thẩm mĩ như (Bài toán dân số, Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000, Ôn dịch, thuốc lá) thì giáo viên khô ... y nghĩ, trả lời. ? Bài toán dân số được đặt ra từ khi nào ? GV: Nếu bây giờ ta tạm công nhận theo Kinh Thánh khi khai thiên lập địa chi có 2 người: A-đam và E-va tương ứng với ô thứ nhất, ô thứ hai của bàn cờ. b. Bài toán dân số: - Khi khai thiên lập địa mới chỉ có 2 người trên trái đất là A-đam và E-va A-đam, E-va 1995 2 5,63 tỉ người Ô thứ 1,2 Ô thứ 33 ? Vậy, tác giả đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào? Những con số, số liệu ấy cho thấy điều gì? ? Nhận xét về tốc độ gia tăng dân số theo tính toán cấp số nhân công bội 2 Giáo viên: Với gia đình chỉ có 1 đến 2 con và đã trừ tỉ lệ tử vong, chiến tranh, thì ñeán naêm 1995 ñaõ 5,63 tæ ngöôøi. Nhưng trong thực tế gia tăng dân số không chỉ dừng lại ở con số đó. Thực trạng của việc gia tăng dân số như thế nào chúng ta cùng tìm hiểu luận điểm 3. ?Việc đưa ra những con số về tỉ lệ sinh con của phụ nữ ở một số nước Châu Phi và Châu Á nhằm mục đích gì ? ? Tại sao tác giả không đưa ra những số liệu về phụ nữ sinh con ở Châu Âu và Châu Mĩ? c. Thực trạng của việc gia tăng dân số - Việc sinh sản của người phụ nữ Châu Phi Châu Á + Ru-an-đa:8,1% - Nê pan: 63% + Ta-đa-ni-a:6,7% - Ấn độ: 4,5% +Ma-ga-gatxca:6,6% - Việt Nam:3,7% GV: Việc đưa ra những con soá treân cho thấy ôû các châu lục này còn chậm phát triển, tốc độ gia tăng dân số nhanh. Họ sinh nhiều con vì họ chưa ý thức được hậu quả của việc đó(Trong đó có Việt Nam) nhằm giúp người đọc ý thức rõ về tình trạng gia tăng dân số thực tế cũng như khả năng phát triển dân số với tốc độ tăng chóng mặt,trong tương lai ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội loài người. ? Nhận xét của em về cách lập luận của tác giả cho vấn đề trên? - Lập luận: Đưa ra lí lẽ đơn giản chứng cớ đầy đủ. ? Tác dụng của cách lập luận đó? - Vận dụng phương pháp thuyết minh, thống kê, so sánh, phân tích, số liệu cụ thể - xác thực. ® Người đọc tin tưởng vào số liệu xác thực, sinh động. ? Qua đó em có thể rút ra được những nhận xét gì về mối quan hệ giữa dân số và sự phát triển của xã hội GV: Chúng ta thấy rằng, tỉ lệ gia tăng dân số nếu tính theo cấp số nhân công bội 2 thì năm 1995 dân số toàn thế giới là 5,63 tỉ người maø một người phụ nữ có khả năng sinh được nhiều con thì đến năm 2015 cả thế giới đã khoaûng hơn 7 tỉ người. Như vậy,nếu tính trên ô bàn cờ thì cứ 20 năm là 1 ô (dân số sẽ lấp kín một ô). Nếu trái đất là một bàn cờ 64 ô thì đến năm 2015 chæ còn lại 30 ô. GV: Duøng maùy chieáu thống kê số liệu dân số: sgk tr 33. ? Nhận xét về tốc độ gia tăng dân số? -Thế giới đang đối mặt với một thách thức lớn đó là sự bùng nổ của sự gia tăng dân số. ? Vậy, hậu quả của sự gia tăng dân số đó như thế nào? GV treo bảng phụ - Hậu quả: + Kinh tế : nghèo nàn, kém phát triển. + Văn hóa: tụt hậu + Giáo dục: thất học +Y tế : bệnh tật + Môi trường: ô nhiễm + Xã hội: Mất ổn định, tệ nạn xã hội gia tăng, thất nghiệp ? Ở nước ta đã có những biện pháp gì để hạn chế sự gia tăng dân số? - HS suy nghĩ trả lời ? Cụ thể ở địa phương em, em thấy đã thực hiện những biện pháp gì? GV: Với thực trạng và hậu quả trên chúng ta cần phải làm gì để hạn chế về sự bùng nổ dân số - ta cùng tìm hiểu phần kết bài: ? Em hiểu gì về phần kết của văn bản ? 3. Lời kêu gọi. Lời kêu gọi của tác giả về việc hạn chế sự bùng nổ gia tăng dân số ® đó là Con đường "tồn tại hay không tồn tại" của chính loài người. ? Vậy, tác giả đã kêu gọi như thế nào? - Nếu con người sinh sôi trên trái đất theo cấp số nhân nhö bài toán cổ thì đến một lúc sẽ không còn đất sống. - Muốn còn đất sống thì phải sinh đẻ có kế hoạch, hạn chế sự gia tăng dân số trên toàn cầu ? Theo em, tại sao tác giả lại cho rằng " Đó là con đường "tồn tại hay không tồn tại" của chính loài người"? GV:Như vậy, lời kêu gọi của tác giả vô cùng có ý nghĩa đối với mỗi con người trong cộng đồng loài người này. - Muốn tồn tại con người cần phải có đất đai. Con người ngày càng đông, càng nhiều mà đất thì vẫn như thế. Do đó con người muốn tồn tại thì phải biết điều chỉnh, hạn chế sư gia tăng dân số ® đây là vấn đề nghiêm túc và sống còn của nhân loại. ? Trong văn bản này, tác giả đã bộc lộ quan điểm và thái độ của mình như thế nào về vấn đề dân số kế hoạch hóa gia đình ? * Tác giả: - Nhận thức rõ vấn đề gia tăng dân số và hiểm họa của nó. - Có trách nhiệm với đời sống cộng đồng. - Trân trọng cuộc sống tốt đep của con người ? Văn bản này đem lại cho em những hiểu biết gì ? ® Học sinh suy nghĩ trả lời + Hoạt động 4: Hướng dẫn tổng kết và luyện tập III. Tổng kết và luyện tập - Học sinh đọc ghi nhớ (sgk) ?Khaùi quaùt noäi dung vaø ngheä thuaät cuûa vaên baûn? -Giaùo vieân duøng maùy chieáu cuûng coá noäi dung,ngheä thuaät,yù nghóa vaên baûn(theo chuaån kieán thöùc kó naêng) 1. Tổng kết: Ghi nhớ (Sgk) *Noäi dung: -Caâu chuyeän coå veà haït thoùc treân baøn côø ñaõ laøm saùng toû hieän töông toác ñoä gia taêng voâ cuøng nhanh choùng cuûa daân soá theá giôùi. -Thöïc traïng tình hình daân soá theá giôùi vaø Vieät Nam(naêm 1995);söï phaùt trieån nhanh vaø maát caân ñoái(ñaëc bieät ôû nhöõng nöôùc chaäm phaùt trieån)seõ aûnh höôûng ñeán töông lai cuûa caùc daân toäc vaø nhaân loaïi. -Giaûi phaùp: Khoâng coù caùch naøo khaùc,phaûi haønh ñoäng töï giaùc haïn cheá sinh ñeû ñeå laøm giaûm söï buøng noå vaø gia taêng daân soá. *Ngheä thuaät: -Söû duïng keát hôïp caùc phöông phaùp so saùnh,duøng soá lieäu,phaân tích. -Laäp luaän chaët cheõ. -Ngoân ngöõ khoa hoïc,giaøu söùc thuyeát phuïc. *YÙ nghóa vaên baûn: Vaên baûn neâu leân vaán ñeà thôøi söï cuûa ñôøi soáng hieän ñaïi:Daân soá vaø töông lai cuûa daân toäc,nhaân loaïi. GV höôùng daãn luyeän taäp GV duøng maùy chieáu 3 baiø taäp sau: 2. Luyện tập Bài 1: Theo em, con đường tốt nhất để hạn chế sự gia tăng dân số là gì ? Gợi ý: - Đẩy mạnh giáo dục cho phụ nữ thoát khỏi áp bức và ngu dốt, không còn phụ thuộc vào quyền lực của kẻ khác. - Tuyên truyền, phổ biến, rộng rãi việc sinh đẻ có kế hoạch và thực hiện tốt kế hoạch hoá gia đình. Bài 2: Vì sao sự gia tăng dân số có tầm quan trọng hết sức to lớn đối với tương lai nhân loại, nhất là đối với các dân tộc còn nghèo nàn, lạc hậu ? Gợi ý: - Dân số tăng, thu hẹp dần môi trường sống của con người, con người sẽ thiếu đất sống. - Dân số tăng kéo theo các hiểm hoạ về đạo đức, kinh tế, văn hoá, kìm hãm sự phát triển của cá nhân và đồng loại. Bài 3 (Liên hệ): Em hiểu gì về sự gia tăng dân số ở địa phương em và tác hại của nó đối với đời sống kinh tế, xã hội ? Viết một đoạn văn ngắn nêu cảm nghĩ của em về vấn đề trên ? + Hoạt động 5: Hướng dẫn về nhà - Nắm chắc kiến thức về văn bản. - Liên hệ sự gia tăng dân số ở địa phương, hậu quả ? Biện pháp ? - Soạn bài tiếp theo. - Làm bài tập 3 (liên hệ) ở nhà. * Hệ thống ghi bảng (caùch trình baøy baøi daïy leân baûng) GV söû duïng maùy chieáu heä thoáng laïi kieán thöùc. Ngữ văn - Tiết 49 - Bài 13 - Văn bản. BÀI TOÁN DÂN SỐ - Ngữ văn 8 - Tập 1. I. Đọc, tìm hiểu chung 1. Đọc 2. Tìm hiểu chung - Kiểu văn bản: Văn bản nhật dụng - Thể loại: Nghị luận, chứng minh - giải thích. - Phương thức biểu đạt: Lập luận, kết hợp với tự sự. - Bố cục: 3 phần II. Tìm hiểu chi tiết 1. Nêu vấn đề - Bài toán dân số đặt ra từ thời cổ đại - Lúc đầu: Không tin điều này. - Sau đó: Sáng mắt ra ® bắt đầu từ một bài toán cổ. Þ Cách nêu vấn đề nhẹ nhàng, đơn giản nhưng đầy bất ngờ, lôi cuốn, người đọc muốn khám phá. 2. Bài toán dân số a) Bài toán hạt thóc - Bắt đầu từ câu chuyện kén rể của một nhà thông thái. - Phương pháp: Dùng số liệu phân loại, phân tích. ® Tăng dần theo cấp số nhân công bội là 2. b) Bài toán dân số - Khi khai thiên lập địa trái đất chỉ có 2 người A-đam và E-va - Phương pháp thuyết minh dùng số liệu cụ thể ® Dân số tăng với tốc độ rất nhanh. c) Thực trạng của việc gia tăng dân số - Việc sinh sản của người phụ nữ ở Châu Phi và Châu Á nhiều hơn Châu Âu, Châu Mĩ. - Lập luận: Đưa ra lý lẽ đơn giản, chứng cớ đầy đủ. - Vận dụng phương pháp thuyết minh: Thống kê, so sánh, phân tích số liệu cụ thể, xác thực. ® Tốc độ gia tăng dân số tỷ lệ nghịch với tốc độ phát triển của xã hội. Là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, lạc hậu. - Thế giới đang đối mặt với một thách thức lớn, đó là sự bùng nổ của sự gia tăng dân số. 3. Lời kêu gọi - Hạn chế sự bùng nổ gia tăng dân số. Đó là con đường "Tồn tại hay không tồn tại" của chính loài người. ® Con người muốn tồn tại thì phải biết điều chỉnh, hạn chế sự gia tăng dân số. III. Tổng kết và luyện tập 1. Tổng kết: Ghi nhớ (Sgk) 2. Luyện tập: Giáo viên treo bảng phụ 3 bài tập Þ Như vậy, qua bài thực nghiệm giảng dạy trên bản thân tôi nhận thấy rằng những giải pháp tôi đưa ra ở trên hoàn toàn có thể thực hiện được đối với học sinh trường toâi ñang coâng taùc. Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh rất hào hứng với giờ học, gắn bài học với thực tiễn rất nhanh và hiệu quả. Giờ học trở nên sôi nổi hơn, tạo tâm lý nhẹ nhàng, thoải mái cho học sinh ở những tiết học sau. C. PHẦN KẾT LUẬN I. KẾT LUẬN: Giảng dạy văn bản nhật dụng trong chương trình Sgk Ngữ văn từ 6 đến 9 đạt hiệu quả cao là yêu cầu khách quan, một việc làm thiết thực góp phần thực hiện giảng dạy theo tinh thần đổi mới cũng như dạy các kiểu loại văn bản khác đòi hỏi sự đầu tư tích luỹ lâu dài của mỗi giáo viên, sự dày công nghiên cứu của các nhà chuyên môn, các nhà giáo dày dạn kinh nghiệm và sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục với tinh thần trách nhiệm của tất cả giáo viên Ngữ văn trực tiếp giảng dạy. Bản thân tôi được trực tiếp giảng dạy văn bản nhật dụng lớp 6 và 7 mấy năm trước và hiện nay hai năm liền tôi đã được phân công giảng dạy ngữ văn 8 theo chương trình Sgk đổi mới hiện nay. Tôi tự nhận thấy được một số vấn đề đã nêu ở trên. Rất mong sự góp ý chân thành của ban giám khảo và bạn bè đồng nghiệp gần xa để tôi ngày càng nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kinh nghiệm giảng dạy được tốt hơn. II. KIẾN NGHỊ Thư viện nhà trường nên có tranh ảnh, băng đĩa phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy các văn bản nhật dụng. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Buôn Mê Thuột, ngày 22/12/2011 Người viết Cù Thị Thanh Nga * Tài liệu tham khảo 1. Sgk và sách giáo viên Ngữ văn 6, 7, 8, 9. 2. Sách thiết kế Ngữ văn 6, 7, 8, 9. 3. Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt Tác giả: Trần Đình Chung 4. Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp 6, 7, 8, 9 của tác giả Giáo sư tiến sĩ: Lê An, Lê Minh Thu, Nguyễn Thị Thuý. NXB: Đại học sư phạm 5.Höôùng daãn thöïc hieän chuaån kieán thöùc, kó naêng moân Ngöõ vaên trung hoïc cô sôû, taäp2. Nhaø xuaát baûn Giaùo duïc Vieät nam.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Khi Dạy Văn Bản Nhật Dụng Để Góp Phần Nâng Cao Hiệu Quả Giờ Dạy Văn Bản Nhật Dụng / 2023

– Còn khi văn bản được tạo lập bằng phương thức thuyết minh như “Ôn dịch, thuốc lá” thì hoạt động dạy học tương ứng sẽ là tổ chức cho học sinh tìm hiểu nội dung văn bản từ các dấu hiệu hình thức của bài thuyết minh khoa học như: tiêu đề bài văn (Em hiểu như thế nào về đầu đề “Ôn dịch ,thuốc lá”? Có thể sửa nhan đề này thành ” Ôn dịch thuốc lá” hoặc ” Thuốc lá là một loại ôn dịch” được không? Vì sao?); vai trò của tác giả trong văn bản thuyết minh ( Đoạn văn nào nói về tác hại của thuốc lá đến sức khoẻ con người? Tác hại này được phân tích trên những chứng cớ nào?Các chứng cớ được nêu có đặc điểm gì? Từ đó cho thấy mức độ tác hại như thế nào của thuốc lá đến sức khoẻ con người? ở đây tri thức nào về tác hại của thuốc lá hoàn toàn mới lạ đối với em?)… – Mặc dù các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản nhật dụng là thuyết minh và nghị luận nhưng các văn bản này thường đan xen các yếu tố của phương thức khác như: tự sự, biểu cảm. Khi đó giáo viên cũng cần chú ý đến yếu tố này. – Ví dụ: Văn bản thuyết minh “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” có lời văn giàu cảm xúc và hình ảnh thì người dạy sẽ nhấn vào các chi tiết miêu tả và biểu cảm cụ thể như: + Những cuộc chiến tranh nào đã đi qua trên cầu Long Biên? + Việc nhắc lại những câu thơ của Chính Hữu gắn liền với những ngày đầu năm 1947- Ngày trung đoàn Thủ đô vượt cầu Long Biên đi kháng chiến- đã xác nhận ý nghĩa chứng nhân nào của cầu Long Biên? + Số phận của cầu Long Biên trong những năm chống Mĩ được ghi lại như thế nào? + Lời văn miêu tả trong đoạn này có gì đặc biệt? + Từ đó cầu Long Biên đóng vai trò chứng nhân chiến tranh như thế nào? – Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hoà bình” có kết hợp phương thức lập luận với biểu cảm thì người dạy sẽ chú ý phân tích lí lẽ và chứng cớ, từ đó tìm hiểu thái độ của tác giả, ví dụ khi phân tích phần cuối của văn bản: Đấu tranh cho một thế giới hoà bình – Phần cuối của văn bản có hai đoạn. Đoạn nào nói về “chúng ta” chống vũ khí hạt nhân? Đoạn nào là thái độ của tác giả về việc này? Em hiểu thế nào về ” bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình ,công bằng” ? -ý tưởng của tác giả về việc mở” một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm hoạ hạt nhân”bao gồm những thông điệp gì ? – Em hiểu gì về thông điệp đó của ông? – Giáo viên có thể giảng tóm tắt: – Bản đồng ca ….đó là tiếng nói của công luận thế giới chống chiến tranh, là tiếng nói yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới. – Thông điệp về một cuộc sống đã từng tồn tại trên trái đất và về những kẻ đã xoá bỏ cuộc sống trên trái đất này bằng vũ khí hạt nhân. – Tác giả là người yêu chuộng hoà bình, quan tâm sâu sắc đến vũ khí hạt nhân với niềm lo lắng và công phẫn cao độ. d4. Vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng của phân môn văn học như: phương pháp đàm thoại, đọc diễn cảm, giảng bình. Trong đó chú trọng nhất phương pháp đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo mức độ từ dễ đến khó rồi liên hệ với đời sống. Ví dụ : Trong bài “Ca Huế trên sông Hương”(có thể đặt các câu hỏi: Cách biểu diễn thưởng thức ca Huế có gì giống và khác so với dân ca quan họ miền Bắc? Từ tác động của ca Huế, em nghĩ gì về sức mạnh của dân ca nói chung đối với tâm hồn con người?) Khi dạy văn bản nhật dụng, giáo viên không nên quá coi trọng phương pháp giảng bình. Bởi bình văn là tỏ lời hay ý đẹp về những điểm sáng thẩm mĩ trong văn chương, đối tượng bình phải là những tác phẩm mang vẻ đẹp văn chương. Theo tôi, một số văn bản giàu chất văn chương như: (Mẹ tôi, Cổng trường mở ra, Ca Huế trên sông Hương, Cuộc chia tay của những con búp bê) giáo viên có thể sử dụng lời bình giảng nhưng không nên đi quá sâu. Còn đối với những văn bản nhật dụng không nhằm cảm thụ văn chương thẩm mĩ (như Bài toán dân số, Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc lá) thì giáo viên không thể bình phẩm được những vẻ đẹp hình thức nào cũng như những nội dung sâu kín nào trong đó. Do vậy, khi dạy giáo viên cần chú ý điều này để tránh sa vào tình trạng khai thác kĩ lưỡng văn bản mà giảm đi tính chất thực tiễn, gần gũi và cập nhật của văn bản Nhật dụng. Mục đích của việc dạy văn bản nhật dụng là giúp học sinh hoà nhập hơn nữa với đời sống xã hội nên giáo viên phải tạo ra không khí giờ học dân chủ, sôi nổi, kích thích sự hào hứng của học sinh. Ví dụ : khi dạy bài Ca Huế trên sông Hương giáo viên có thể cho học sinh nghe một làn điệu dân ca Huế, cuối giờ có thể tổ chức cho học sinh thi hát các làn điệu dân ca ba miền. Thi sưu tầm vẻ đẹp của văn hoá Huế … 3. Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất Tôi đã áp dụng những biện pháp trên thông qua bài dạy thực nghiệm có sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp sau khi dự giờ tại lớp 7A trong một tiết dạy văn bản nhật dụng ở học kì II năm học 2013-2014 Tiết 114 – Văn bản : CA HUẾ TRấN SễNG HƯƠNG – Hà Ánh Minh- I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT: – Hiểu được vẻ đẹp và ý nghĩa văn húa, xó hội của ca Huế. Từ đú cú thỏi độ và hành động tớch cực gúp phần bảo tồn, phỏt triển di sản văn húa dõn tộc đặc sắc và độc đỏo này. II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG, THÁI ĐỘ: 1. Kiến thức: – Khỏi niệm thể loại bỳt kớ. – Giỏ trị văn húa nghệ thuật của ca Huế. – Vẻ đẹp của con người xứ Huế. 2. Kĩ năng: – Đọc – hiểu văn bản nhật dụng viết về di sản văn húa dõn tộc. – Phõn tớch văn bản nhật dụng, (kiểu loại văn bản thuyết minh). – Tớch hợp với kiến thức Tập Làm Văn để làm văn thuyết minh 3. Thỏi độ: – Biết yờu quý, giữ gỡn, bản sắc văn húa của dõn tộc. III. PHƯƠNG PHÁP: IV. TIẾN TRèNH DẠY HỌC: 1. Ổn định : 2. Kiểm tra bài cũ : 3. Bài mới : GV giới thiệu bài – Em hiểu gỡ về cố đụ Huế ? hóy nờu một vài đặc điểm tiờu biểu của xứ Huế mà em biết ? Xứ Huế vốn nổi tiếng với nhiều đặc điểm như chỳng ta vừa núi tới . Xứ Huế cũn nổi tiếng về những sản phẩm văn hoỏ độc đỏo , đa dạng và phong phỳ mà ca Huế là một trong những sản phấm ấy . Hụm nay học bài văn này, chỳng ta sẽ tỡm hiểu thờm nhiều vẻ đẹp của Xứ Huế qua một đờm ca huế trờn sụng Hương . HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI DẠY * HOẠT ĐỘNG 1 : GV hướng dẫn đọc và tỡm hiểu chung – GV: Đọc rồi hướng dẫn cho hs đọc tiếp Gv đọc sau đú gọi hs đọc tiếp ( yờu cầu chậm rói rừ ràng , mạch lạc ) – HS : Giải thớch từ khú ? Dựa vào chỳ thớch trong sgk em hóy nờu vài nột về thõn thế và sự nghiệp của Hà Ánh Minh – HS: Tỡm hiểu về tỏc giả, tỏc phẩm qua phần chỳ thớch, GV đặt những cõu hỏi gợi mở để học sinh trả lời. ? Văn bản thuộc kiểu loại gỡ? ? Văn bản ra đời trong hoàn cảnh nào? – Hs: Suy nghĩ trả lời trong phần chỳ thớch * ? Theo em đõy là một tỏc phẩm ghi chộp sự thật hay là tưởng tượng hư cấu ? Căn cứ vào đõu để kết luận ? ? Từ đú cho biết cỏc phương thức biểu đạt chớnh của văn bản là gỡ ? ? VB này được chia làm mấy phần , nờu nội dung từng phần ? – GV : Hướng dẫn học sinh cỏch chia đoạn. * HOẠT ĐỘNG 2 : Tỡm hiểu văn bản Gọi hs đọc phần thứ nhất ? Xứ Huế nổi tiếng về nhiều thứ , nhưng ở đõy tỏc giả lại chỳ ý đến sự nổi tiếng nào của Huế ? Tại sao tỏc giả lại quan tõm đến dõn ca? – Hs: Suy nghĩ trả lời. ? Tỏc giả cho ta thấy dõn ca Huế mang đậm đặc điểm hỡnh thức và nội dung nào ? (rất nhiều điệu hũ , điệu lớ ) ? Nhận xột về đặc điểm ngụn ngữ trong đoạn văn này ? – Hs: Dựng biện phỏp liệt kờ kết hợp với lời giải thớch ? Qua đú tỏc giả chứng minh được những giỏ trị nổi bật nào của dõn ca Huế ? – Hs: Phong phỳ về làn điệu , sõu sắc thấm thớa về nội dung tỡnh cảm , mang đậm nột đặc trưng của miền đất và tõm hồn Huế ? Bờn cỏi nụi dõn ca Huế miền Trung , em cũn biết những vựng dõn ca nổi tiếng nào của nước ta ? Nếu cú thể hóy hỏt một bài hỏt dõn ca em biết ? -HS: Dõn ca quan họ Bắc Ninh , dõn ca đồng bằng Bắc Bộ Gọi hs đọc phần thứ 2 ? Tỏc giả nhận xột gỡ về sự hỡnh thành của dõn ca Huế ? qua đú cho thấy tớnh chất nổi bật nào của Huế ? – HS: Hỡnh thành từ dũng ca nhạc dõn gian khớ nhạc – Kết hợp 2 tớnh cỏch dõn gian ? Cú gỡ đặc sắc trong cỏch biểu diển ca Huế trờn cỏc phương diện : dàn nhạc , nhạc cụng ? – Hs: Dàn nhạc gồm đàn tranh , đàn nguyệt gừ nhịp – Nhạc cụng : Dựng cỏc ngún đàn trau chuốt . Đỏy hồn người GV: Cho học sinh xem một vài hỡnh ảnh về cỏc loại đàn trong dàn nhạc dõn gian và cỏch ăn mặc của ca cụng , nhạc cụng. ? Nhận xột gỡ về đặc diểm ngụn ngữ trong những đoạn văn này ? ( liệt kờ) ? Từ đú nột đẹp nào của Huế được nhấn mạnh ? – Thanh lịch , tinh tế , Tớnh dõn tộc cao trong biểu diễn ? Cỏch thưởng thức cú gỡ độc đỏo ? – Hs: Trăng lờn , giú mơn man . Rộn lũng ? Điều đú cho thấy ca Huế nổi bật với vẻ đẹp nào ? – cỏch thưởng thức vừa dõn dó , vừa sang trọng , ca huế đó đạt đến mức hoàn thiện trong cỏch thưởng thức ? Khi viết ” Khụng gian như lắng đọng, thời gian như ngừng lại. Con gỏi huế nội tõm thật phong phỳ và õm thầm, kớn đỏo, sõu thẳm” , tỏc giả muốn cảm nhận sự huyền diệu nào của ca Huế trờn sụng Hương ? Đại diện nhúm trỡnh bày: HS: – Khiến người nghe quờn cả khụng gian, thời gian, chỉ cảm thấy tỡnh người – Ca Huế làm giàu tõm hồn con người, hướng tõm hồn đến những vẻ đẹp của tỡnh người xứ Huế. – Ca Huế mói mói quyến rũ bởi vẻ đẹp bớ ẩn của nú. ? Qua vb này em hiểu thờm những vẻ đẹp nào của Huế ? ? Khỏi quỏt những giỏ trị nghệ thuật đặc sắc mà tỏc giả đó sử dụng trong văn bản ? ? Từ giỏ trị nghệ thuật, văn bản đó thể hiện nổi bật những nội dung gỡ? Trước khi học văn bản Ca Huế trờn sụng Hương, em đó biết những gỡ về xứ Huế ? Sau khi học xong, em cũn hiểu thờm về Huế bởi những nột đẹp nào ? I. GIỚI THIỆU CHUNG: 1. Đ ọc – tỡm hiểu từ khú : 2. Tỏc giả- tỏc phẩm a. Tỏc giả : SGK b. Tỏc phẩm: b1. Thể loại – Bỳt kớ : Thể loại văn học ghi chộp lại con người và sự việc mà nhà văn đó tỡm hiểu, nghiờn cứu cựng với những cảm nghĩ của mỡnh nhằm thể hiện một tư tưởng nào đú. b2. Phương thức biểu đạt: Miờu tả, thuyết minh. 3. Bố cục: Chia làm 2 phần. – P1 : Từ đầu đến lớ hoài nam – Huế cỏi nụi của dõn ca – P2: Tiếp theo đến hết – những đặc sắc của Huế II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN : 1. Huế – cỏi nụi của dõn ca: – Rất nhiều điệu hũ trong lao động sx : Hũ trờn sụng , lỳc cấy , lỳc cày , chăn tằm , trồng cõy .. – Nhiều điệu lớ : lớ hoài nam , lớ hoài xuõn 2. Đặc sắc của ca Huế: + Sự hỡnh thành của ca Huế: Từ dũng ca nhạc dõn gian và ca nhạc cung đỡnh, nhó nhạc trang trọng uy nghi. + Cỏch biểu diễn : – Dàn nhạc : Đàn tranh , đàn nguyệt , tỡ bà , đàn bầu – Nam mặc ỏo dài the , quần thụng, đầu đội khăn xếp , nữ mặc ỏo dài , khăn đúng .- – Nhạc cụng : dựng nhiều ngún đàn trau chuốt III. TỔNG KẾT : Ghi nhớ : Sgk/104 1. Nghệ thuật: – Viết theo thể bỳt kớ. – Sử dụng ngụn ngữ giàu hỡnh ảnh, giàu biểu cảm, thấm đẫm chất thơ. 2. Nội dung: Ghi chộp lại một buổi ca Huế trờn sụng Hương, tỏc giả thể hiện lũng yờu mến, niềm tự hào đối với di sản văn húa độc đỏo của Huế, cũng là một di sản văn húa dõn tộc. 3. í nghĩa văn bản -Huế khụng chỉ là cỏi nụi về õm nhạc dõn gian và cung đỡnh. – Qua õm nhạc, con người Huế càng thờm thanh lịch, trữ tỡnh. – Người đến thăm Huế cũng thờm phần hiểu biết văn húa, trở nờn thanh lịch, tài tỡnh hơn. IV. CỦNG CỐ: Cho học sinh xem một đoạn video clip về cảnh biểu diễn ca Huế trờn sụng Hương. Sau đú nờu cảm nghĩ của em ? V. DĂN Dề, HƯỚNG DẪN TỰ HỌC : – Huế cú những điệu dõn ca nào ? Kể tờn cỏc loại nhạc cụ biểu diễn ? – Nờu nguồn gốc của ca Huế – Sưu tầm một số làn điệu dõn ca trờn khắp cỏc vựng miền tổ quốc và hóy giới thiệu với mọi người bằng tiếng hỏt của em. – Học phần ghi nhớ . ”Soạn bài ” Đọc thờm : Quan Âm Thị Kớnh” VI. RÚT KINH NGHIỆM: Giờ dạy thực nghiệm được đánh giá như sau: +.Ưu điểm: – Giáo viên chuẩn bị đầy đủ, chu đáo về giáo án, sưu tầm tư liệu như tranh ảnh, băng đĩa, về phương tiện dạy học hiện đại như: máy chiếu đa năng. Chính đồ dùng trực quan sống động đã kích thích hứng thú học tập của học sinh, đồng thời giúp cho bài giảng của giáo viên trở nên sâu sắc, sống động. – Học sinh hiểu bài và học khá sôi nổi, hoạt động tích cực. – Học sinh không chỉ hiểu được ý nghĩa lich sử và nét đẹp của văn hoá hà nội mà còn hiểu được con người Hà nội trong những năm thỏng chiến tranh. Giáo dục cho học sinh thái độ trân trọng, gìn giữ nét đẹp của văn hoá lịch sử dân tộc. +. Nhược điểm: Thời gian dành cho hoạt động nhúm cũn ớt chưa cú hiệu quả. C. Phần kết luận 1. Kết luận Như vậy, qua bài thực nghiệm giảng dạy trên tôi nhận thấy rằng những giải pháp tôi đưa ra trong đề tài hoàn toàn có thể thực hiện được đối với học sinh trường THCS Hồng Dương. Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh rất hào hứng với giờ học, gắn bài học với thực tiễn rất nhanh và hiệu quả. Giờ học trở nên sôi nổi hơn, tạo tâm lý nhẹ nhàng thoải mái cho học sinh ở những tiết học sau. Và đặc biệt là kết quả kiểm tra tiếp thu lĩnh hội kiến thức của học sinh đã tăng lên đáng kể, cụ thể như sau: Lớp sĩ số Điểm 9 – 10 Điểm 7 – 8 Điểm 5 -6 Điểm 3 – 4 Điểm 0 – 2 Tổng số % Tổng số % Tổng số % Tổng số % Tổng số % 7A 35 3 8,5% 9 26% 21 60% 2 5.5% 0 0 2. Kiến nghị, đề xuất. Chương trình thay sách giáo khoa của ngành giáo dục là một sự chuyển mình rất mạnh mẽ, mang lại những tiến bộ tích cực, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các cấp ngành và nhân dân. Với vai trò là giáo viên trực tiếp giảng dạy Ngữ văn THCS, tôi xin mạnh dạn có một số kiến nghị, đề xuất: – Khi dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy để kích thích sự sáng tạo và thu hút sự chú ý của học sinh cũng rất cần thiết sử dụng các đồ dùng dạy học như tranh ảnh, băng đĩa nhằm phục vụ tốt cho quá trình giảng dạy các văn bản nhật dụng nói riêng và môn văn nói chung. Nhưng trên thực tế đồ dùng dạy học cho môn Ngữ văn còn qúa ít, điều đó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giảng dạy. Vì vậy tôi rất mong môn Ngữ văn sẽ được các cấp quan tâm, bổ sung thêm các đồ dùng cho giờ dạy. – Đối với bản thân là giáo viên, tôi rất muốn góp phần nhỏ bé của mình vào các phong trào học tập của nhà trường để có được nhiều học sinh giỏi hơn nữa. – Mặc dù đã rất cố gắng khi thực hiện đề tài, song thời gian nghiên cứu không nhiều nên không thể tránh khỏi thiếu sót về cấu trúc, ngôn ngữ và kiến thức khoa học. Vì vậy, tôi mong sự quan tâm của các đồng chí, đồng nghiệp đóng góp ý kiến chân thành để đề tài này của tôi có chất lượng hơn. Xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Hà Nội, ngày 25 thỏng 03 năm 2014 Tụi xin cam đoan đõy là SKKN của tụi viết, khụng sao chộp nội dung của người khỏc. Tỏc giả Trần Thị Thanh Huyền . Nhận xét và đánh giá, xếp loại của hội đồng khoa học cơ sở. ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sỏch giỏo khoa Ngữ văn 6, 7, 8, 9(NXBGD – 2003) 2. Sỏch giỏo viờn Ngữ văn 6,7,8, 9 – tập1, 2 (NXBGD – 2003) 3. Cuốn sỏch” Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt” tỏc giả Trần Đỡnh Chung. 4. Dạy học ngữ văn 6,7,8,9 theo hướng tớch hợp do chúng tôi Lờ A chủ biờn.( nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội ) 5. Thiết kế bài giảng Ngữ văn 7 Tập II của Nguyễn Văn Đường chủ biờn ( NXB – Hà Nội.) 6. Hệ thống cõu hỏi Đọc- hiểu văn bản Ngữ văn 7 của Trần Đỡnh Chung chủ biờn. ( Nhà xuất bản giỏo dục.) Stt Nội dung Trang 1 Phần thứ nhất 2 2 A. Mở đầu 2 3 I. Lớ do chọn đề tài 2 4 1. Cơ sở lớ luận 2 5 2. Cơ sở thực tiễn 2 6 II. Mục đớch nghiờn cứu 3 7 1. Thời gian địa điểm nghiờn cứu 3 8 2. Những đúng gúp về măt lớ luận, về mặt thực tiễn. 3 9 B. Phần nội dung 4 10 I. Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiờn cứu 4 11 II. Chương 2 Nội dung vấn đề nghiờn cứu 5 12 1. Nhiệm vụ nghiờn cứu 5 13 2. Cỏc nội dung cụ thể trong đề tài. 5 14 a. Hệ thống văn bản Nhật dụng trong SGK ngữ văn THCS 5 15 b. Đặc điểm nội dung và hỡnh thức của văn bản Nhật dụng 6 16 III. chương 3. Phương phỏp nghiờn cứu- kết quả nghiờn cứu 10 17 1 Phương phỏp nghiờn cứu 10 18 2. Kết quả nghiờn cứu thực tiễn 10 19 a. Vài nột về địa bàn nghiờn cứu 10 20 b. Thực trạng 10 21 c. Đỏnh giỏ thực trạng 12 22 d. Đề xuất biện phỏp 12 23 3 Khảo nghiệm tớnh khả thi của cỏc biện phỏp đề xuất. 16 24 C. Phần kết luận 20 25 1. Kết luận 21 26 2. Kiến nghị, đề xuất 21

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tích Hợp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8 / 2023

Cuộc sống hằng ngày diễn ra trên trái đất, con người và muôn loài con vật đều phải thở, phải ăn, phải uống, phải vui chơi và học tập. Điều kiện đáp ứng nhu cầu ăn uống, hít thở, đó chính là môi trường; môi trường và sự sống là mối quan hệ không thể tách rời nhau, môi trường cần thiết cho sự sống của mọi nòi giống và dựa vào môi trường nòi giống có được phát triển hay tuyệt chủng, suy vong.

Điều đáng nói ở đây là trong sinh hoạt cộng đồng chúng ta hằng ngày, chính chúng ta đã tự gây ô nhiễm môi trường sống của chính mình mà không hề hay biết. Cho nên giữ gìn và bảo vệ môi trường đã và đang là một vấn đề được cả thế giới nói chung, Việt nam chúng ta nói riêng đặc biệt quan tâm.

Chất lượng môi trường có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển bền vững đối với cuộc sống của mọi con người. Môi trường là một khái niệm quen thuộc và tồn tại xung quanh chúng ta. Vì vậy, việc giáo dục ” Bảo vệ môi trường ” cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người giáo viên, trong quá trình giảng dạy cần lồng ghép dạy các bộ môn văn hóa thông qua giáo dục và bảo vệ môi trường. Đối với Trung học cơ sớ là bậc học nền tảng, các em rất nhạy cảm cho nên việc giáo dục môi trường được hình thành ở lứa tuổi này có ảnh hưởng lâu dài, có tính bền vững đối với các em sau này khi học tiếp lên các lớp trên.

Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy trong chương trình giảng dạy việc kết hợp giáo dục bảo vệ môi trường là điều kiện rất quan trọng nhằm giúp các em học sinh ở lứa tuổi này hiểu được tầm quan trọng của môi trường. Từ đó, hình thành được ý thức bảo vệ môi trường.

Ở lứa tuổi học sinh Trung học, nhất là học sinh lớp Tám các em đã bắt đầu tiến hành học tập một cách tương đối có hệ thống qua các môn học và qua các hoạt động vui chơi, giải trí v.v Nhờ học tập các em lĩnh hội được những kiến thức về tự nhiên về khoa học xã hội và thế giới xung quanh, qua học tập các em hiểu được môi trường là bầu không khí để thở, nguồn nước sạch để sinh hoạt và bầu không gian yên tĩnh để vỗ về giấc ngủ sau giờ học tập. Đó là môi trường trong lành, an toàn cần thiết cho con người. Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu được tầm quan trọng của môi trường lại là vấn đề quan trọng hơn. Để đạt được điều này, bản thân tôi là giáo viên giảng dạy trên lớp, suy nghĩ việc dạy học cần phải kết hợp nội dung bảo vệ môi trường tích hợp trong bộ môn Ngữ Văn, nhằm định hướng cho các em những nhận thức đúng đắn về môi trường và bảo vệ môi trường.

I. ĐỀ TÀI : TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG NGỮ VĂN 8 II. ĐẶT VẤN ĐỀ : 1) Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu: Cuộc sống hằng ngày diễn ra trên trái đất, con người và muôn loài con vật đều phải thở, phải ăn, phải uống, phải vui chơi và học tập. Điều kiện đáp ứng nhu cầu ăn uống, hít thở, đó chính là môi trường; môi trường và sự sống là mối quan hệ không thể tách rời nhau, môi trường cần thiết cho sự sống của mọi nòi giống và dựa vào môi trường nòi giống có được phát triển hay tuyệt chủng, suy vong. Điều đáng nói ở đây là trong sinh hoạt cộng đồng chúng ta hằng ngày, chính chúng ta đã tự gây ô nhiễm môi trường sống của chính mình mà không hề hay biết. Cho nên giữ gìn và bảo vệ môi trường đã và đang là một vấn đề được cả thế giới nói chung, Việt nam chúng ta nói riêng đặc biệt quan tâm. Chất lượng môi trường có ý nghĩa to lớn trong sự phát triển bền vững đối với cuộc sống của mọi con người. Môi trường là một khái niệm quen thuộc và tồn tại xung quanh chúng ta. Vì vậy, việc giáo dục " Bảo vệ môi trường " cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của mỗi người giáo viên, trong quá trình giảng dạy cần lồng ghép dạy các bộ môn văn hóa thông qua giáo dục và bảo vệ môi trường. Đối với Trung học cơ sớ là bậc học nền tảng, các em rất nhạy cảm cho nên việc giáo dục môi trường được hình thành ở lứa tuổi này có ảnh hưởng lâu dài, có tính bền vững đối với các em sau này khi học tiếp lên các lớp trên. Qua nhiều năm giảng dạy, tôi nhận thấy trong chương trình giảng dạy việc kết hợp giáo dục bảo vệ môi trường là điều kiện rất quan trọng nhằm giúp các em học sinh ở lứa tuổi này hiểu được tầm quan trọng của môi trường. Từ đó, hình thành được ý thức bảo vệ môi trường. Ở lứa tuổi học sinh Trung học, nhất là học sinh lớp Tám các em đã bắt đầu tiến hành học tập một cách tương đối có hệ thống qua các môn học và qua các hoạt động vui chơi, giải trí v.v Nhờ học tập các em lĩnh hội được những kiến thức về tự nhiên về khoa học xã hội và thế giới xung quanh, qua học tập các em hiểu được môi trường là bầu không khí để thở, nguồn nước sạch để sinh hoạt và bầu không gian yên tĩnh để vỗ về giấc ngủ sau giờ học tập. Đó là môi trường trong lành, an toàn cần thiết cho con người. Nhưng làm thế nào để học sinh hiểu được tầm quan trọng của môi trường lại là vấn đề quan trọng hơn. Để đạt được điều này, bản thân tôi là giáo viên giảng dạy trên lớp, suy nghĩ việc dạy học cần phải kết hợp nội dung bảo vệ môi trường tích hợp trong bộ môn Ngữ Văn, nhằm định hướng cho các em những nhận thức đúng đắn về môi trường và bảo vệ môi trường. 3) Lý do chọn đề tài : Bảo vệ môi trường hiện là một trong những mối quan tâm mang tính toàn cầu. Ở nước ta việc bảo vệ môi trường cũng đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc. để định hướng cho việc triển khai nhiệm vụ giáo dục moi trường trong nhà trường phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng bộ tài liệu tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường cho các môn học trong đó có môn Ngữ Văn. Tất nhiên việc Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đưa việc lồng ghép giáo dục BVMT vào trong các môn học là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp nhất là trong tình hình hiện nay. Song thực tế việc lồng ghép giáo dục BVMT hiện nay còn gặp nhiều khó khăn bất cập và chưa nhất quán. Ở bộ môn Ngữ Văn với những đặc thù riêng, việc tích hợp này phải được thực hiện như thế nào đề không gượng ép, vừa đảm bảo tính khoa học của bộ môn vừa lồng ghép được nội dung giáo dục BVMT vào trong các tiết dạy cụ thể . Nếu tích hợp không khéo dễ gây phản cảm, bởi lẽ tự thân mỗi tác phẩm đã có chức năng giáo dục rất cao. Để đọc-hiểu, cảm được một tác phẩm văn học thì cũng đã hình thành được trong học sinh một cảm xúc. một tình cảm tốt đẹp nào đó mà tác phẩm hướng tới. Vì thế để có thể có được một tiết dạy lồng ghép giáo dục BVMT đạt hiệu quả cao mà không làm mất đi tính văn chương của tác phẩm đó mới là vấn đề. Chính vì những lí do đó mà chúng tôi cũng như các bạn đồng nghiệp khác hết sức băn khoăn, trăn trở làm thế nào để tích hợp, lồng ghép việc BVMT vào các tiết học đạt hiệu quả cao nhất. Bản thân tôi xin được trình bày vài kinh nghiệm nhỏ với nội dung đề tài sau : " Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các văn bản nhật dụng Ngữ Văn 8. " 4) Giới hạn nghiên cứu của đề tài : Với nội dung đề tài tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, tôi triển khai thực hiện để nghiên cứu cho học sinh hai khối lớp 8, 9 của trường trong năm học qua và áp dụng cho năm học 2009-2010. Nhưng do điều kiện, thời gian có hạn nên bản thân tôi chỉ nghiên cứu rút kinh nghiệm ở lớp Tám, trong năm học 2009 - 2010 trường THCS Nguyễn Văn Trỗi, thuộc phòng Giáo dục và Đào tạo Điện Bàn. III. CƠ SỞ LÝ LUẬN : Thực hiện chủ trương của Đảng và chính phủ, ngày 31 tháng 1 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị số : 02/2005/CT- BGD&ĐT về tăng cường công tác " Giáo dục bảo vệ môi trường "Xác định nhiệm vụ trọng tâm cho học sinh kiến thức kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng các hình thức phù hợp qua các môn học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, môi trường xanh, sạch, đẹp. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN : Từ nhận định trên, chúng ta có thể thấy rằng sự nghiệp giáo dục nói chung và vấn đề giảng dạy trong các nhà trường nói riêng là một quá trình lâu dài, cần được bắt đầu từ mẫu giáo và được tiếp tục ở các cấp học phổ thông cũng như trong cuộc sống sau này. Những hiểu biết về môi trường được học sinh tiếp nhận qua các bài văn, bài thơ sẽ in sâu dần vào tâm trí của các em. Từ đó các em sẽ có những chuyển biến về tư tưởng, tình cảm và có những hành động tự giác bảo vệ môi trường mà các em trước đây còn mơ hồ chưa biết môi trường là gì? Vì sao phải bảo vệ? V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Tổ chức dạy "Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các văn bản nhật dụng Ngữ Văn 8", giúp học sinh hiểu, cảm nhận được đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học chính là góp phần giáo dục học sinh một cách tự nhiên về ý thức bảo vệ môi trường. 1. Những nguyên tắc cơ bản tích hợp BVMT trong các văn bản nhật dụng Ngữ Văn 8: a) Nguyên tắc chung: - Chỉ tích hợp những phần có nội dung lỉên quan đến môi trường. - Đảm bảo đúng đặc trưng bộ môn, không biến giờ học thành giờ giáo dục về BVMT. - Không lạm dụng qua snhiều kiến thức dẫn đến quá tải. b) Những nguyên tắc cụ thể: - Tập trung vào những kiến thức trọng tâm của bài. - Hệ thống câu hỏi cho nội dung bài học phải khoa học, hợp lí. - Tích hợp những kiến thức đã, đang và sẽ học về các văn bản nhật dụng. học sinh. - Hiểu được ý nghĩa của việc lồng ghép BVMT trong các văn bản nhật dụng. c) Khâu chuẩn bị: - Hệ thống hóa cá kiến thức trong sách giáo khoa có thể giáo dục BVMT. học. 2. Hướng tích hợp giáo dục BVMT trong các văn bản nhật dụng Ngữ Văn 8: Trong chương trình Ngữ Văn lớp 8 có ba văn bản nhật dụng đó là " Thông tin về trái đất năm 2000 ", " Ôn dịch, thuốc lá " và " Bài toán dân số " đây là những văn bản gắn liền với vấn đề môi trường, do đó khi dạy những văn bản này ngoài những kiến thức trọng tâm cần phân tích, giáo viên cần chú ý khai thác những khía cạnh khác nhau của vấn đề nhưng không làm rối rắm. a) Văn bản thông tin về ngày trái đất năm 2000: ( Xem hình ảnh trang 7 ) Đây là một văn bản thuyết minh về một vấn đề khoa học nhưng hiểu được nó một cách cặn kẽ lại không phải là một chuyện đơn giản. Muốn dạy bài này đạt hiệu quả cao, cần tích hợp những kiến thức đang và sẽ học về văn bản thuyết minh, với một số kiến thức về khoa học tự nhiên đặc biệt là kiến thức hóa học. Ngoài việc tập trung phân tích tác hại của việc sử dụng bao ni lông, cần cho học sinh thấy được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống, sức khỏe con người đồng thời có những suy nghĩ tích cực về các vấn đề về môi trường. Do đó từ cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề cần lựa chọn đưa ra những câu hỏi phù hợp trong việc lồng ghép giáo dục BVMT. b) Văn bản Ôn dịch, thuốc lá: ( Xem hình ảnh trang 8) Khi dạy bài này ngoài việc xác định được quyết tâm phòng chống thuốc lá trên cơ sở nhận thức tác hại to lớn, nhiều mặt của thuốc lá đối với đời sống cá nhân và cộng đồng, chúng ta cần phải tác động đến tâm lí của học sinh nhất là học sinh bậc THCS và THPT bởi đây là lứa tuổi mà nếu các em nhận thức một cách đầy đủ về tác hại của thuốc lá thì chính các em là những người có thể góp phần đẩy lùi tên nghiện thuốc lá, có thể qua những thông tin trên báo, đài các em đã thấy được tác hại nguy hiểm của thuốc lá, nhưng qua bài học này dựa vào những chứng cớ khoa học với cách lập luận đều thuyết phục của tác giả thì rõ ràng các em sẽ có sự nhìn nhận đúng đắn hơn về tác hại của thuốc lá, từ đó các em rút ra được bài học cho bản thân trong việc ngăn ngừa và phòng chống thuốc lá.Vấn đề quan trọng trong bài học này là làm thế nào để lồng ghép tích hợp việc BVMT vào trong tiết dạy để không biến tiết dạy thành một giờ dạy về môi trường. Với một văn bản nhật dụng như bài Ôn dịch, thuốc lá thì không nhất thiết tìm mọi cách để lồng ghép việc giáo dục BVMT, bởi trong văn bản này tác giả đã đưa ra những dẫn chứng dựa trên cơ sở khoa học cũng như cách lập luận hết sức rõ ràng và thuyết phục, nên chăng từ mục đích yêu cầu của bài học, chúng ta cần cung cấp thông tin thêm cho các em về những tác hại của thuốc lá. Riêng cá nhân tôi, để dạy tiết học này có hiệu quả thì chúng ta nên thực hiện những yêu cầu sau: * Về kiến thức: - Hệ thống hóa các kiến thức trong sách giáo khoa có thể lồng ghép giáo dục BVMT. - Hệ thống câu hỏi phải khoa học, hợp lí, phù hợp với nội dung bài học. * Phương tiện, đồ dùng học tập: - Sơ đồ về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người. * Thực hiện: + Hệ thống câu hỏi lồng ghép: Thực ra khi dạy bài Ôn dịch, thuốc lá thì giáo viên cũng đã lồng ghép, liên hệ thực tế ngay trong bài dạy. Trên cơ sở phân tich tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe, ảnh hưởng đến đạo đức cá nhân và cộng đồng, giáo viên có thể đưa thêm những câu hỏi: - Trước khi học văn bản này, em biết gì về tác hại của thuốc lá? - Với những chứng cớ khoa học về tác hại của thuốc lá mà tác giả đưa ra như vậy, bản thân em cần phải làm gì để tham gia vào việc phòng chống tệ nạn thuốc lá? - Ở nước ta, em thấy có những việc làm gì để phòng chống thuốc lá? - Hiện nay trong học sinh chúng ta vẫn có một số em lén lút hút thuốc lá (không nhiều ), em nghĩ gì về trường hợp này? c) Văn bản Bài toán dân số: ( Xem hình ảnh trang 8) - Con đường nào là con đường tốt nhất để hạn chế sự gia tăng dân số? ( Bằng con đường giáo dục mới giúp mọi người hiểu ra nguy cơ của sự bùng nổ và gia tăng dân số ) - Vì sao sự gia tăng dân số có tầm quan trọng hết sức to lớn đối với tương lai nhân loại, nhất là đối với các dân tộc còn nghèo nàn, lạc hậu (dân số phát triển quá nhanh sẽ ảnh hưởng đến đời sống của con người ở nhiều phương diện như chỗ ở, lương thực, môi trường, việc làm, giáo dục, và kết quả là dẫn đến đói nghèo, bệnh tật, lạc hậu, Vì nghèo nàn, lạc hậu hạn chế sự phát triển giáo dục) Tóm lại, khi dạy các văn bản nhật dụng, chúng ta không nên áp đặt những câu hỏi một cáhc máy móc, điều quan trọng là cần đưa ra những câu hỏi dẫn dắt để lồng ghép một cách hợp lí và khai thác khả năng nhận biết, sáng tạo của học sinh để từ đó học sinh thấy được ý nghĩa cũng như những việc cần làm sau khi học xong văn bản. VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 1. Kết quả đạt được: Trong qúa trình áp dụng việc tích hợp BVMT trong các văn bản nhật dụng lớp 8, bước đầu các em thấy được tác hại của việc không bảo vệ môi trường thì dẫn đến những hậu quả khôn lường về sức khỏe cho cộng đồng và bản thân mình. Qua đó, các em đã tích cực tuyên truyền việc BVMT là rất cần thiết cho cộng đồng. Đồng thời giúp các em hiểu biết sâu hơn đời sống và hình thành tốt nhân cách của mình. Trong kì I năm học 2009 - 2010 thực hiện đề tài này đối với lớp 8 bước đầu đã tạo cho các em hứng thú trong học tập, tạo được tính tự giác lao động vệ sinh lớp học để bảo vệ trường học " Xanh, sạch, đẹp ". Theo cách Tích hợp giáo dục BVMT trong các văn bản nhật dụng lớp 8 đã thu hút toàn bộ các đối tượng học sinh trong lớp được học tập. 2. Bài học kinh nghiệm : Trên cơ sở kết quả học tập và thực tế giảng dạy bằng việc Tích hợp giáo dục BVMT trong các văn bản nhật dụng lớp 8, bản thân tôi đã rút ra được một số ninh nghiệm sau: - Giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài đầy đủ trước khi lên lớp. - Cần phải có một hệ thống câu hỏi lồng ghép phù hợp trong từng bài nhằm phát huy tinh thần tự học và tìm tòi học hỏi của học sinh. VII. KẾT LUẬN: Việc lồng ghép giáo dục BVMT trong bộ môn Ngữ Văn nói chung và môn Ngữ Văn lớp 8 nói riêng là hết sức đúng đắn, đặc biệt là các văn bản nhật dụng ở lớp 8, song ở góc độ nào đó vẫn còn những hạn chế nhất định, nhất là khi triển khai vấn đề BVMT trong một số tiết học vẫn còn lúng túng. Qua đề tài này tôi rất mong được sự góp ý chân tình từ các bạn đồng nghiệp để cho việc lồng ghép, tích hợp các vấn đề môi trường vào trong tiết dạy đạt hiệu qủa cao mà không làm mất đi tính đặt trưng của bộ môn. VIII. ĐỀ NGHỊ: - Cần trang bị thêm tranh ảnh, đồ dùng phụ vụ cho tiết dạy. - Cần tổ chức trao đổi kinh nghiệm việc lồng ghép giáo dục BVMT theo hướng tích hợp với môn học ( Sinh hoạt cụm chuyên môn, tổ chuyện môn, báo cáo chuyên đề ). Người viết Huỳnh Ngọc Quới IX. PHỤ LỤC: MỘT VÀI HÌNH ẢNH TÍCH HỢP TRONG CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG NGỮ VĂN 8 HÌNH ẢNH MÔI TRƯỜNG BỊ Ô NHIỄM HÌNH ẢNH VỀ TUYÊN TRUYỀN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HÌNH ẢNH VỀ TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ HÌNH ẢNH GIA TĂNG VÀ TUYÊN TRUYỀN VỀ DÂN SỐ X . TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Sách giáo khoa và sách giáo viên Ngữ Văn 8 3. Tài liệu Sở công nghệ và môi trường 4. Từ thuốc lá đến ma túy - Bệnh nghiện của Nguyễn Khắc Viện. 3. Báo giáo dục và thời đại chủ nhật số 28, 1995 của Thái An. XI.MỤC LỤC: 1. Tên đề tài 1 2. Đặt vấn đề 1 - Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu 1 - Lý do chọn đề tài 1 - Giới hạn nghiên cứu của đề tài 2 3. Cơ sở lý luận 3 4. Cơ sở thực tiễn 3 - Kết quả đạt được 6 - Bài học kinh nghiệm 6 7. Kết luận 6 8. Đề nghị 6 10. Tài liệu tham khảo 9

Bạn đang đọc nội dung bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Giảng Dạy Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Trong Chương Trình Ngữ Văn 11 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!