Đề Xuất 11/2022 # Quy Chế Bệnh Viện Và Hướng Dẫn Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Chức Trách Trong Bệnh Viện. / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Quy Chế Bệnh Viện Và Hướng Dẫn Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Chức Trách Trong Bệnh Viện. / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Quy Chế Bệnh Viện Và Hướng Dẫn Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Chức Trách Trong Bệnh Viện. / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

       Công tác quản lý tại các bệnh viện, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài trong việc thực hiện đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế, nhằm cung ứng dịch vụ y tế an toàn, chất lượng, hiệu quả, đem lại sự hài lòng cho người bệnh, người dân và nhân viên y tế, đáp ứng nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe của nhân dân, phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội của đất nước.

Để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách cá nhân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Nhà nước, tư nhân và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài, Nhà xuất bản Hồng Đức đã cho xuất bản cuốn sách: Quy chế bệnh viện và hướng dẫn mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách trong bệnh viện.

Nội dung cuốn sách này gồm:

Quy chế bệnh viện (ban hành theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/09/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế), được áp dụng trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (gọi chung là bệnh viện) kể cả bệnh viện tư nhân và bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài. Quy chế bệnh viện gồm năm phần:

– Phần I: Quy chế về tổ chức bệnh viện.

– Phần II: Quy chế về nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách cá nhân.

– Phần III: Quy chế về quản lý bệnh viện.

– Phần IV: Quy chế về chuyên môn.

– Phần V: Quy chế công tác một số khoa.

Hướng dẫn mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chức trách trong bệnh viện (theo các quy định, hướng dẫn mới của Bộ trưởng Bộ Y tế từ năm 2008 đến năm 2016, bãi bỏ, thay thế một số quy định trong Quy chế bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/09/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế).

Đây là cẩm nang rất thiết thực đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, lãnh đạo bệnh viện, các trưởng phòng, trưởng khoa trong bệnh viện và các bác sỹ, y sỹ, lương y, dược sỹ, cán bộ làm công tác y tế, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Sách được in đẹp, khổ 19 x 27cm, 392 trang, giá bìa: 350.000 đồng/cuốn.

Trung tâm Giới thiệu sách trân trọng giới thiệu cuốn sách nêu trên đến quý cơ quan, đơn vị, bạn đọc được biết để đặt mua kịp thời./.

Một Số Điểm Mới Về Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Bộ Máy Của Tổ Chức Pháp Chế / 2023

Ngày 04/7/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/8/2011

và thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 15/8/2004.

Thứ hai,về nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế. Nghị định quy định cụ thể hơn và bổ sung những nhiệm vụ, quyền hạn mới cho tổ chức pháp chế như các nhiệm vụ, quyền hạn mới trong công tác xây dựng pháp luật; trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật; công tác bồi thường của Nhà nước; công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế trong việc tham gia tố tụng, thi đua khen thưởng trong công tác pháp chế, hợp tác với nước ngoài về pháp luật.

Thứ ba, về tổ chức pháp chế. Tại Nghị định số 122/2004/NĐ-CP trước kia và Nghị định số 55/2011/NĐ-CP đều quy định tổ chức Vụ Pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang bộ. Đối với các cơ quan thuộc Chính phủ, Nghị định 55 quy định có Ban Pháp chế hoặc Phòng pháp chế thuộc Văn phòng (Nghị định 122 quy định một số cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện một số quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực có Vụ Pháp chế; các cơ quan thuộc Chính phủ hoạt động sự nghiệp thành lập Phòng Pháp chế hoặc có hình thức tổ chức khác phù hợp). Căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tổ chức pháp chế ở các Tổng cục và tương đương; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập tổ chức pháp chế hoặc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở các Cục trực thuộc. Đặc biệt so với quy định tại Nghị định 122 (việc thành lập Phòng Pháp chế ở cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh do Thủ trưởng cơ quan chuyên môn đề nghị), Nghị định quy định phòng pháp chế được thành lập ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Phòng Pháp chế hoặc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở cơ quan chuyên môn khác ngoài 14 cơ quan chuyên môn đã nêu trên và ở các cơ quan chuyên môn được thành lập theo đặc thù riêng của từng địa phương.

Đối với tổ chức pháp chế tại Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thì Bộ trưởng quyết định thành lập và cơ cấu tổ chức pháp chế hoặc bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách. Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp nhà nước quyết định tổ chức pháp chế hoặc bố trí nhân viên pháp chế chuyên trách.

Thứ tư, về người làm công tác pháp chế. Nghị định quy định người làm công tác pháp chế bao gồm: công chức pháp chế ở tổ chức pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; cán bộ pháp chế ở các đơn vị quân đội, công an nhân dân; viên chức pháp chế ở đơn vị sự nghiệp công lập và nhân viên pháp chế ở tổ chức pháp chế thuộc doanh nghiệp nhà nước.

Công chức pháp chế phải là công chức từ ngạch chuyên viên và tương đương, có trình độ cử nhân luật trở lên; viên chức pháp chế phải là viên chức có chức danh nghề nghiệp, có trình độ cử nhân luật trở lên. Riêng đối với người đứng đầu tổ chức pháp chế phải có trình độ cử nhân luật trở lên và có ít nhất 05 năm trực tiếp làm công tác pháp luật.

Nghị định cũng có quy định chuyển tiếp đối với những người hiện đang làm công tác pháp chế mà chưa có trình độ cử nhân luật thì phải tham gia chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế do Bộ Tư pháp tổ chức. Sau 05 năm, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, người làm công tác pháp chế phải có trình độ cử nhân luật .

Thứ năm, đối với chế độ, chính sách cho người làm công tác pháp chế: công chức, cán bộ và viên chức pháp chế được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Doanh nghiệp nhà nước có thể vận dụng tiêu chuẩn, chế độ của cán bộ, công chức, viên chức pháp chế để lựa chọn, bố trí sử dụng và quyết định chế độ đối với nhân viên pháp chế./.

(Theo Ngân hàng phát triển)

Lễ Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Vụ Phó Giám Đốc Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức / 2023

Hôm nay, ngày 17/8/2017, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức long trọng tổ chức “Lễ công bố quyết định bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức”. Sau thời gian thực hiện các bước quy trình một cách công khai, dân chủ, đúng quy định; chúng tôi Đồng Văn Hệ – Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Thần kinh, Phó Giám đốc Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, Trưởng Khoa Phẫu thuật Thần kinh 1 và chúng tôi Trần Đình Thơ – Trưởng Phòng Tổ chức cán bộ, Phó Trưởng Khoa Phẫu thuật Gan mật được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, thời gian giữ chức vụ 05 năm kể từ ngày quyết định có hiệu lực.

Tham dự buổi lễ có Đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến – Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế; Đồng chí Phạm Văn Tác – Ủy viên Ban cán sự Đảng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Y tế; Đồng chí Trần Đức Hiếu – Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban tổ chức Quận ủy Hoàn Kiếm. Về phía Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức có chúng tôi Trần Bình Giang – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện; chúng tôi Đỗ Kim Sơn – Nguyên Giám đốc Bệnh viện; chúng tôi Nguyễn Tiến Quyết – Nguyên Giám đốc Bệnh viện; ThS. Nguyễn Thị Bích Hường – Nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện; Ban giám đốc, Ban chấp hành Công Đoàn, Đoàn thanh niên, cán bộ chủ chốt của các khoa, phòng trong toàn Bệnh viện.

Phát biểu tại buổi lễ, Đồng chí Nguyễn Thị Kim Tiến – Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế chúc mừng chúng tôi Đồng Văn Hệ và chúng tôi Trần Đình Thơ sau một quá trình dài nỗ lực, phấn đấu và đảm bảo quy trình quy hoạch công khai, minh bạch, chặt chẽ để được bổ nhiệm chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện, giúp việc cho Giám đốc trong công tác lãnh đạo, quản lý đơn vị nhằm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Bộ Y tế giao. Bộ trưởng cũng nhấn mạnh cơ sở 2 của bệnh viện được xây dựng theo quy chuẩn quốc tế và sắp đưa vào hoạt động, các hoạt động chuyên môn cũng sẽ phải xứng tầm với cơ sở vật chất đó, để xứng đáng là bệnh viện ngoại khoa hạng đặc biệt, tất cả hướng đến sự hài lòng của người bệnh.

Cũng tại buổi lễ GS. TS Trần Bình Giang bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các đồng chí lãnh đạo Bộ Y tế, đây là niềm vui không chỉ của hai tân Phó giám đốc mà còn là niềm vui của tập thể lãnh đạo và tập thể cán bộ viên chức của bệnh viện. Với tài nguyên về chất xám, sự đồng tâm của tập thể Ban lãnh đạo bệnh viện cùng các cán bộ viên chức, thực hiện tốt các chỉ đạo của Bộ Y tế, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức luôn là một địa chỉ tin cậy của người dân. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, của Chính phủ, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức sẽ đưa cơ sở 2 trở thành trung tâm ngoại khoa hàng đầu tại Việt Nam vì sự phát triển ngày càng bền vững của bệnh viện.

Phát biểu nhận nhiệm vụ mới, chúng tôi Trần Đình Thơ gửi lời cảm ơn chân thành đến Bộ trưởng Bộ Y tế, Lãnh đạo Bộ Y tế, các cán bộ Quận uỷ, toàn thể cán bộ Bệnh viện đã dành tình cảm và sự tín nhiệm để vinh dự đón nhận Quyết định chức vụ Phó Giám đốc bệnh viện. Đây là niềm vinh dự lớn lao nhưng cũng là trọng trách nặng nề, đầy thử thách và sẽ phấn đấu hết mình trên cương vị mới.

Một số hình ảnh tại buổi lễ:

Phòng Công tác xã hội

Quy Chế Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ Của Bệnh Viện Sản / 2023

GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN SẢN – NHI TỈNH QUẢNG NGÃI

Căn cứ Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011;

Căn cứ Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư và Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP của Chính phủ về công tác văn thư;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 07/2002/TTLT-BCA-BTCCBCP ngày 06 tháng 5 năm 2002 của Bộ Công an và Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định tại Nghị định số 58/2001/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu;

Căn cứ Thông tư số 04/2013/TT-BNV ngày 16/4/2013 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn xây dựng Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của các cơ quan, tổ chức;

Theo đề nghị của phòng Hành chính – Vật tư và trang thiết bị y tế,

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Quảng Ngãi.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Điều 3. Lãnh đạo các khoa, phòng và toàn thể viên chức, người lao động trong Bệnh viện chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Quy chế này áp dụng công tác quản lý và hoạt động về văn thư, lưu trữ tại Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Quảng Ngãi (sau đây gọi tắt là Bệnh viện).

Công tác văn thư quy định tại Quy chế này bao gồm các công việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý, xử lý văn bản đến, văn bản đi, tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của Bệnh viện; lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ vào lưu trữ hiện hành; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư.

Đối tượng áp dụng: Giám đốc, các Phó Giám đốc, lãnh đạo các khoa phòng và toàn thể viên chức, người lao động trong Bệnh viện.

Quy chế công tác văn thư, lưu trữ của Bệnh viện bao gồm tất cả những quy định về hoạt động văn thư, lưu trữ trong quá trình quản lý, chỉ đạo, điều hành của Bệnh viện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Văn bản đến là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản fax, văn bản được chuyển qua mạng, văn bản mật được gửi đến Bệnh viện).

Văn bản đi là tất cả các loại văn bản, bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản chuyên ngành (kể cả bản sao văn bản, văn bản nội bộ và văn bản mật) do Bệnh viện phát hành.

Bản thảo văn bản là bản được viết hoặc đánh máy, hình thành trong quá trình soạn thảo văn bản.

Bản gốc văn bản là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản được Bệnh viện ban hành và có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền.

Bản chính văn bản là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản và được Bệnh viện ban hành.

Bản sao y bản chính là bản sao đầy đủ, chính xác nội dung của văn bản và được trình bày theo thể thức quy định. Bản sao y bản chính phải được thực hiện từ bản chính.

Bản trích sao là bản sao một phần nội dung của văn bản và được trình bày theo thể thức quy định. Bản trích sao phải được thực hiện từ bản chính.

Bản sao lục là bản sao đầy đủ, chính xác nội dung của văn bản, được thực hiện từ bản sao y bản chính và trình bày theo thể thức quy định.

Lập hồ sơ là việc tập hợp, sắp xếp văn bản tài liệu hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc Bệnh viện, viên chức, cá nhân thành hồ sơ theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định.

Thu thập tài liệu là quá trình xác định nguồn tài liệu, lựa chọn, giao nhận tài liệu có giá trị để chuyển vào Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử.

Chỉnh lý tài liệu là việc phân loại, xác định giá trị, sắp xếp, thống kê, lập công cụ tra cứu tài liệu hình thành trong hoạt động của bệnh viện, cá nhân.

Xác định giá trị tài liệu là việc đánh giá giá trị tài liệu theo những nguyên tắc, phương pháp, tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền để xác định những tài liệu có giá trị lưu trữ, thời hạn bảo quản và tài liệu hết giá trị.

Trách nhiệm của viên chức làm công tác văn thư:

Thực hiện tiếp nhận, đăng ký, trình, chuyển giao văn bản đến.

Làm thủ tục phát hành văn bản đi (bao gồm: đăng ký, kiểm tra hình thức, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản; ghi số và ngày, tháng; đóng dấu), chuyển phát và theo dõi việc chuyển phát văn bản đi.

Sắp xếp, bảo quản và phục vụ tra cứu, sử dụng bản lưu.

Quản lý sổ sách và cơ sở dữ liệu đăng ký, quản lý văn bản; làm thủ tục và cấp giấy giới thiệu, giấy đi đường cho công chức, viên chức.

Bảo quản, sử dụng con dấu của cơ quan và các loại con dấu được giao.

Áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ thông tin vào công tác văn thư, lưu trữ cơ quan.

Trách nhiệm của viên chức làm công tác lưu trữ:

Thu thập, chỉnh lý, bảo quản, tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ.

Lựa chọn hồ sơ, tài liệu có giá trị lịch sử để giao nộp vào Lưu trữ lịch sử cùng cấp và lập thủ tục tiêu huỷ tài liệu hết giá trị.

Quản lý sổ sách, cơ sở dữ liệu quản lý tài liệu lưu trữ và thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ.

Cán bộ phụ trách công nghệ thông tin có trách nhiệm thực hiện chế độ bảo mật thông tin, phân quyền truy cập phục vụ hoạt động của công tác văn thư và lưu trữ cơ quan.

Điều 4. Bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác văn thư và lưu trữ.

Mọi hoạt động nghiệp vụ về văn thư, lưu trữ của Bệnh viện thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ bí mật của Nhà nước.

Việc tổ chức tiếp nhận, chuyển phát, đăng ký, giải quyết, quản lý, sử dụng văn bản mật thực hiện theo đúng Công văn số 822/SNV-CCVTLT ngày 24 tháng 6 năm 2013 về việc bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác văn thư, lưu trữ.

Khoa, Phòng hoặc viên chức được giao soạn thảo văn bản có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

Xác định hình thức, nội dung và độ mật, độ khẩn, nơi nhận văn bản;

Soạn thảo văn bản;

Trình duyệt dự thảo văn bản.

Dự thảo văn bản phải do người có thẩm quyền ký duyệt văn bản.

Trong trường hợp dự thảo đã được Lãnh đạo Bệnh viện phê duyệt, nhưng thấy cần thiết phải sửa chữa, bổ sung thêm vào dự thảo thì Khoa, Phòng hoặc cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản phải trình người đã duyệt dự thảo xem xét, quyết định việc sửa chữa, bổ sung.

Người đứng đầu đơn vị chủ trì soạn thảo văn bản phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về độ chính xác của nội dung văn bản, ký nháy/tắt vào cuối nội dung văn bản (sau dấu ./.) trước khi trình Lãnh đạo Bệnh viện ký ban hành; đề xuất mức độ khẩn; đối chiếu quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước xác định việc đóng dấu mật, đối tượng nhận văn bản, trình người ký văn bản quyết định.

Trưởng phòng Hành chính giúp Giám đốc Bệnh viện kiểm tra lần cuối và chịu trách nhiệm về thể thức, kỹ thuật trình bày, thủ tục ban hành văn bản của Bệnh viện và phải ký nháy/tắt vào vị trí cuối cùng ở “Nơi nhận”.

Thẩm quyền ký văn bản thực hiện theo quy định của pháp luật, Quy chế làm việc của Bệnh viện.

Quyền hạn, chức vụ, họ và tên, chữ ký của người có thẩm quyền

Giám đốc Bệnh viện ký tất cả các văn bản do Bệnh viện ban hành. Các trường hợp ký thay (phải ghi KT.), ký thừa lệnh (phải ghi TL.), ký thừa ủy quyền (phải ghi TUQ.), ký thay mặt (phải ghi TM.).

Không dùng bút chì, bút mực đỏ để ký văn bản.

Các hình thức bản sao gồm: sao y bản chính, sao lục và trích sao.

Thể thức bản sao thực hiện theo Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 19/10/2011 của UBND tỉnh.

Việc sao y bản chính, sao lục, trích sao văn bản do lãnh đạo Bệnh viện, Trưởng phòng Hành chính quyết định.

Bản sao y bản chính, sao lục, trích sao thực hiện đúng quy định pháp luật có giá trị pháp lý như bản chính.

Bản sao chụp (photocopy cả dấu và chữ ký của văn bản chính) không thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì chỉ có giá trị thông tin, tham khảo.

Không được sao, chụp, chuyển phát ra ngoài Bệnh viện những ý kiến ghi bên lề văn bản. Trường hợp các ý kiến của Lãnh đạo Bệnh viện ghi trong văn bản cần thiết cho việc giao dịch, trao đổi công tác phải được thể chế hóa bằng văn bản hành chính.

Tất cả văn bản đến cơ quan, tổ chức phải được quản lý theo trình tự sau:

Khi tiếp nhận văn bản đến từ mọi nguồn, trong giờ hoặc ngoài giờ làm việc, Văn thư hoặc người được giao nhiệm vụ tiếp nhận văn bản đến phải kiểm tra số lượng, tình trạng bì, dấu niêm phong (nếu có), kiểm tra, đối chiếu với nơi gửi trước khi nhận và ký nhận.

Đối với bản fax, phải chụp lại trước khi đóng dấu Đến; đối với văn bản được chuyển phát qua mạng, trong trường hợp cần thiết, có thể in ra và làm thủ tục đóng dấu Đến. Sau đó, khi nhận được bản chính, phải đóng dấu Đến vào bản chính và làm thủ tục đăng ký (số đến, ngày đến là số và ngày đã đăng ký ở bản fax, bản chuyển phát qua mạng).

Văn bản khẩn đến ngoài giờ làm việc, ngày lễ, ngày nghỉ, thì viên chức tiếp nhận có trách nhiệm ký nhận và báo cáo ngay với Lãnh đạo Bệnh viện, Trưởng phòng Hành chính để xử lý.

Văn bản mật đến được đăng ký riêng theo quy định của pháp luật hoặc nếu sử dụng phần mềm trên máy vi tính thì không được nối mạng LAN (mạng nội bộ) hoặc mạng Internet.

Sau khi nhận được văn bản đến các khoa, phòng chuyên môn có trách nhiệm chỉ đạo, giải quyết kịp thời theo yêu cầu của Lãnh đạo Bệnh viện; theo thời hạn yêu cầu của văn bản hoặc theo quy định của pháp luật.

Trường hợp văn bản đến không có yêu cầu về thời hạn trả lời thì thời hạn giải quyết được thực hiện theo quy chế làm việc của cơ quan.

Văn bản có nội dung giải quyết khẩn cấp, các khoa, phòng, đơn vị, cá nhân phải giải quyết ngay sau khi tiếp nhận.

Đối với những văn bản đến có dấu “Tài liệu thu hồi”, văn thư có trách nhiệm theo dõi, thu hồi hoặc gửi trả lại nơi gửi theo đúng thời hạn quy định.

Văn bản đi phải được quản lý theo trình tự sau:

Kiểm tra thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản; ghi số và ngày, tháng, năm của văn bản.

Đăng ký văn bản đi.

Nhân bản, đóng dấu cơ quan và dấu mức độ mật, khẩn

Làm thủ tục phát hành, chuyển phát và theo dõi việc chuyển phát văn bản đi

Lưu văn bản đi

Khi phát hành văn bản đi Văn thư kiểm tra lại thể thức, hình thức và kỹ thuật trình bày văn bản; nếu phát hiện sai sót thì báo cáo lại Giám đốc, Phó Giám đốc Bệnh viện hoặc người trực tiếp soạn thảo xem xét, giải quyết.

Tất cả văn bản đi của Bệnh viện được ghi số theo hệ thống số chung của Bệnh viện do Văn thư thống nhất quản lý; trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Việc ghi số, ngày, tháng của văn bản hành chính thực hiện theo Quyết định số 25/2011/QĐ-UBND ngày 19/11/2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về ban hành Quy định về hình thức, thể thức, kỹ thuật trình bày và ban hành văn bản hành chính.

Văn bản đi được đăng ký vào sổ đăng ký văn bản đi hoặc cơ sở dữ liệu quản lý văn bản đi trên máy tính.

Văn thư có trách nhiệm lập sổ đăng ký văn bản đi bao gồm đầy đủ các thông tin: số, ngày, tháng, năm văn bản; trích yếu văn bản, người ký ban hành văn bản, đơn vị hoặc cá nhân chịu trách nhiệm soạn thảo văn bản, nơi nhận văn bản.

Nhân bản:

Số lượng văn bản cần nhân bản để phát hành được xác định trên cơ sở số lượng tại nơi nhận văn bản; nếu gửi đến nhiều nơi mà trong văn bản không liệt kê đủ danh sách thì đơn vị soạn thảo phải có phụ lục nơi nhận kèm theo để lưu ở Văn thư;

Giữ gìn bí mật nội dung văn bản và thực hiện đánh máy, nhân bản theo đúng thời gian quy định.

Việc nhân bản văn bản mật phải có ý kiến của Lãnh đạo Bệnh viện và đúng số lượng bản được duyệt; sau khi in, sao, chụp xong phải kiểm tra lại và hủy ngay tại chỗ bản dư thừa, hỏng; bản in, sao chụp phải được bảo mật như tài liệu gốc.

Đóng dấu:

Chỉ được đóng dấu khi văn bản đúng thể thức và có chữ ký đúng thẩm quyền của người ký văn bản.

Dấu đóng vào văn bản phải ngay ngắn, rỏ ràng, đúng chiều, trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái và dùng đúng mực dấu quy định (màu đỏ tươi).

Văn bản có phụ lục kèm theo thì dấu được đóng lên trang đầu, trùm lên phần bên trái tên cơ quan hoặc chữ Phụ lục của bản phụ lục.

Văn bản phải đóng dấu giáp lai thì dấu được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy; mỗi dấu đóng tối đa 05 trang văn bản.

Tuyệt đối không đóng dấu khống chỉ.

Đối với các tài liệu bí mật Nhà nước, tùy theo mức độ mật phải đóng dấu độ mật: Tuyệt mật, Tối mật, Mật.

Đối với những văn bản cần chuyển phát nhanh, tùy theo mức độ cần được xác định theo bốn mức sau: Khẩn, thượng khẩn, hỏa tốc, hỏa tốc hẹn giờ; khi soạn thảo văn bản có tính chất khẩn, các khoa, phòng hoặc chuyên viên soạn thảo văn bản đề xuất mức độ khẩn trình người ký văn bản quyết định.

Chuyển phát văn bản đi

Những văn bản đã làm đầy đủ các thủ tục hành chính phải được phát hành ngay trong ngày văn bản đó được đăng ký, chậm nhất là trong ngày làm việc tiếp theo.

Đối với những văn bản “HẸN GIỜ”, “HỎA TỐC”, “KHẨN”, “THƯỢNG KHẨN” phải được phát hành ngay sau khi làm đầy đủ các thủ tục hành chính.

Văn bản đi được chuyển phát qua bưu điện phải được đăng ký vào Sổ gửi văn bản đi bưu điện. Khi giao bì văn bản, phải yêu cầu nhân viên bưu điện kiểm tra, ký nhận và đóng dấu vào sổ;

Việc chuyển giao trực tiếp văn bản cho các khoa, phòng trong Bệnh viện hoặc cho các cơ quan, đơn vị, cá nhân bên ngoài phải được ký nhận vào sổ chuyển giao văn bản;

Trong trường hợp cần chuyển phát nhanh, văn bản đi có thể được chuyển phát cho nơi nhận bằng máy fax hoặc chuyển qua mạng, trong ngày làm việc phải gửi bản chính đối với những văn bản có giá trị lưu trữ.

Việc gửi văn bản có độ mật do Bộ phận văn thư thực hiện. Khi vận chuyển văn bản có độ mật phải thực hiện theo nguyên tắc giữ kín, niêm phong, có phương tiện bảo quản an toàn, không giao người khác giữ hộ. Nếu gửi văn bản có độ mật theo đường bưu điện phải thực hiện theo quy định riêng của ngành bưu điện.

Khi bàn giao văn bản có độ mật, văn thư phải yêu cầu người nhận kiểm tra, đối chiếu và ký nhận.

Theo dõi việc chuyển phát văn bản đi

Cán bộ văn thư có trách nhiệm theo dõi việc chuyển phát văn bản đi;

Lập Phiếu gửi để theo dõi việc chuyển phát văn bản đi theo yêu cầu của người ký văn bản. Việc xác định những văn bản đi cần lập Phiếu gửi do đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo văn bản đề xuất, trình người ký quyết định;

Đối với những văn bản đi có đóng dấu “Tài liệu thu hồi”, phải theo dõi, thu hồi đúng thời hạn; khi nhận lại, phải kiểm tra, đối chiếu để bảo đảm văn bản không bị thiếu hoặc thất lạc;

Trường hợp phát hiện văn bản bị thất lạc, không có người nhận phải báo cáo ngay trưởng phòng Hành chính để xử lý.

Trưởng Phòng Hành chính chịu trách nhiệm trước Giám đốc, Phó Giám đốc Bệnh viện trong việc quản lý và sử dụng con dấu của Bệnh viện và các loại dấu khác theo đúng quy định hiện hành.

Bộ phận văn thư đuợc giao nhiệm vụ quản lý và sử dụng con dấu của Bệnh viện và các loại dấu khác theo đúng quy định và chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo Bệnh viện việc quản lý và sử dụng con dấu.

Con dấu phải được bảo quản tại phòng làm việc của Bộ phận Văn thư. Viên chức văn thư được phân công đóng dấu, không được mang dấu ra khỏi khu vực đóng dấu khi không có sự chỉ đạo của lãnh đạo Bệnh viện và bảo quản trong tủ có khoá an toàn.

Không được tự ý giao con dấu cho người khác sử dụng khi không có chỉ đạo của lãnh đạo Bệnh viện bằng văn bản.

Khi nét dấu bị mòn hoặc biến dạng, cán bộ văn thư phải báo cáo Giám đốc Bệnh viện làm thủ tục đổi con dấu. Trường hợp con dấu bị mất, trưởng phòng Hành chính phải báo cáo cơ quan công an, nơi xảy ra mất con dấu, lập biên bản.

Viên chức văn thư phải tự tay đóng dấu vào các văn bản của Bệnh viện. Chỉ đóng dấu vào các văn bản khi các văn bản đúng hình thức, thể thức và có chữ ký của người có thẩm quyền. Không được đóng dấu trong các trường hợp sau: Đóng dấu vào giấy không có nội dung, đóng dấu trước khi ký, đóng dấu sẵn trên giấy trắng hoặc đóng dấu lên các văn bản có chữ ký của người không có thẩm quyền.

Trưởng phòng Hành chính và viên chức Văn thư được giao quản lý con dấu chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc quản lý và sử dụng con dấu.

Nội dung việc lập hồ sơ công việc

Yêu cầu đối với mỗi hồ sơ được lập

Hồ sơ lập ra phải phản ánh đúng chức năng, nhiệm vụ của Bệnh viện; đúng nhiệm vụ được giao giải quyết của viên chức.

Tài liệu trong hồ sơ phải có giá trị bảo quản tương đối đồng đều.

Trách nhiệm của trưởng phòng Hành chính

Tham mưu cho Giám đốc Bệnh viện trong việc chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ đối với các Khoa, Phòng;

Tổ chức thực hiện việc lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ tại Bệnh viện.

Trách nhiệm của viên chức:

Viên chức phải giao nộp hồ sơ, tài liệu đã giải quyết xong về Lưu trữ theo thời gian sau: Tài liệu hành chính, sau một năm kể từ năm công việc kết thúc; tài liệu nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ , sau một năm kể từ năm công trình được nghiệm thu chính thức; tài liệu xây dựng cơ bản, sau ba tháng kể từ khi công trình được quyết toán. Thời điểm giao về Lưu trữ là từ ngày 10 tháng 12 đến 30 tháng 12 hàng năm.

Viên chức khi chuyển công tác, thôi việc, nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội phải bàn giao hồ sơ, tài liệu cho Bệnh viện hoặc cho người kế nhiệm, không được giữ hồ sơ, tài liệu của Bệnh viện làm tài liệu riêng hoặc mang sang cơ quan, tổ chức khác khác.

Hàng năm viên chức lưu trữ Bệnh viện có nhiệm vụ tổ chức thu thập hồ sơ, tài liệu đã đến hạn nộp lưu vào kho lưu trữ cơ quan, cụ thể:

Lập kế hoạch thu thập hồ sơ, tài liệu.

Phối hợp với khoa, phòng, viên chức trong Bệnh viện xác định những loại hồ sơ, tài liệu cần nộp lưu vào Lưu trữ bệnh viện.

Chuẩn bị kho và các phương tiện bảo quản để tiếp nhận hồ sơ, tài liệu.

Hồ sơ, tài liệu của Bệnh viện phải được chỉnh lý hoàn chỉnh và bảo quản trong kho lưu trữ

Nguyên tắc chỉnh lý:

Không phân tán phông lưu trữ

Khi phân loại và lập hồ sơ phải tôn trọng sự hình thành của tài liệu theo trình tự giải quyết công việc.

Tài liệu sau khi chỉnh lý phản ánh được hoạt Bệnh viện.

Tài liệu sau khi chỉnh lý phải đạt yêu cầu:

Phân loại và lập hồ sơ hoàn chỉnh.

Xác định thời hạn bảo quản cho hồ sơ, tài liệu cần bảo quản vĩnh viễn và bảo quản có thời hạn.

Hệ thống hóa hồ sơ, tài liệu.

Bộ phận Văn thư, Lưu trữ Bệnh viện có nhiệm vụ giúp Trưởng phòng Hành chính xây dựng Bảng thời hạn bảo quản tài liệu trình Lãnh đạo Bệnh viện ban hành sau khi có ý kiến thẩm định của cơ quan có thẩm quyền.

Việc xác định giá trị tài liệu phải đạt được yêu cầu sau:

Xác định tài liệu cần bảo quản vĩnh viễn và tài liệu bảo quản có thời hạn bằng số năm cụ thể;

Xác định tài liệu hết giá trị để tiêu hủy.

Thực hiện theo quy định tại Điều 21 Luật Lưu trữ năm 2011.

Viên chức văn thư, lưu trữ của Bệnh viện có trách nhiệm: bố trí, sắp xếp khoa học tài liệu lưu trữ; hồ sơ, tài liệu trong kho để trong hộp (cặp), dán nhãn ghi đầy đủ thông tin theo quy định để tiện thống kê, kiểm tra và tra cứu; thường xuyên kiểm tra tình hình tài liệu có trong kho để nắm được số lượng, chất lượng tài liệu.

Trách nhiệm của cán bộ lưu trữ.

Kiểm tra các thủ tục xin sử dụng tài liệu lưu trữ, trình Lãnh đạo Bệnh viện phê duyệt vào “Phiếu yêu cầu sử dụng tài liệu”.

Chỉ cung cấp tài liệu đã được phê duyệt.

Không cung cấp tài liệu chứa đựng thông tin riêng của cơ quan, cá nhân khác.

Thực hiện theo quy định tại điều 32 Luật lưu trữ năm 2011.

Giám đốc, Phó Giám đốc cho phép sử dụng tài liệu thuộc diện hạn chế sử dụng.

Trưởng Phòng Hành chính cho phép sử dụng tài liệu lưu trữ không thuộc diện hạn chế sử dụng.

Việc khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ được quản lý bằng Sổ giao nhận tài liệu.

Nội quy phòng đọc bao gồm các quy định sau:

Thời gian phục vụ độc giả trong giờ hành chính;

Các loại giấy tờ độc giả cần xuất trình khi đến khai thác tài liệu

Giấy giới thiệu ghi rõ mục đích nghiên cứu của cơ quan nơi công tác và được Lãnh đạo Bệnh viện đồng ý.

Đơn xin khai thác sử dụng tài liệu của công dân hoặc giấy giới thiệu của cơ quan đang công tác.

Chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu.

Những vật dụng không được mang vào phòng đọc gồm các vật dụng dễ gây cháy, nổ.

Độc giả phải thực hiện các thủ tục nghiên cứu và khai thác tài liệu theo hướng dẫn của cán bộ lưu trữ.

Độc giả không được tự ý sao, chụp ảnh tài liệu, dữ liệu trên máy tính và thông tin trong công cụ tra cứu khi chưa được phép;

Điều 36. Trưởng phòng Hành chính có nhiệm vụ phối hợp, theo dõi, đôn đốc các viên chức nghiêm túc thực hiện Quy chế này. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung, phản ánh thì phòng Hành chính tổng hợp, trình Giám đốc xem xét, quyết định.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Quy Chế Bệnh Viện Và Hướng Dẫn Mới Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn, Chức Trách Trong Bệnh Viện. / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!