Đề Xuất 12/2022 # Quyết Liệt, Đồng Bộ Hơn Nữa Trong Thực Hiện Nghị Quyết 19 / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Quyết Liệt, Đồng Bộ Hơn Nữa Trong Thực Hiện Nghị Quyết 19 / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quyết Liệt, Đồng Bộ Hơn Nữa Trong Thực Hiện Nghị Quyết 19 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tiếp tục chương trình kỳ họp lần thứ 32, ngày 5/4, BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIV đã nghe và cho ý kiến nhiều nội dung quan trọng. Đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, chủ trì hội nghị.

[links()]

Ngày làm việc thứ 2 Hội nghị BCH Đảng bộ tỉnh khóa XIV, lần thứ 32.

Tại hội nghị, các đại biểu nghe báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU ngày 3/3/2015 của BCH Đảng bộ tỉnh gắn với kiểm điểm kết quả thực hiện Chương trình hành động số 21-CTr/TU ngày 5/2/2018 của BCH Đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH Trung ương Đảng khóa XII.

Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU và Chương trình hành động số 21-CTr/TU, tỉnh đã đạt được những kết quả nổi bật. Công tác tinh giản tổ chức, bộ máy, biên chế, cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC, thí điểm thực hiện hợp nhất cơ quan, đơn vị, nhất thể và tăng cường kiêm nhiệm các chức danh được đẩy mạnh thực hiện đồng bộ, thống nhất từ tỉnh đến cơ sở. Từ đó khắc phục được một số hạn chế, tồn tại; giảm đầu mối, biên chế, góp phần xây dựng tổ chức, bộ máy từng bước hiện đại, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Chất lượng đội ngũ CBCCVC từng bước được nâng cao; các chủ trương, đường lối của Đảng sớm được cụ thể hóa, hạn chế sự chồng chéo, cắt khúc hoặc có khoảng trống; hạn chế sự đùn đẩy, né tránh của một số cơ quan, đơn vị, đội ngũ CBCCVC; nâng cao trách nhiệm của tập thể và nhất là cá nhân người đứng đầu trong tổ chức, thực hiện nhiệm vụ; tạo sự thông suốt về tư tưởng, thống nhất trong hành động, giảm khâu trung gian.

Tính đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện giảm 473 biên chế công chức và trên 1.300 người làm việc so với năm 2015, đảm bảo lộ trình, tỷ lệ (giảm 10% so với số Trung ương giao năm 2015). CBCCVC thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức, rèn luyện kỹ năng; đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn có trình độ đại học trở lên chiếm 75% (chỉ tiêu đề ra 70%). Đã có 7/14 địa phương nhất thể hóa chức danh bí thư đồng thời là chủ tịch HĐND huyện, đạt 50% (chỉ tiêu 50%); 3/14 địa phương thực hiện nhất thể hóa chức danh bí thư đồng thời là chủ tịch UBND huyện, đạt 21,4% (chỉ tiêu 25%); 90/186 xã, phường thực hiện bí thư đồng thời là chủ tịch UBND xã, bằng 48,4% (chỉ tiêu là 50%); 1.557/1.565 thôn, khu thực hiện nhất thể hóa bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, khu phố, chiếm 98,5%…

Đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, kết luận hội nghị.

Việc từng bước đẩy mạnh giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập đã tạo chuyển biến mới trong tư duy, nhận thức của các cấp, ngành, đơn vị và đội ngũ CBCCVC; các đơn vị đã chủ động, chú trọng khai thác sử dụng hiệu quả tài sản, nguồn lực để triển khai, mở rộng hoạt động dịch vụ, phục vụ nhân dân tốt hơn, tăng nguồn thu, nâng cao thu nhập, giảm chi thường xuyên cho ngân sách.

Trên cơ sở ý kiến phát biểu của các đồng chí trong BCH Đảng bộ tỉnh, đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, khẳng định: Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU và Chương trình hành động số 21-CTr/TU đã mang lại những hiệu quả rõ rệt. Đó là bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Các mô hình Quảng Ninh thực hiện đều được sự đồng thuận cao trong hệ thống chính trị, làm tiền đề cho phát triển KT-XH. Việc tinh gọn bộ máy đã tiết kiệm chi thường xuyên để dành nguồn lực chi cho đầu tư phát triển. Nhận thức của cán bộ, đảng viên được nâng lên rõ rệt…

Bên cạnh những hiệu quả mang lại, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cho rằng, phải đánh giá thực chất những hạn chế còn tồn tại. Nhiều mô hình khi bắt tay vào thực hiện vẫn còn lúng túng từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở; một số địa phương, ngành vẫn còn tư tưởng bao cấp. Trong quá trình triển khai các mô hình còn thiếu sự quyết liệt, có thời điểm chững, cụ thể như thực hiện nhất thể hóa các chức danh cấp xã, huyện. Trong khi đó nhiều tỉnh, thành phố khác đến học tập lại đang thực hiện rất quyết liệt, nhanh chóng, mang lại hiệu quả.

Do đó, đồng chí Nguyễn Văn Đọc yêu cầu các ngành, địa phương cần phải nhìn nhận, đánh giá kỹ để tiếp tục thực hiện các giải pháp quyết liệt, đồng bộ hơn nữa để việc thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TU thực sự mang lại hiệu quả thực chất.

Đồng chí Nguyễn Đức Long, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, phát biểu tại hội nghị.

Nghe và cho ý kiến về đề án và dự thảo Nghị quyết chuyên đề của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, các đại biểu đều đánh tiềm năng phát triển cảng biển của tỉnh Quảng Ninh không thua kém so với các địa phương khác có hệ thống cảng biển phát triển. Tuy nhiên, thời gian qua chưa được chú trọng khai thác đúng với lợi thế sẵn có. Vì vậy, việc ban hành Nghị quyết phát triển cảng biển và dịch vụ cảng biển trên địa bàn tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến 2030 là đòn bẩy quan trọng để tỉnh Quảng Ninh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đưa lĩnh vực kinh tế cảng biển phát triển, đóng góp cho phát triển KT-XH chung của tỉnh. Trong đó có lưu ý, không đi theo hướng phát triển chung mà cần nắm bắt được lợi thế của tỉnh để đầu tư, phát triển có trọng điểm.

Thu Chung

Bộ Kh&Amp;Cn Quyết Liệt Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 / 2023

Khẩn trương, quyết liệt rà soát các văn bản pháp quy

Bộ KH&CN đang khẩn trương xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Các dự thảo này đã hoàn thiện và đang trình Chính phủ phê duyệt.

Phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ quản lý chuyên ngành rà soát, bãi bỏ hoặc kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi các quy định chứng nhận hợp quy, quản lý chất lượng không phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật An toàn thực phẩm theo hướng bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, giảm thiểu thời gian xử lý về thủ tục hành chính đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, tăng cường hậu kiểm. Đã tổ chức Hội thảo rà soát hàng hóa nhóm 2 và văn bản quy phạm pháp luật về thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu của 12 bộ quản lý chuyên ngành để triển khai Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP, Nghị quyết số 75/NQ-CP ngày 9/8/2017 về phiên họp thường kỳ tháng 7 năm 2017. Kết quả nổi bật của Hội thảo là các bộ quản lý chuyên ngành đã nhất trí, thống nhất chung tay cùng phối hợp thực hiện để hoàn thành các nhiệm vụ được Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao.

Hình thành và phát triển hệ thống ĐMST quốc gia

Thứ nhất, tổ chức đánh giá, lựa chọn các nhiệm vụ triển khai các hoạt động thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST; các nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật cần thiết về: Đăng ký thành lập, hoạt động của tổ chức, cá nhân đầu tư mạo hiểm; cơ chế, chính sách đầu tư hỗ trợ ban đầu của Nhà nước và khuyến khích đầu tư trực tiếp cho khởi nghiệp ĐMST của các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân và cộng đồng xã hội; đề xuất ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về chính sách thuế, tài chính đặc thù đối với tổ chức và cá nhân có hoạt động khởi nghiệp ĐMST hoặc đầu tư cho khởi nghiệp ĐMST.

Thứ hai, tổ chức Ngày hội khởi nghiệp ĐMST quốc gia (Techfest 2017) thu hút trên 4.500 lượt đại biểu tham dự; 29 thương vụ có khả năng đầu tư lên đến 4,5 triệu USD; 250 doanh nghiệp khởi nghiệp tham dự; triển lãm sản phẩm khởi nghiệp ĐMST, giới thiệu dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp của hơn 150 doanh nghiệp và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp; thu hút đại diện khoảng 50 quỹ đầu tư trong nước và quốc tế tham dự; hơn 170 cuộc kết nối đầu tư sâu trước và trong sự kiện được thực hiện.

Thứ ba, phối hợp tổ chức thành công sự kiện Diễn đàn khởi nghiệp APEC vào tháng 9/2017 tại thành phố Hồ Chí Minh (APEC Startup Forum) với sự tham gia của gần 30 doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST, hơn 30 nhà đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, các đại diện của Việt Nam và quốc tế về khởi nghiệp ĐMST.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khởi nghiệp ĐMST; đặc biệt với các quốc gia mạnh về khởi nghiệp ĐMST như Hoa Kỳ, Israel…, các tổ chức quốc tế như UberExchange (Hoa Kỳ), N15 (Hàn Quốc), chương trình đào tạo thạc sỹ quản trị kinh doanh VietMBA (liên kết với Đại học Hawaii, Hoa Kỳ), Quỹ đầu tư mạo hiểm Canada Asia Pacific Foundation và các đối tác khác nhằm tăng cường giới thiệu hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam với các đối tác quốc tế, thu hút các nguồn lực hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST của quốc tế về với Việt Nam.

Thứ năm, phát triển được hệ thống khởi nghiệp ĐMST ở các vùng, miền với trọng tâm là các vùng kinh tế và hệ thống khởi nghiệp ĐMST ở các trường đại học trong cả nước để thông qua đó giúp tạo dựng và lan toả văn hóa khởi nghiệp. Bộ KH&CN phối hợp với các cơ quan quản lý KH&CN ở các địa phương, các đại học vùng đã tổ chức chuỗi “Hội thảo khoa học liên kết vùng xây dựng Hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST” tại 7 Vùng kinh tế: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long để lan tỏa hoạt động khởi nghiệp ĐMST trong vùng, quốc gia và quốc tế.

Bên cạnh đó, Bộ KH&CN cũng đã tổ chức các hoạt động kết nối cung – cầu thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ và hỗ trợ chuyển giao công nghệ như: Tổ chức hoạt động Trình diễn, kết nối cung – cầu công nghệ năm 2017 khu vực Nam Trung Bộ – Tây Nguyên tại thành phố Đà Nẵng; phối hợp với các tổ chức KH&CN, doanh nghiệp xây dựng bản đồ công nghệ, lộ trình đổi mới công nghệ cho 8 lĩnh vực phục vụ nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm trọng điểm, sản phẩm chủ lực, sản phẩm quốc gia, có nhiều khả năng phát triển như chọn tạo giống và sản xuất lúa gạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ gen, tế bào gốc tại Việt Nam, sản xuất vắc xin cho người, sản xuất vật liệu và linh kiện điện tử, cơ khí nông nghiệp, cơ khí ô tô…

Đổi mới về tổ chức, cơ chế quản lý và hoạt động bảo hộ quyền SHTT

Chương trình phát triển tài sản trí tuệ (TSTT) giai đoạn 2016-2020 được đẩy mạnh thực hiện, tạo bước đột phá, dịch chuyển lớn về quan điểm tiếp cận đối với hoạt động bảo hộ, phát triển TSTT so với giai đoạn 2011-2015: Đa dạng về chủ thể tham gia đề xuất; phong phú về loại dự án; đầy đủ về lĩnh vực triển khai và toàn diện về nội dung. Điểm nhấn của Chương trình năm 2017 là có nhiều đề xuất dự án khai thác quyền SHTT theo chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp làm hạt nhân và bước đầu giúp cho các doanh nghiệp khai thác tốt thông tin sáng chế của nước ngoài phục vụ hoạt động ĐMST.

Tổ chức hướng dẫn và tăng cường các giải pháp chủ động hỗ trợ các địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ. Tính đến tháng 11/2017, đã xử lý 121 đơn đề nghị cung cấp ý kiến chuyên môn của các cơ quan thực thi trên cả nước để hỗ trợ quá trình thực hiện nhiệm vụ thực thi quyền SHTT, cụ thể: 4 đơn đề nghị cung cấp ý kiến chuyên môn về sáng chế; 110 đơn đề nghị cung cấp ý kiến chuyên môn về nhãn hiệu; 7 đơn đề nghị cung cấp ý kiến chuyên môn về kiểu dáng công nghiệp.

Bộ KH&CN đã xây dựng và triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho 38 thủ tục hành chính và tất cả công văn, tài liệu đến và đi (khoảng 85 loại tài liệu trung gian trong quá trình xử lý đơn).

Báo cáo kịp thời, thường xuyên về chỉ số, chỉ tiêu ĐMST

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là hàng quý có báo cáo chuyên đề về tình hình, kết quả cải thiện các chỉ số, chỉ tiêu về ĐMST gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp báo cáo Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ vào tháng cuối quý, cuối năm; Bộ KH&CN đã chỉ đạo các đơn vị chức năng thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng:

Hai là, hướng dẫn các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố tìm hiểu phương pháp, cách tính toán và ý nghĩa các chỉ số xếp hạng ĐMST: Đã tổ chức 4 hội thảo cho các bộ, ngành, địa phương; thường xuyên trao đổi thông tin, hướng dẫn cho một số bộ, cơ quan, địa phương có nhu cầu về định nghĩa, nguồn thông tin, đánh giá hiện trạng chỉ số ĐMST toàn cầu được phân công chủ trì hoặc về yêu cầu, nhiệm vụ mà cơ quan chủ trì cần thực hiện; xây dựng Tài liệu hướng dẫn về “Định nghĩa, cách tính toán và nguồn dữ liệu của các chỉ số ĐMST toàn cầu” gửi tới các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương được Chính phủ phân công chủ trì cải thiện chỉ số ĐMST toàn cầu.

Ba là, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành, địa phương theo dõi tình hình thực hiện cải thiện chỉ số ĐMST toàn cầu. Bộ KH&CN đã xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm tra một số bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai cải thiện chỉ số ĐMST toàn cầu. Bên cạnh đó, Bộ KH&CN đã tổ chức nhiều hoạt động truyền thông về chỉ số ĐMST toàn cầu và Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP.

*

* *

Trên cơ sở những kết quả đạt được của năm 2017, để có thể tiếp tục thực hiện việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018, Bộ KH&CN tiếp tục thực hiện và kiến nghị một số giải pháp sau: Tiếp tục hoàn thiện văn bản pháp luật, cải cách thủ tục hành chính để tạo môi trường ngày càng thông thoáng cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; phối hợp với Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối Ngân sách nhà nước (NSNN) để tổng mức chi từ NSNN cho KH&CN hàng năm không ít hơn 2% tổng chi NSNN; tiếp tục xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách để khuyến khích thực hiện các nhiệm vụ KH&CN gắn với doanh nghiệp và phát triển theo chuỗi giá trị các sản phẩm trọng điểm của quốc gia có tiềm năng xuất khẩu và giá trị kinh tế cao; hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược SHTT quốc gia, đẩy nhanh tốc độ xử lý đơn đăng ký xác lập quyền và thực thi quyền sở hữu công nghiệp, phát triển và khai thác TSTT; xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển KH&CN trong doanh nghiệp, khuyến khích hoạt động R&D trong các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… Những giải pháp này được thực hiện liên tục, đồng bộ hy vọng môi trường kinh doanh năm 2018 sẽ tiếp tục được hoàn thiện và cải thiện theo hướng tích cực, phù hợp với thông lệ quốc tế, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 / 2023

(BĐT) – Khép lại 3/4 thời gian thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2018, dù đã có nhiều bộ, ngành và địa phương quan tâm hơn tới việc thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP, tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách tương đối xa giữa kết quả thực hiện và mục tiêu đặt ra là cắt giảm ít nhất 50% số điều kiện kinh doanh (ĐKKD) và thủ tục kiểm tra chuyên ngành đang cản trở sự phát triển của doanh nghiệp.

Cắt giảm ĐKKD: “Chắc chắn không đạt”

Báo cáo mới nhất về tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia do Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) trình Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ diễn ra ngày 1/10/2018 không có nhiều thông tin tích cực.

Theo báo cáo này, tính đến ngày 27/9/2018, Bộ KH&ĐT mới nhận được báo cáo quý III/2018 về tình hình và kết quả thực thi Nghị quyết 19-2018/NQ-CP của 16 bộ, cơ quan và 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các báo cáo gửi về cho thấy, hầu hết các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện đạt mục tiêu, nhưng khi rà soát thấy nhiều nội dung chưa thực chất.

“Có trường hợp, báo cáo nêu hành động thực thi chung chung, đôi khi chỉ là lặp lại các nội dung yêu cầu của Nghị quyết, kết quả không rõ ràng (nhất là báo cáo của một số địa phương)”, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng Ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương nhận xét.

Đối với cải cách quy định về ĐKKD, tính đến ngày 15/8/2018 (thời hạn hoàn thành việc trình cấp có thẩm quyền các văn bản để thực thi phương án đơn giản hóa ĐKKD bằng hình thức một văn bản sửa nhiều văn bản theo quy trình, thủ tục rút gọn), hầu hết các bộ trình dự thảo nghị định về cắt giảm, sửa đổi ĐKKD đúng hạn. Tuy nhiên, cho đến nay mới có 2 nghị định cắt giảm, sửa đổi ĐKKD được ban hành (Nghị định 08/2018/NĐ-CP của Bộ Công Thương và Nghị định 100/2018/NĐ-CP của Bộ Xây dựng) với 858 ĐKKD được cắt giảm, đơn giản hóa. “Như vậy, việc thực hiện cắt giảm ĐKKD mới chỉ đạt 30% so với yêu cầu”, Báo cáo nêu kết quả.

Đối với việc thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, trong quý III cũng chưa có nhiều chuyển biến so với trước đó. Như vậy, có thể nói kết quả thực hiện Nghị quyết 19-2018/NQ-CP còn khoảng cách tương đối xa so với mục tiêu. Trước tình hình đó, Bộ KH&ĐT đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ 4 nhóm giải pháp lớn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu vào cuộc toàn diện và mạnh mẽ, quyết liệt và trách nhiệm của tất cả các bộ, ngành và địa phương.

Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 / 2023

Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”

Thực hiện Chương trình hành động số: 15-CTr/HU của Huyện ủy Phú Lương ngày 15/12/2017 về việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, 19-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, trường tiểu học Tức Tranh xây dựng Kế hoạch thực hiện Nghị quyết như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

– Nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCHTW ( khóa XII) về “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

– Tăng cường tính tích cực, tự giác của cán bộ, giáo viên, nhân viên trong việc triển khai Chương trình hành động của Bộ GD-ĐT để thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

– Bám sát quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCHTW (khóa XII) và Chương trình hành động số: 15-CTr/HU của Huyện ủy Phú Lương ngày 15/12/2017 để vận dụng, linh hoạt, cụ thể hóa, phù hợp với thực tế của đơn vị đáp ứng yêu cầu cả trước mắt và lâu dài .

– Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết.

– Xác định rõ trách nhiệm trong công tác lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết thuộc về người đứng đầu cấp ủy coi đây là một tiêu chí quan trong để kiểm điểm, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, giới thiệu bầu cử, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ.

Tiếp tục đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập là giảng dạy, giáo dục học sinh tiểu học.

Thực hiện tinh giản biên chế theo chương trình hành động của Huyện ủy đã xây dựng (khi có số dư về biên chế)

– Vận dụng thực hiện nghiêm túc các văn bản của Nhà nước, của ngành về thực hiện phân công công việc cho cán bộ, nhân viên đảm bảo định mức lao động.

– Sắp xếp, phân công chuyên môn và công tác kiêm nhiệm cho giáo viên, nhân viên phù hợp với trình độ, năng lực và đảm bảo hiệu quả.

– Thực hiện tham mưu với ngành để có đủ biên chế thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh theo quy định tại Thông tư 16/2017/TT-BGD&ĐT.

Vận dụng có hiệu quả việc thực hiện chủ trương, nghị quyết, kết luận của Đảng bộ các cấp về đổi mới, sắp xếp tổ chức cán bộ, viên chức theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định về hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

2. Sắp xếp, phân công chuyên môn

– Hiện nay, tổng số biên chế của đơn vị là 11, trong đó:

+ Cán bộ quản lý: 02

+ Nhân viên: 03

+ Số giáo viên biên chế còn thiếu: 04.

– Dự kiến sắp xếp, phân công chuyên môn

+ Về giáo viên: Tham mưu với ngành để có thêm 04 biên chế giáo viên cơ bản (Từ số giáo viên đang hợp đồng tại trường)

+ Nhân viên y tế – kiêm thủ quỹ và Văn thư;

+ Nhân viên Kế toán thực hiện công tác tại 2 trường (Theo sắp xếp của ngành và Phòng Nội vụ);

+ Nhân viên Thư viện – Thiết bị kiêm Chủ tịch Công đoàn.

3. Quản lý biên chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

– Giám sát chặt chẽ việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, viên chức biên chế của các đơn vị. Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, phân loại viên chức hằng năm theo quy định hiện hành để đưa ra khỏi đội ngũ những người 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ.

– Thực hiện tình giản biên chế, đến năm 2021 giảm tối thiểu 10% biên chế được giao năm 2015. Cụ thể:

+ Năm 2018 giảm 0 biên chế: do về hưu .

+ Năm 2021 giảm 01 biên chế: do về hưu.

* Giải pháp thực hiện: Động viên nhân viên kế toán, nhân viên y tế đăng ký tự học để chuyển đổi sang giáo viên mầm non. Lộ trình theo hướng dẫn của huyện ủy.

4. Nâng cao năng lực quản trị của đơn vị sự nghiệp công lập

– Nâng cao chất lượng quản lý tài chính, tài sản công của đơn vị. Thực hiện nghiêm túc quy chế quản lý tài chính, tài sản công. Thực hiện chế độ kế toán, giám sát, bảo đảm công khai, minh bạch hoạt động tài chính của đơn vị.

– Thực hiện bảo đảm chi thường xuyên theo Luật ngân sách 2015 và thực hiện kiểm định, đánh giá cơ sở giáo dục theo quy định.

5. Thực hiện cơ chế tài chính

– Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

– Sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các khoản chi thường xuyên được phân bổ theo quy định.

6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước

Thực hiện nghiêm túc pháp lệnh công chức, viên chức; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chuyên môn. Công khai, minh bạch, thực hiện nghiêm các quy định về chế độ báo cáo, kiểm tra, giám sát đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo đúng quy định.

7. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội

– Ban chi ủy chi bộ thường xuyên quan tâm lãnh đạo tổ chức và hoạt động của các đơn vị. Cụ thể hóa và chỉ đạo thực hiện tốt vai trò và chức năng lãnh đạo của chi uỷ, chi bộ Đảng trong đơn vị.

– Phát huy vai trò của cha mẹ học sinh, nhân dân, Công đoàn và các đoàn thể chính trị – xã hội trong giám sát, phản biện xã hội đối với tổ chức và hoạt động giảng dạy, giáo dục của đơn vị.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Tổ chức cho 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên được nghe quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 1 9 – NQ/TW ngày 25/10/2017, của BCH TW (khóa XII)và Kế hoạch của Ban Thường vụ Huyện.

Ban chi ủy và Ban giám hiệu phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn của đơn vị xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa các nội dung Chương trình hành động của Ban Thường vụ Huyện ủy để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH TW (khóa XII). Hoàn thành kế hoạch nộp về BCĐ huyện ( qua Phòng GD-ĐT) .

3. Ban chi ủy và Ban giám hiệu chủ trì và phối hợp với Ban chấp hành Công đoàn, xây dựng giải pháp thực hiện theo quy định; đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung Nghị quyết số 1 9 -NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH TW (khóa XII)và Kế hoạch của Ban Thường vụ Huyện ủy.

4. Ban chi ủy và Ban giám hiệu tổ chức tuyên truyền, phổ biến để cán bộ, đảng viên và nhân viên cùng thực hiện Nghị quyết số 1 9 -NQ/TW ngày 25/10/2017 của BCH TW (khóa XII)và Kế hoạch của Ban Thường vụ Huyện ủy.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quyết Liệt, Đồng Bộ Hơn Nữa Trong Thực Hiện Nghị Quyết 19 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!