Đề Xuất 1/2023 # Quy Định Về Lãi Suất Chậm Trả Theo Bộ Luật Dân Sự 2022 # Top 4 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Quy Định Về Lãi Suất Chậm Trả Theo Bộ Luật Dân Sự 2022 # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quy Định Về Lãi Suất Chậm Trả Theo Bộ Luật Dân Sự 2022 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Câu hỏi: Xin chào Luật sư, vợ chồng tôi có một mảnh đất ở Bình Định. Ngày 19/8/2018, chúng tôi đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Trần Văn H. bằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng dụng đất số 19/HĐ-CN, thủ tục chuyển nhượng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Đến nay vợ chồng ông Trần Văn H đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo hợp đồng ngày 19/8/2016 thì vợ chồng ông H phải thanh toán cho chúng tôi số tiền 2.1 tỷ đồng trước ngày 01/12/2018. Nhưng đến nay chưa trả một đồng nào (ngày 20 tháng 11 năm 2019. Quá hạn 11 tháng). Vậy theo quy định pháp luật, vợ chồng ông H sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho chúng tôi như thế nào ?Và có quy định nào về lãi suất chậm trả đối với trường hợp của gia đình tôi hay không? Kinh mong các luật sư sớm phản hồi. Trả lời: (câu trả lời chỉ mang tính chất tham khảo)

Chào bạn, với những nội dung bạn hỏi, luật sư xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

Theo các quy định của pháp luật, các bên tham gia phải thực hiện theo đúng thỏa thuận đã cam kết để đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng. Trong trường hợp một bên vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng thì phải chịu các chế tài của pháp luật. Các chế tài xử phạt vi phạm nghĩa vụ này có thể do các bên thỏa thuận trong hợp đồng; nếu không có trong hợp đồng, các bên có thể căn cứ vào các quy định của pháp luật để yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ. Đối với trường hợp của vợ chồng bạn, PHAMLAW xin đưa ra ý kiến như sau:

Theo quy định tại điều 167 Luật đất đai 2013 về Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, điều 179 về Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, thì vợ chồng bạn có quyền chuyển nhượng cho người khác quyền sử dụng đất. Căn cứ vào điểm a khoản 3 điều 167 Luật đất đai, thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực. Khi hợp đồng chuyển nhượng có giá trị pháp lý, các bên trong quan hệ hợp đồng có trách nhiệm thực hiện theo đúng những gì đã ghi trong hợp đồng.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng là một giao dịch dân sự, do đó cần tuân theo các quy định của pháp luật dân sự. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, pháp luật dân sự hiện hành cũng quy định chế tài đối với việc chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ có lỗi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp việc không thực hiện được nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người có quyền.

Nghĩa vụ trả tiền được quy định tại điều 440 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Căn cứ vào các điều luật trên, thì nếu nghĩa vụ phải thực hiện là việc thanh toán tiền thì các bên có thể thỏa thuận tước về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ; nếu không thỏa thuận thì bên chậm trả tiền phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính sau cũng với lãi chậm trả như sau:

Trả đủ số tiền nợ gốc;

Trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất các bên đã thỏa thuận; nếu không thỏa thuận thì số tiền lãi tính bằng 50% mức lãi suất giới hạn tại khoản 1 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Đối với trường hợp của vợ chồng bạn, do không nói rõ là có thỏa thuận về lãi suất hay không, mà chỉ nói đến việc thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 2.1 tỷ đồng, do vậy, theo quy định của pháp luật thì ông H sẽ phải thanh toán cho vợ chồng bạn những khoản sau:

Trả đủ số tiền nợ gốc là 2.1 tỷ đồng;

Nếu trong hợp đồng có điều khoản thỏa thuận về trả tiền lãi do chậm thanh toán, thì vợ chồng ông H sẽ phải thanh toán cho vợ chồng bạn số tiền lãi theo thỏa thuận;

Nếu trong hợp đồng không có điều khoản thỏa thuận về trả tiền lãi do chậm thanh toán, thì vợ chồng ông H phải thanh toán cho vợ chồng bạn số tiền lãi là 50% mức lãi suất giới hạn 20%/năm của 2.1 tỷ đồng.

Số tiền phải trả sẽ được tính theo công thức: Lãi chậm trả = Số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ x thời gian chậm trả x Lãi suất chậm trả.

Phòng tư vấn pháp lý chuyên sâu – Phamlaw

Mức Lãi Suất Vay Theo Bộ Luật Dân Sự Quy Định Thế Nào?

01/09/2020

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

1. Tư vấn về mức lãi suất trong hợp đồng vay tài sản.

Vay tài sản là hoạt động nhận tiền hay vật gì của người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần lãi. Dưới góc độ tín dụng: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tuy nhiên trong quá trình ký kết hợp đồng vay tài sản, do sự hiểu biết còn hạn chế hoặc không đọc kỹ hợp đồng nên trong quá trình thực hiện tranh chấp xảy ra rất nhiều. Đặc biệt là tranh chấp về mức lãi trong hợp đồng vay đang là một trong những tranh chấp điển hình hiện nay.

Nếu bạn gặp vấn đề này hoặc đang có tranh chấp phát sinh nhưng không có thời gian tìm hiểu quy định của pháp luật, bạn hãy liên hệ đến công ty Luật Minh Gia bằng cách gửi câu hỏi tư vấn hoặc Gọi 1900.6169, luật sư sẽ tư vấn cho bạn những nội dung sau:

+ Hợp đồng vay tài sản ;

+ Quy định về lãi suất ;

+ Hướng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.

2. Lãi suất trong hợp đồng vay tài sản.

Câu hỏi đề nghị tư vấn: Xin luật sư giải đáp giúp tôi về vấn đề vay tín dụng. Vào năm 2014, anh tôi cần dùng tiền nên đã vay tín chấp của một đơn vị cho vay tiêu dùng, chỉ yêu cầu CMND & hộ khẩu. Cụ thể số tiền anh tôi vay là 31,5 triệu đồng, thời hạn trả là 24 tháng, góp 2.014.000₫/tháng. Trong thời gian góp, do công việc không tốt nên anh tôi không trả đều đặn được,

Đến năm 2016 thì anh tôi không thể trả tiếp, tổng số tiền anh tôi đã trả được là 33.756.000₫. Đến nay 02/2018, đơn vị đại diện pháp luật của bên cho vay đến tìm mẹ tôi, yêu cầu thanh toán số tiền là 13.593.000₫ trong 7 ngày nếu không anh tôi sẽ bị đưa ra tòa và vào danh sách đen.

Do anh tôi vay nhưng gia đình không biết nên không biết được với mức lãi suất trên thì đơn vị cho vay có vượt mức quy định của pháp luật không. Xin luật sư tư vấn hưóng giải quyết tốt nhất cho gia đình tôi. Xin chân thành cảm ơn luật sư.

Trả lời tư vấn:

Chào anh/chị! Cảm ơn anh/chị đã tin tưởng và gửi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Gia, Đối với yêu cầu hỗ trợ của anh/chị chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về lãi suất vay. Cụ thể:

Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, mức lãi suất trên là do hai bên thỏa thuận với nhau và mức lãi suất mà tổ chức tín dụng chưa vượt quá 10 lần lãi suất vay nhà nước cho phép nên không có căn cứ xác định hành vi vi phạm. Theo đó, trong trường hợp này vì đã quá thời hạn thanh toán nên gia đình nên thỏa thuận với phía bên cho vay để kéo dài thời gian thanh toán. Nếu họ không đồng ý thì họ có quyền khởi kiện ra Tòa án giải quyết buộc anh trai bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Anh/chị tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình! Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hộ trợ pháp lý khác Anh/chị vui lòng liên hệ bộ phận luật sư trực tuyến của chúng tôi để được giải đáp.

Chưa Thông Về Trần Lãi Suất Quy Định Trong Bộ Luật Dân Sự 2022

Một số ý kiến cho rằng, việc áp mức lãi suất trần 20%/năm dựa trên lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là một ý tưởng tích cực, bảo vệ người yếu thế, ngăn ngừa việc cho vay nặng lãi. Trong khi đó, những ý kiến khác lại cho rằng, sử dụng lãi suất cơ bản để điều chỉnh các quan hệ dân sự là không phù hợp, sẽ gây khó khăn cho các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự.

TS. Bùi Quang Tín, Đại học Ngân hàng chúng tôi cho rằng, đến nay, mọi người vẫn chưa hiểu một cách rõ ràng giữa việc có hay không áp dụng trần lãi suất cho vay 20%/năm đối với các tổ chức tín dụng.

Theo quy định tại Điều 12, Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 và khoản 2, khoản 3, Điều 91, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, trong điều kiện bình thường, lãi suất trong hoạt động ngân hàng sẽ thực hiện theo cơ chế tự thỏa thuận, không trần lãi suất. Chỉ trong điều kiện đặc biệt cần có sự can thiệp của Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước mới quy định cơ chế lãi suất trong quan hệ giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Cơ chế xác định lãi suất này có thể bao gồm trần lãi suất cho vay trong quan hệ cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng. Như vậy, Bộ luật Dân sự đã loại trừ việc áp dụng trần lãi suất vay 20%/năm đối với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng, lúc đó, ngân hàng sẽ cho phép các bên ở trong quan hệ tín dụng là tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận.

Ông Tín đề xuất, pháp luật chuyên ngành cần quy định cụ thể và rõ ràng hơn về việc áp dụng lãi suất này. Cụ thể, cơ quan lập pháp nên bỏ đi cụm từ “theo quy định của pháp luật” tại khoản 2, Điều 91, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, nhằm không mâu thuẫn với các quy định tại Bộ Luật dân sự 2015.

Thêm vào đó, theo khoản 1, Điều 476, Bộ luật Dân sự 2005, “lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”. Quy định này có thể được hiểu, trần lãi suất cho vay tại Bộ luật Dân sự cũng được áp dụng đối với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng.

“Đây chính là vấn đề nan giải mà bấy lâu nay các tổ chức tín dụng vẫn không hiểu liệu hoạt động kinh doanh của mình có đúng pháp luật không? Bởi nếu theo quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành, việc cho vay của tổ chức tín dụng sẽ không được quá 150% lãi suất cơ bản, tức là không quá 13,5%/năm (Căn cứ theo lãi suất cơ bản được Ngân hàng Nhà nước công bố từ 2010) thì rất nhiều tổ chức tín dụng bị vi phạm, đặc biệt là các công ty tài chính”, TS. Bùi Quang Tín nói.

Ông Tín còn lý giải thêm, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 lại quy định, trong điều kiện bình thường họ sẽ được thực hiện theo cơ chế tự thỏa thuận, không có trần lãi suất. Chỉ khi có diễn biến bất thường, Ngân hàng Nhà nước mới quy định cơ chế xác định lãi suất trong quan hệ giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Các quy định khác nhau này đã gây khó khăn và ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, theo đó, hàng loạt hợp đồng cho vay của họ với khách hàng luôn nằm trong nguy cơ có thể bị vô hiệu do vượt trần lãi suất cho vay theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Trong khi đó, luật sư Trương Thanh Đức, Chủ nhiệm CLB Pháp chế Ngân hàng cho rằng, theo nguyên tắc thị trường hay nguyên tắc tự do hóa lãi suất, thì tổ chức tín dụng cần được tự quyết định, tự xác định lãi suất theo thị trường mới đảm bảo được hoạt động của nền kinh tế cũng như tổ chức tín dụng. Vì vậy, cần có xử lý hoặc sửa đổi văn bản để các tổ chức này được phép vượt trần 20%/năm.

“Lãi suất thỏa thuận đã được quy định trong Điều 91, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, nghĩa là, lãi suất thỏa thuận không có giới hạn nào cả. Với ngân hàng thì vẫn áp dụng chính sách lãi suất từ trước đến nay, mặc dù có thể cao hơn 20%/năm, mức mà sẽ thực hiện theo Bộ luật Dân sự từ ngày 1/1/2017. Ngân hàng Nhà nước cho biết, trần lãi suất này không áp dụng cho các tổ chức tín dụng trong đó có ngân hàng và các công ty tài chính”, chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu nói.

Quy Định Về Ủy Quyền Theo Bộ Luật Dân Sự

Trong cuộc sống nhiều trường hợp bản thân chúng ta không thể tự mình thực hiện được công việc khi đó chúng ta có thể ủy quyền cho người khác thực hiện công việc thay cho chúng ta bằng hợp đồng ủy quyền. Pháp luật đã ghi nhận tại điều 562 Bộ luật dân sự 2015: ” Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Chủ thể của hợp đồng ủy quyền

Chủ thể của hợp đồng gồm có: bên ủy quyền và bên được ủy quyền. Khi đó bên được ủy quyền sẽ nhân danh và vì lợi ích của bên ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Bên được ủy quyền theo quy định tại điều 134 Bộ luật dân sự 2015 có thể là pháp nhân hoặc cá nhân. Đây là điểm mới so với Bộ luật dân sự 2005, theo quy định mới pháp nhân có thể là đại diện theo ủy quyền, pháp nhân thành lập hợp pháp thì sẽ có khả năng thực hiện các hành vi pháp lý. Do pháp nhân có cơ cấu tổ chức và năng lực về tài chính sẽ giúp việc thực hiện công việc được ủy quyền tốt hơn như vậy sẽ mang lại sự yên tâm và tin tưởng cao hơn cá nhân.

Thời hạn ủy quyền

Các bên có thể thỏa thuận với nhau về thời hạn ủy quyền hoặc thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 1 năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. (điều 563 Bộ luật dân sự 2015)

Đối tượng của hợp đồng ủy quyền

Đối tượng của hợp đồng này là công việc có thể thực hiện và được phép thực hiện. Người được ủy quyền thực hiện công việc trong phạm vi,nội dung được ủy quyền. Trường hợp người được ủy quyền thực hiện công việc vượt quá nội dung được ủy quyền sẽ phải thực hiện bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra.

Quyền nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng ủy quyền

Quyền, nghĩa vụ của bên được ủy quyền

Quy định tại điều 655, 656 Bộ luật dân sự 2015 quyền và nghĩa vụ của bên được uỷ quyền bao gồm các quyền sau đây

Yêu cầu bên ủy quyền cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc ủy quyền.

Được thanh toán chi phí hợp lý mà mình đã bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền; hưởng thù lao, nếu hai bên có thỏa thuận.

Thực hiện công việc theo ủy quyền và báo cho bên ủy quyền về việc thực hiện công việc đó.

Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện ủy quyền về thời hạn, phạm vi ủy quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi ủy quyền.

Bảo quản, giữ gìn tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện việc ủy quyền.

Giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong khi thực hiện việc ủy quyền.

Giao lại cho bên ủy quyền tài sản đã nhận và những lợi ích thu được trong khi thực hiện việc ủy quyền theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ

Lưu ý: Bên được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại cho bên thứ ba khi đáp ứng các điều kiện sau:

Việc ủy quyền lại phải được bên bên ủy quyền đồng ý hoặc do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể thực hiện được.

Việc ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu

Hợp đồng ủy quyền lại có hình thức phù hợp với hình thức ủy quyền ban đầu.

Người được ủy quyền lại cũng có quyền, nghĩa vụ đối với người ủy quyền lại như người ủy quyền lại đối với người ủy quyền.

Quyền, nghĩa vụ của bên ủy quyền

Quy định tại điều 567, 568 Bộ luật dân sự 2015 quyền và nghĩa vụ của bên uỷ quyền bao gồm các quyền và nghĩa vụ sau đây:

Yêu cầu bên được ủy quyền thông báo đầy đủ về việc thực hiện công việc ủy quyền

Yêu cầu bên được ủy quyền giao lại tài sản, lợi ích thu được từ việc thực hiện công việc ủy quyền nếu như không có thỏa thuận khác

Nếu bên được ủy quyền vi phạm nghĩa vụ, bên ủy quyền sẽ được bồi thường thiệt hại

Cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết để bên được ủy quyền thực hiện công việc

Chịu trách nhiệm về cam kết do bên được ủy quyền thực hiện trong phạm vi ủy quyền

Thanh toán chi phí hợp lý do bên được ủy quyền bỏ ra để thực hiện công việc ủy quyền. Ngoài ra bên ủy quyền trả thù lao cho bên được ủy quyền nếu có thỏa thuận về thù lao

Đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền

Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền sẽ được thực hiện theo quy định tại điều 569 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Trường hợp ủy quyền có thù lao

Bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải trả thù lao tương ứng với công việc mà bên ủy quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.

Bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và nếu có thiệt hại phải bồi thường cho bên ủy quyền

Trường hợp ủy quyền không có thù lao

Bên ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên được ủy quyền trong một thời gian hợp lý. Ngoài ra bên ủy quyền phải thông báo bằng văn bản cho bên thứ ba về việc chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền nếu không thông báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực pháp luật ( trừ trường hợp bên thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng ủy quyền đã chấm dứt)

Bên được ủy quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên ủy quyền trong một thời gian hợp lý.

Người được ủy quyền có phải ký vào giấy ủy quyền không?

Hiện tại, tại bộ luật dân sự 2015 chỉ quy định về “hợp đồng uỷ quyền” mà không quy định về “giấy uỷ quyền”. Tuy vậy có thể hiểu việc làm “giấy uỷ quyền” là hành vi pháp lý đơn phương theo quy định tại khoản 2 điều 8 của bộ luật dân sự 2015

Điều 8. Căn cứ xác lập quyền dân sựQuyền dân sự được xác lập từ các căn cứ sau đây:2. Hành vi pháp lý đơn phương;

Như vậy, nếu việc uỷ quyền có chữ ký của 2 bên gọi là “hợp đồng uỷ quyền” còn “giấy uỷ quyền” thì chỉ cần bên uỷ quyền xác nhận để xác lập quyền của bên nhận uỷ quyền tuy nhiên cần lưu ý khi giao kết giấy uỷ quyền như sau:– Giấy ủy quyền không có giá trị bắt buộc bên nhận ủy quyền phải thực hiện các công việc được ủy quyền;– Sau khi Giấy ủy quyền được lập mà bên nhận ủy quyền không thực hiện các công việc theo cam kết thì bên ủy quyền cũng không có quyền yêu cầu bên nhận ủy quyền phải thực hiện, kể cả việc bồi thường thiệt hại (nếu có).

Sau khi ủy quyền có bị mất đi quyền đó hay không?

Tôi là chủ sở hữu căn nhà ở quận Bình Tân. Khi mua căn nhà trên tôi có ủy quyền cho ông A được quyền thay mặt tôi liên hệ các cơ quan chức năng để nộp và nhận hồ sơ kể cả ban chính giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Với thù lao ủy quyền là không. Tới ngày trả kết quả tôi liên hệ Văn phòng đăng ký để nhận giấy đỏ thì bị từ chối trả với lý do tôi đã ủy quyền cho ông A, ông A phải đến nhận. Tôi không được quyền nhận giấy chứng nhận đứng tên tôi. Tôi xin hỏi việc cán bộ văn phòng trả lời như vậy là đúng hay sai. Tài sản của tôi mà giờ tôi không được nhận phải đợi ông A ký nhận và trao cho tôi.

Trả lời

Theo quy định về uỷ quyền, bên nhận ủy quyền chỉ được “thay mặt” bên ủy quyền để thực hiện một công việc nào đó. Khác với “chuyển quyền” là việc cá nhân, tổ chức có quyền sở hữu đối với một tài sản nhất định chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cho cá nhân, tổ chức khác. Khái niệm “chuyển quyền” thường không đứng “một mình” mà sẽ gắn liền với một số loại tài sản nhất định.

Việc ủy quyền không làm mất “quyền” mà người ủy quyền đã ủy quyền cho người khác. Do vậy, trong trường hợp này cán bộ văn phòng đăng ký nhà đất không cho anh nhận “giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của mình đang trái với các quy định pháp luật.

Cách thức giải quyết– Anh tiếp tục nhờ người bạn nhận giấy chứng nhận cho mình– Liên hệ với người đứng đầu cơ quan đó để yêu cầu giải quyết, nếu không giải quyết anh có thể tiến hành các thủ tục khiếu nại hoặc tố cáo theo quy định

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quy Định Về Lãi Suất Chậm Trả Theo Bộ Luật Dân Sự 2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!