Đề Xuất 5/2022 # Quan Điểm, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Việt Nam Về Tôn Giáo # Top Like

Xem 14,850

Cập nhật nội dung chi tiết về Quan Điểm, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Việt Nam Về Tôn Giáo mới nhất ngày 26/05/2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 14,850 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Đảng Ủy Xã Thanh Xuân Tổ Chức Hội Nghị Quán Triệt, Triểm Khai Các Văn Bản Của Btv Tỉnh Ủy, Btv Huyện Ủy
  • Những Yêu Cầu Về Thể Thức Vb Của Đảng
  • Kỹ Thuật Xây Dựng Và Ban Hành Văn Bản Quản Lý Hành Chính
  • Bộ Luật Lao Động Sửa Đổi: Khắc Phục Tình Trạng Đã Có Hiệu Lực Nhưng Vẫn Phải Chờ Nghị Định, Thô
  • Luật An Ninh Mạng: Khoảng Trống Về Điện Toán Đám Mây
  • Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2022

    128

    ̣ U SÁCH

    GIỚI THIÊ

    QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

    VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO

    Tác giả: chúng tôi Nguyễn Hồng Dương

    Nxb. Khoa hội Xã hội, Hà Nội, 2022, khổ 16 x 24cm

    Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2022

    129

    Chương 2: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt nam về

    tôn giáo từ năm 1954 đến năm 1975

    Tác giả đã trình bày bối cảnh lịch sử giai đoạn này như việc thực hiện

    các đường lối chiến lược ở hai miền Bắc – Nam của Đảng Cộng sản Việt

    Nam nhằm xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đánh đuổi đế quốc

    Mỹ và bè lũ tai sai giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước. Tác giả đã

    cho thấy bối cảnh chính trị chung trong nước và quốc tế tác động đến chủ

    trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; tình hình kinh tế, chính

    trị – xã hội, tôn giáo Miền Bắc những năm đầu giải phóng và tình hình

    tôn giáo Miền Nam những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Qua phần trình bày của tác giả chúng ta thấy rõ rằng: nếu như trước năm

    1954, nhiệm vụ chủ yếu của Đảng là tập hợp quần chúng trong đó có

    quần chúng tôn giáo trong một mặt trận để tiến hành cuộc đấu tranh giải

    phóng dân tộc thì đến giai đoạn này, do Đảng đã trở thành một chính

    đảng cầm quyền nên một mặt Đảng Cộng sản Việt Nam phải có quan

    điểm, đường lối đúng đắn để tập hợp được đông đảo quần chúng tín đồ

    tham gia xây dựng Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, đấu tranh giải phóng

    Miền Nam thống nhất nước nhà. Nhưng mặt khác, quan trọng hơn là làm

    thế nào để quan điểm, đường lối đúng đắn đó phù hợp với thực tiễn cách

    mạng Việt Nam mà không bị sức ép từ phía mô hình quản lý tôn giáo của

    một quốc gia nào trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt

    Nam đã xác định một mô hình quản lý tôn giáo thông qua Hiến pháp và

    pháp luật với một nguyên tắc bất di bất dịch là Hiến pháp và pháp luật

    phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và tôn trọng

    quyền tự do ấy; đồng thời còn phải thể chế hàng loạt điều khoản, trong đó

    có điều khoản chế tài để bảo đảm việc thực hiện pháp luật được nghiêm

    túc và có hiệu quả.

    Trong chương này, tác giả trình bày những nguyên tắc chung về quan

    điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Đó là: Nguyên

    tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý đối với tôn giáo; Nguyên tắc tôn trọng

    tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, nghiêm cấm mọi sự

    xâm phạm quyền tự do này; Nguyên tắc đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương

    giáo; Nguyên tắc quan tâm, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình

    thường theo pháp luật; Nguyên tắc chống lợi dụng tôn giáo vào hoạt động

    phá hoại an ninh trật tự, mê tín dị đoan. Do đặc thù lịch sử giai đoạn này đất

    nước chia cắt thành hai miền Nam, Bắc nên Đảng và Nhà nước Việt Nam

    cũng có quan điểm, chính sách đối với tôn giáo ở Miền Nam. Tác giả cũng

    130

    Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2022

    đã trình bày về chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng, Trung ương

    Cục Miền Nam đối với vấn đề tôn giáo.

    Chương 3: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam

    về tôn giáo từ năm 1975 đến năm 1990

    Bối cảnh lịch sử của giai đoạn này là: Miền Nam đã giải phóng, đất

    nước thống nhất, cả nước bước vào giai đoạn xây dựng và bảo vệ tổ quốc

    Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Miền Nam vừa giải phóng,

    nhiều tôn giáo có những biến động lớn thời gian đầu sau giải phóng như

    Công giáo, Tin Lành và một số tôn giáo khác. Thời gian đầu sau giải

    phóng, ở Miền Nam nổi lên nhiều hoạt động chống đối cách mạng của

    một số chức sắc tôn giáo làm cho tình hình chính trị ở Nam Bộ trở nên

    phức tạp. Những vấn đề này đã có tác động không nhỏ đến chủ trương,

    chính sách đối với tôn giáo của Đảng thời kỳ này.

    Trong bối cảnh như vậy, chủ trương, chính sách của Đảng đối với tôn

    giáo đã có những thay đổi phù hợp với tình hình thực tế. Điều này được

    thể hiện qua các kỳ Đại hội của Đảng và các văn bản khác của Đảng.

    Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cũng đã thể hiện rõ

    quan điểm,chính sách đối với từng tôn giáo cụ thể. Nội dung này được

    tác giả trình bày chi tiết trong nội dung chương này.

    Chương 4: Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam

    về tôn giáo từ năm 1990 đến nay

    Trong chương này tác giả đã cho thấy tình hình tôn giáo thế giới và

    Việt Nam thập niên cuối thế kỷ XX và thập niên đầu thế kỷ XXI; Những

    đặc điểm về chính trị – xã hội, tôn giáo ở Việt Nam từ những năm đầu sau

    Đổi Mới đến nay. Đặc biệt, tác giả đã cho thấy nghị quyết số 24-NQ/Tw

    là một trong những bước ngoặt trong đổi mới quan điểm, chính sách đối

    với tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiếp theo đó là các Chỉ thị

    37-CT/Tw và Nghị quyết 25-NQ/TW. Quan điểm, đường lối chính sách

    của Đảng, Nhà nước Việt Nam còn được thể hiện qua Cương lĩnh và Báo

    cáo Chính trị các kỳ đại hội của Đảng và các văn bản khác mang tính đặc

    thù đối với một số tôn giáo như Tin Lành (Chỉ thị 01/2005/CT-TTg của

    Thủ tướng Chính phủ về một số công tác đối với đạo Tin Lành ngày

    4/2/2005…); Islam giáo trong dân tộc Chăm (Thông báo số 119- TB/Tw

    ngày 30/9/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Thông báo ý kiến

    Ban Bí thư về chủ trương công tác đối với Hồi giáo trong tình hình

    mới…); Phật giáo Nam tông Khmer (Chỉ thị số 68-CT/Tw về công tác ở

    Nghiên cứ u Tôn giáo. Số 10 – 2022

    131

    vùng đồng bào dân tộc Khmer, ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung

    ương Đảng), v.v..

    Có thể thấy, thời kỳ này đổi mới công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản

    Việt Nam thể hiện cơ bản trên hai bình diện: thứ nhất là quan điểm nhìn

    nhận đánh giá về bản chất, vai trò cũng như sự tồn vong của tôn giáo; thứ

    hai là đổi mới về chính sách cụ thể đối với tôn giáo mà nổi bật là việc

    xem xét, công nhận các giáo hội và các hệ phái tôn giáo, nếu có đường

    hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn chỉ mục đích, điều lệ phù hợp

    với luật pháp Nhà nước, có tổ chức thích hợp và có bộ máy nhân sự đảm

    bảo tốt về hai mặt đạo, đời.

    Chương 5: Tôn giáo thời kỳ đổi mới ở nước ta và những vấn đề đặt ra

    Chương này cho thấy tôn giáo thời kỳ đổi mới ở nước ta với những

    nét nổi trội trong đời sống tôn giáo như thờ cúng Hùng Vương, thờ cúng

    và tôn vinh những người có công với làng, nước và thờ tổ tiên (gọi tắt là

    thờ Tổ). Năm 2014, ở Việt Nam đã có 13 tôn giáo và 40 tổ chức tôn giáo

    được công nhận, tuy nhiên, vẫn còn một số tôn giáo và hàng chục tổ chức

    tôn giáo chưa được công nhận dẫn đến hiện tượng không gian tôn giáo

    trở nên đa dạng và phức tạp. Nhiều vùng, miền trước đây, không gian chủ

    yếu là của một tôn giáo thì nay tiếp tục bị phân tách. Hiện tượng tôn giáo

    mới không chỉ gia tăng về số lượng mà còn phức tạp về hoạt động.

    Trong chương này, tác giả dành nhiều tâm huyết cho việc trình bày

    những ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội trong thời kỳ mới

    với các nội dung như sau: Tôn giáo là một nguồn lực để phát triển xã hội;

    Tín ngưỡng, tôn giáo vẫn giữ vai trò trong việc giữ gìn và phát huy bản

    sắc văn hóa dân tộc; Các thế lực phản động tiếp tục sử dụng tôn giáo như

    một vũ khí lợi hại thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình.

    Tác giả cũng phân tích cho những vấn đề đặt ra trong việc tiếp tục đổi

    mới, hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng về công tác tôn giáo

    dưới góc độ lý luận và những chủ trương cụ thể.

    Có thể thấy, qua 258 trang sách, tác giả đã cung cấp cho người đọc

    một cách tổng quát và khá toàn diện về quan điểm, đường lối, chính sách

    của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo từ năm 1930 đến nay.

    Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiểu Luận Về Chính Sách Tôn Giáo Của Đảng
  • Sinh Con Thứ 3: Đảng Viên, Công Chức, Viên Chức Cần Biết
  • Hình Thức Xử Lý Kỷ Luật Đảng Viên Sinh Con Thứ Ba
  • Đảng Viên Muốn Sinh Con Thứ 3 Phải Biết Quy Định Này
  • Gd Hn: Soạn Thảo Vb Của Đảng
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Quan Điểm, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Việt Nam Về Tôn Giáo trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100