Đề Xuất 1/2023 # Quy Định Của Pháp Luật Về Người Đại Diện Theo Ủy Quyền Của Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp # Top 9 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Quy Định Của Pháp Luật Về Người Đại Diện Theo Ủy Quyền Của Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quy Định Của Pháp Luật Về Người Đại Diện Theo Ủy Quyền Của Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 trong một số trường hợp các cổ đông, thành viên là tổ chức phải cử đại diện theo ủy quyền để nhân danh các tổ chức đó thực hiện các vấn đề về quyền và nghĩa vụ của tổ chức theo quy định.

Về người đại diện theo ủy quyền của tổ chức:

Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định về người đại diện theo ủy quyền của doanh nghiệp như sau:

“ Điều 15. Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông là tổ chức

Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức phải là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đó thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật này.

Trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác thì việc cử người đại diện theo ủy quyền thực hiện theo quy định sau đây:

a) Tổ chức là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có sở hữu ít nhất 35% vốn điều lệ có thể ủy quyền tối đa 03 người đại diện;

b) Tổ chức là cổ đông công ty cổ phần có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có thể ủy quyền tối đa 03 người đại diện.

Trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức cử nhiều người đại diện theo ủy quyền thì phải xác định cụ thể phần vốn góp, số cổ phần, cho mỗi người đại diện. Trường hợp chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty không xác định phần vốn góp, số cổ phần tương ứng cho mỗi người đại diện theo ủy quyền, phần vốn góp, số cổ phần sẽ được chia đều cho số lượng người đại diện theo ủy quyền.

Việc chỉ định người đại diện theo ủy quyền phải bằng văn bản, phải thông báo cho công ty và chỉ có hiệu lực đối với công ty kể từ ngày công ty nhận được thông báo. Văn bản ủy quyền phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông;

b) Số lượng người đại diện theo ủy quyền và tỷ lệ cổ phần, phần vốn góp tương ứng mỗi người đại diện theo ủy quyền;

c) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của từng người đại diện theo ủy quyền;

d) Thời hạn ủy quyền tương ứng của từng người đại diện theo ủy quyền; trong đó ghi rõ ngày bắt đầu được ủy quyền;

đ) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông và của người đại diện theo ủy quyền.

    Người đại diện theo ủy quyền phải có các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

    a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

    b) Không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp;

    c) Thành viên, cổ đông là công ty có phần vốn góp hay cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ không được cử vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của người quản lý và của người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản lý công ty làm người đại diện theo ủy quyền tại công ty khác;

    d) Các tiêu chuẩn và điều kiện khác do Điều lệ công ty quy định.

    Như vậy, bạn có thể ủy quyền cho một cá nhân khác trong công ty có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc vào các trường hơp bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp và đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của Điều lệ công ty. Bên cạnh đó, khi ủy quyền thì cần thể hiện bằng văn bản, có xác nhận của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền.”

    Về trách nhiệm của người đại diện:

    Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định rõ trách nhiệm của người đại diện, theo đó:

    “ 1. Người đại diện theo ủy quyền nhân danh chủ sở hữu, thành viên, cổ đông thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông tại Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông theo quy định của Luật này. Mọi hạn chế của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông đối với người đại diện theo ủy quyền trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông tương ứng tại Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông đều không có hiệu lực đối với bên thứ ba.

      Người đại diện theo ủy quyền có trách nhiệm tham dự đầy đủ cuộc họp của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông; thực hiện các quyền và nghĩa vụ được ủy quyền một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất, bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông ủy quyền.

      ———

      ————-

      📍 Địa chỉ: 89 Trần Phú, Liên Bảo, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc

      📞 Call – Zalo: 0982.466.166

      ☎️ Hotline: 0984.62.4444

      📧 Gmail: phapluatdoanhnghiepso1@gmail.com

      Quy Định Của Pháp Luật Về Người Đại Diện Theo Ủy Quyền Trong Ttds

      Quy định của pháp luật về người đại diện theo ủy quyền trong TTDS. Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền.

      Theo Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về người đại diện như sau:

      Điều 134: Đại diện

      1.Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

      2. Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

      3. Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.

      Đại diện là một quan hệ pháp luật, chủ thể của quan hệ đại diện bao gồm người dại diện và người được đại diện. Người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ các giao dịch dân sự với người thứ ba, vì lợi ích của người được đại diện. Người được đại diện trong trường hợp này sẽ là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền từ đại diện.

      Trong một số trường hợp người được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, chưa đủ năng lực hành vi dân sự nên theo quy định của pháp luật phải có người đại diện trong quan hệ pháp luật. Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi có thể ủy quyền cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mình. Các chủ thể khác trong quan hệ dân sự là pháp nhân, hộ gia đình, hợp tác xã đều hoạt động thông qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó.

      Theo quy định của điều 138 Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đại diện theo ủy quyền được pháp luật quy định cụ thể như sau:

      Điều 138: Đại diện theo ủy quyền:

      1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

      3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

      Trên thực tế hiện nay có nhiều lý do khác nhay để cá nhân, người đứng đầu pháp nhân hoặc chủ hộ gia đình,.. không thể trực tiếp xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Pháp luật cho phép các thành viên gia đình, tổ hợp tác , một số tổ chức khác không có tư cách pháp nhân cho phép họ có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia giao dịch.

      1.2. Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự

      Theo điều 85 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự. Ngoài ra trong khoản 4 tại điều này có quy định người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự. Đối với các vụ việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định khoản 2 điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì họ là người đại diện.

      Trong trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, chủ hộ gia đình không trực tiếp tham gia tố tụng mà ủy quyền cho luật sư hoặc người khác tham gia tố tụng thì người được ủy quyền cũng là người đại diện theo pháp luật, trường hợp này cũng đã phát sịnh đại diện theo ủy quyền.

      2. Quyền và nghĩa vụ của người đại dện theo ủy quyền theo quy định của pháp luật

      Pháp luật tố tụng dân sự cũng đã quy định rõ “Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền.đương sự trong phạm vi ủy quyền.

      Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền được quy định tại điều 86 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

      1. Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện.

      2. Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền.

      3. Những trường hợp không được làm người đại diện theo ủy quyền

      Điều 87: Những trường hợp không được làm người đại diện:

      1. Những người sau đây không được làm người đại diện theo pháp luật:

      a) Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện;

      b) Nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc.

      2. Quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.

      3. Cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Kiểm sát, Công an không được làm người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật.

      4. Chấm dứt đại diện và hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật

      Điều 89: Chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự:

      Người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự chấm dứt việc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự.

      Việc chấm dứt đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự và hậu quả của việc chấm dứt được quy định tại Điều 89 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, và cũng làm chấm dứt đại diện ủy quyền trong các trường hợp khoản 3 điều 140 của bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

      Điều 140: Thời hạn đại diện:

      3.Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

      a) Theo thỏa thuận;

      b) Thời hạn ủy quyền đã hết;

      c) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

      d) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;

      đ) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

      e) Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật này;

      g) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.

      Trường hợp giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện thì người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch.

      Xuất phát từ đặc điểm của đại diện theo ủy quyền là người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người đại diện, đem lại hậu quả pháp lý cho người được đại diện nên vì vậy khi chấm dứt đại diện theo ủy quyền người đại diện phải thanh toán các nghĩa vụ tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của người này.

      Quy Định Mới Về Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Doanh Nghiệp

      Một trong những quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2014 là Điều 13 và Điều 14 quy định về Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

      so với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 đã có một điều khoản chung để quy định về vai trò, vị trí cũng như trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp ( Điều 13, Điều 14), thay vì nằm rải rác ở nhiều điều như luật hiện hành. Việc quy định chung như vậy sẽ giúp người tìm hiểu dễ dàng nắm bắt thông tin, dễ áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp.

      Luật Doanh nghiệp 2005 quy định công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty Cổ phần chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật của công ty ( Điều 46, Điều 67 đối với công ty TNHH và Điều 95 đối với công ty Cổ phần). Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp 2014 lại quy định: Công ty TNHH và công ty Cổ phần “có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp”. Trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới, ở Việt Nam ngày càng có nhiều doanh nghiệp lớn, làm xuất hiện những nhu cầu. Trong đó có nhu cầu nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh khác nhau mà bản thân cá nhân một người không thể đảm nhận hết vai trò quan trọng ấy. Quy định mới này góp phần đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp, theo đó điều lệ công ty sẽ quy định cụ thể về số lượng, chức danh quản lý, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

      đối với công ty Cổ phần, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bỏ đi quy định “Giám đốc hoặc Tổng giám đốc không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác” ( Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2005) trừ quy định tại khoản 8 Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2014. Việc bỏ đi quy định này sẽ không làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của cá nhân trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đồng thời sẽ đáp ứng được các yêu cầu của các doanh nghiệp lớn.

      Luật Doanh nghiệp 2014 còn nhiều quy định tiến bộ về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, được quy định cụ thể, chi tiết tại Điều 13 như sau:

      “- Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

      + Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

      – Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, , kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

      – Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

      – Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án“.

      Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời, đã đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp, nó được đánh giá là một sự thay đổi mới với nhiều điểm tiến bộ, tích cực hơn Luật Doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, bên cạnh các điểm tích cực, tiến bộ đó thì một số quy định của Luật doanh nghiệp mới vẫn còn bộc lộ những hạn chế cần phải khắc phục để mang lại hiệu quả cao hơn.

      – Điểm mới người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

      Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: lienhe@luatduonggia.vn.

      THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

      – Tư vấn luật dân sự miễn phí

      – Tư vấn luật dân sự miễn phí

      Quy Định Người Đại Diện Theo Pháp Luật Của Luật Doanh Nghiệp 2022

      II. Quy định người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

      Pháp luật có đặt ra yêu cầu đối với người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Khi chỉ còn lại một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam thì người này khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho cá nhân khác cư trú tại Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

      1. Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH một thành viên

      Nếu hết thời hạn ủy quyền mà người này chưa trở về Việt Nam và không thực hiện ủy quyền khác thì sẽ xử lý theo hai cách được liệt kê tại khoản 4 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020.

      Nếu người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không thực hiện ủy quyền hoặc thuộc các trường hợp đặc biệt không thể đại diện cho doanh nghiệp theo khoản 5 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

      Tùy từng loại hình công ty thì việc quy định người địa diện theo pháp luật lại khác nhau, cụ thể:

      2. Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH hai thành viên trở lên

      Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

      Điều lệ công ty cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty. Nếu công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật thì Điều lệ công ty quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật. Điều này được khẳng định tại điểm g khoản 1 Điều 24 Luật Doanh nghiệp 2020 cụ thể: Điều lệ công ty quy định số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; phân chia quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong trường hợp công ty có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật.

      3. Người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần

      Công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

      Cũng giống như Công ty TNHH một thành viên, số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật được quy định tại Điều lệ của công ty.

      Trong trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty chết, mất tích, đang bị truy cứu trách nhiệm bình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc, trốn khỏi nơi cư trú, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty (khoản 6 Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

      Công ty cổ phần lên có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật.

      Cúng tương tự như Công ty TNHH, số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật được quy định tại Điều lệ của công ty.

      4. Người đại diện theo pháp luật của Công ty hợp danh

      Trường hợp công ty chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công ty.

      Trường hợp Điều lệ chưa có quy định thì Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của công ty.

      Trường hợp công ty có hơn một người đại diện theo pháp luật thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của công ty (khoản 2 Điều 137 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

      5. Người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân

      Do tính chất đối nhân của mình nên việc quy định người địa diện theo pháp luật của Công ty hợp danh cũng khác với các loại hình công ty khác. Cụ thể:

      Các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty (khoản 1 Điều 184 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

      Do doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và tài sản không có sự tách bạch với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân nên doanh nghiệp tư nhân không được nhân danh chính mình để tham gia hoạt động tố tụng với tư cách độc lập mà tham gia với tư cách là chủ doanh nghiệp tư nhân.

      Bạn đang đọc nội dung bài viết Quy Định Của Pháp Luật Về Người Đại Diện Theo Ủy Quyền Của Tổ Chức Trong Doanh Nghiệp trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!