Đề Xuất 5/2022 # Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức # Top Like

Xem 15,246

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức mới nhất ngày 25/05/2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 15,246 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Học Kỳ Xã Hội Học Pháp Luật
  • Phân Tích Ví Dụ Về Hành Vi Sai Lệch Chuẩn Mực Xã Hội
  • Môi Trường Là Gì ? Vai Trò Của Môi Trường Là Gì ? Quy Định Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường ?
  • Môi Trường Pháp Luật Và Các Dòng Luật
  • Ảnh Hưởng Của Môi Trường Pháp Luật Trong Kinh Doanh Quốc Tế
  • MỞ ĐẦU

    Pháp luật được coi là một trong những công cụ hiệu quả nhất để nhà nước quản lí

    và điều tiết trật tự xã hội ,là chuẩn mực để mọi người làm theo.Trong quá trình .

    Các chuẩn mực xã hội là yếu tố không thể thiếu hình thành và phát triển pháp luật

    luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố , chuẩn mực xã hội khác ,trong có chuẩn mực

    đạo đức. Dùng pháp luật và đạo đức để cai trị để trở thành thuật trị quốc an dân

    của nhà nước. Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh xã hội , điều kiện kinh tế mà nhà

    nước sử dụng đức trị ( quản lí xã hội bằng đạo đức) hay pháp trị (quản trị xã hội

    bằng pháp luật) hoặc kết hợp cả hai trong hoạt động quản lí các mặt, các lĩnh vực

    khác nhau của đời sống xã hội. Nhận thức được vai trò tối quan trọng của các

    chuẩn mực xã hội, em đã lựa chọn đề tài ” Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn

    mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức?”

    Chuẩn mực pháp luật.

    Về vấn đề pháp luật, có nhiều ý kiến quan điểm khác nhau trong việc định

    nghĩa pháp luật nhưng nhìn chung có hai luồng quan điểm trái ngược nhau

    trong việc xác định khái niệm pháp luật. Quan điểm thứ nhất gắn liền pháp luật

    với ý chí nhà nước, do nhà nước ban hành, áp dụng và bảo vệ (pháp luật thực

    định). Quan điểm thứ hai cho rằng pháp luật như một trong các loại chuẩn mực

    xã hội, gắn với lợi ích xã hội, xuất phát từ nhu cầu tự nhiên của con người

    (pháp luật tự nhiên). Cả luật thực định và luật tự nhiên đều phản ánh lợi ích xã

    hội ở những mức độ khác nhau. Nhưng dù theo quan điểm nào thì pháp luật vẫn

    mang những tính chất và chức năng nhất định.

    Pháp luật luôn mang tính chuẩn mực. Chuẩn mực pháp luật nói lên những

    giới hạn cần thiết mà nhà nước quy định để mọi chủ thể có thể xử sự tự do trong

    khuôn khổ cho phép, thường được thể hiện dưới dạng “có thể làm”, “được phép

    làm”, “không được phép làm”, “bắt buộc phải làm”. Chuẩn mực pháp luật

    không thể trừu tượng mà phải luôn được cụ thể hóa thành quy tắc, yêu cầu,

    mệnh lệnh dưới dạng quy phạm pháp luật để mọi người cùng thực hiện. Vì là

    căn cứ để điều chỉnh hành vi trong xã hội nên quy phạm pháp luật cần phải rõ

    ràng, dễ hiểu để tất cả mọi người có thể chấp hành một cách nghiêm chỉnh và

    thống nhất.

    Chuẩn mực pháp luật khác với những chuẩn mực xã hội khác ở chỗ nó mang

    tính cưỡng chế, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp nhà nước

    cụ thể. Các chuẩn mực xã hội, khi phù hợp với ý chí và lợi ích của nhà nước, sẽ

    được nâng lên thành pháp luật và được áp dụng trong xã hội. Nếu nhà nước và

    các cơ quan của nó không còn thừa nhận và thực hiện, áp dụng các chuẩn mực

    đó nữa thì khi đó sẽ mất đi tính chất của một chuẩn mực pháp luật. Và nếu

    chuẩn mực đó vẫn tồn tại được trong lòng người dân thì khi đó nó mang tính

    chất của phong tục tập quán, đạo đức. Và pháp luật chỉ có thể phát huy tối đa

    khi có sự tác động, hỗ trợ của các chuẩn mực xã hội khác.

    II.

    Chuẩn mực đạo đức

    Đạo đức là lĩnh vự thuộc đời sống tinh thần của xã hội, nảy sinh từ thực tiễn

    các quan hệ xã hội giữa con người với con người; nó bao gồm toàn bộ các quan

    niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng…cùng

    với các quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với cá nhân, cá

    nhân với xã hội trong xã hội. Ngày nay, khái niệm đạo đức còn được các nhà

    nghiên cứu mở rộng hơn, không chỉ trong phạm vi các quan hệ xã hội, mà còn cả

    trong hành vi ứng xử của con người với tự nhiên, như vấn đề đạo đức sinh thái –

    cách ứng xử của con người với môi trường sống tự nhiên xuát phát từ vấn nạn ô

    nhiễm môi trường hiện nay. Mỗi xã hội, mỗi cộng đồng người hay mỗi cá nhân có

    thể giải thích về cái thiện, cái ác theo những cách khác nahu tùy theo quan niệm

    sổng của mình; nhưng lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người đã tạo nên

    những giá trị đạo đức có tính phổ biến, chung cho tất cả mọi người, như công bằng,

    dũng cảm, vị tha, nhân từ…Đạo đức là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội và là

    kết tinh của đời sống tinh thần của con người.

    Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã

    hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về công

    bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm và

    những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội

    III. Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật

    1. Điểm giống nhau và khác nhau giữa đạo đức và pháp luật

    Pháp luật và đạo đức đều là bộ phận của hình thái ý thức xã hội. Khi nói về mối

    quan hệ giữa pháp luật với đạo đức thì giữa chúng luôn có những điểm chung và

    riêng nhất định nhưng vẫn thống nhất trong một chỉnh thể. Trước tiên, đạo đức và

    pháp luật có sự thống nhất ở ba điểm sau:

     Thứ nhất, pháp luật và đạo đức đều có chung mục tiêu. Chúng đều là

    phương tiện điều chỉnh quan trọng bậc nhất đối với quan hệ xã hội và các

    hành vi của con người. Pháp luật và đạo đức đều đảm bảo cho xã hội phát

    triển một cách ổn định và trật tự, qua đó bảo vệ và định hướng những quan

    hệ xã hội phù hợp với ý chí và lợi ích chung của cộng đồng xã hội và giai

    cấp thống trị. Chúng hỗ trợ đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau trong việc bảo đảm

    trật tự xã hội, điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với pháp luật

    Tuy vậy, pháp luật và đạo đức là hai hiện tượng độc lập tương đối, do đó

    chúng có sự khác nhau nhất định trong sự tồn tại và phát huy giá trị:

     Thứ nhất, về con đường hình thành, pháp luật được hình thành từ nhà nước

    thông qua hoạt động xây dựng pháp lý của nhà nước còn đạo đức được hình

    thành từ xã hội một cách tự phát do nhận thức của cá nhân và cộng đồng.

    Trong quá trình hình thành thì pháp luật cần phải cân nhắc đến những yếu tố

    xã hội khác, bao gồm cả đạo đức và đạo đức cũng phải dựa vào một phần

    pháp luật.

     Điểm khác nhau thứ hai là hình thức thể hiện. Pháp luật được thể hiện chủ

    yếu dưới dạng các văn bản còn đạo đức lại chủ yếu được truyền miệng từ

    đời này sang đời khác. Hoạt động xây dựng pháp luật cần sự rõ ràng minh

    bạch nên cần được thể hiện dưới dạng văn bản cụ thể, tiện cho việc chỉnh

    sửa sau này. Còn đạo đức được hình thành từ cộng đồng nên đối và chủ yếu

    tồn tại bằng truyền miệng và mang tính chính xác tương đối bởi trong quá

    trình truyền đạt ít nhiều nội dung bị thay đổi.

     Thứ ba, về tính xác định của hình thức văn bản thì đạo đức mang tính chung,

    định hướng còn pháp luật thì cụ thể, rõ ràng. Đạo đức chỉ nhằm định hướng

    cho con người nên con người cần tự tìm tòi khám phá và qua dư luận xã hội

    để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. còn pháp luật mang tính bắt

    buộc chung nên tất cả mọi người đều phải tuân theo những quy định đã được

    định sẵn.

     Đạo đức có nguồn gốc, giá trị lâu dài. Khi con người ý thức được hành vi, tự

    họ sẽ điều chỉnh hành vi đó. Do sự điều chỉnh này xuất phát từ bản thân chủ

    thể nên hành vi đạo đức tồn tại bền vững. Ngược lại, pháp luật là sự cưỡng

    bức, ép buộc nên dù con người có không muốn thay đổi cũng vẫn phải thay

    đổi hành vi của mình cho phù hợp với pháp luật. Tuy nhiên sự thay đổi này

    diễn ra không bền vững bởi hành vi cũ vẫn có thể lặp lại ở những nơi vắng

    bóng pháp luật, hoặc bởi những cá nhân ngoài vòng pháp luật.

     Cuối cùng là về biện pháp đảm bảo thực hiện. Pháp luật được đảm bảo thực

    hiện bằng các biện pháp nhà nước như nhà tù, cảnh sát… còn đạo đức được

    bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp như dư luận xã hội, bài xích xã hội,

    lương tâm con người… Đây đều là những biện pháp hiệu quả và toàn diện,

    đưa con người đi theo những chuẩn mực trong xã hội.

    2. Pháp luật và đạo đức có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại, ảnh

    hưởng lẫn nhau.

    2.1. Tác động của đạo đức tới pháp luật.

    a. Đầu tiên, đạo đức tác động đến việc hình thành các quy định pháp luật.

    Các quy phạm đạo đức tồn tại trong xã hội cũng có nhiều loại và chúng có sự tác

    động qua lại với nhau. Giai cấp thống trị, vì nắm quyền lực trong tay, nên có điều

    kiện và ưu thế đển nâng các quan niệm đạo đức của mình thành pháp luật. Do đó,

    pháp luật luôn phản ánh đạo đức của giai cấp cầm quyền. Tuy nhiên do có sự tác

    động qua lại của nhiều loại đạo đức của các giai cấp khác nhau trong xã hội, nên

    pháp luật không thể không phản ánh quan điểm , lợi ích của các giai cấp khác nhau

    đó. Trong khi xây dựng và thực hiện pháp luật, dù muốn hay không, giai cấp cầm

    quyền buộc phải tính đến yếu tố đạo đức nhằm tạo cho pháp luật một khả năng

    thích ứng, khiến cho nó dường như thể hiện ý chí chung của mọi tầng lớp xã hội

    Bất kì quy định pháp luật nào ra đời đều tồn tại trên nền tảng đạo đức nhất định.

    Đạo đức là môi trường phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, là một trong

    những chất liệu làm nên các quy định trong hệ thống pháp luật. Những quan điểm,

    quan niệm, chuẩn mực đạo đức đóng vai trò là tiền đề tư tưởng, chỉ đạo việc xây

    dựng pháp luật. Pháp luật hình thành, trước tiên là phải phù hợp với chuẩn mực

    đạo đức trước khi xem xét đến các chuẩn mực khác vì chuẩn mực đạo đức luôn là

    chuẩn mực có tác động sâu sắc nhất đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, luôn là

    căn cứ, cơ sở cho mọi hoạt động trong xã hội.

    Sự tác động của đạo đức tới việc hình thành pháp luật diễn ra ở nhiều cấp

    độ. Ở cấp độ thấp nhất thì các quy định pháp luật được xây dựng không trái với

    đạo đức xã hội như việc con cái phải có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ, vừa là pháp

    luật và không trái đạo đức . Ở cấp độ cao hơn thì các quy định được ban hành có

    sự thống nhất, phù hợp với những quan niệm đạo đức. Ở cấp độ này thì đạo đức đã

    ảnh hưởng tới việc hình thành quy định trong hệ thống pháp luật như thừa nhận

    một tập tục, tập quán đạo đức thành tập quán pháp hay giải quyết một vấn đề, một

    vụ việc cụ thể dựa trên quan niệm đạo đức trở thành tiền lệ pháp.

    Trong đạo đức xã hội, đạo đức của giai cấp thống trị có ảnh hưởng đến pháp

    luật mạnh mẽ nhất vì bộ máy nhà nước được cấu thành trước hết và chủ yếu từ các

    thành viên của giai cấp thống trị. Bất kì chuẩn mực đạo đức nào, nếu không được

    giai cấp thống trị chấp nhận sẽ không thể tồn tại và ngược lại, những chuẩn mực

    đạo đức được giai cấp thống trị thừa nhận sẽ được nâng lên thành pháp luật và

    được bảo đảm thực hiện bằng những công cụ mạnh mẽ. Hơn nữa, giai cấp này còn

    có tiềm lực kinh tế, các công cụ tuyên truyền… Những chuẩn mực đạo đức truyền

    thống cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến pháp luật vì truyền thống làm nên bản sắc dân

    tộc, là cơ sở, động lực của phát triển. Nó đã ăn sâu vào đời sống của người dân nên

    việc thay đổi hoặc xóa bỏ nó là một việc khó khăn.

    b. Thứ hai, đạo đức tác động đến việc thực hiện pháp luật của các chủ thể.

    Sự tác động này phụ thuộc vào hai yếu tố: sự phù hợp của đạo đức với pháp luật và

    ý thức đạo đức của mỗi chủ thể cá nhân trong xã hội.

    đã trở nên phổ biến trong xã hội, thành yếu tố thường trực trong hành vi xã hôi của

    con người, sẽ trở thành quy phạm đạo đức.

    Bằng cách này, pháp luật góp phần cũng cố, giữ gìn, phát huy các giá trị đạo

    đức xã hội, bảo đảm cho đạo đức phổ biến hơn trên toàn xã hội, đồng thời góp

    phần hỗ trợ, bổ sung cho đạo đức, đảm bảo cho chúng được thực hiện nghiêm

    chỉnh trên thực tế thông qua những biện pháp tác động nhà nước cụ thể. Điều 131

    Luật Dân sự đã quy định: “Những giao dịch dân sự trái với pháp luật, đạo đức thì

    bị coi là vô hiệu. Điều đó có nghĩa là chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự phải cân

    nhắc xem hành vi của mình có hợp pháp và hợp đạo đức hay không”.

    b. Thứ hai, pháp luật giữ vai trò loại bỏ những quan điểm, tư tưởng đạo đức

    lạc hậu, phản tiến bộ trong đời sống xã hội, đồng thời ngăn chặn sự thoái hóa,

    xuống cấp của đạo đức, ngăn chặn việc hình thành những quan niệm đạo đức trái

    với thuần phong mỹ tục của dân tộc và của xã hội tiến bộ. Mặc dù đạo đức là

    chuẩn mực có tác động mạnh mẽ nhất đến con người những không phải lúc nào

    chuẩn mực này cũng là đúng nhất. Quá trình phát triển của xã hội kéo theo sự thay

    đổi trong lối sống, lối nghĩ của người dân. Và cùng với nó, đạo đức không còn

    hoàn toàn là phù hợp. Và pháp luật đã giúp đạo đức tồn tại trong xã hội bằng cách

    loại bỏ những quan niệm đạo đức cổ hủ lạc hậu và duy trì, phát huy những quan

    niệm đúng đắn, đẹp đẽ trong cuộc sống, phát huy giá trị của chuẩn mực đạo đức.

    Thông qua những quy định cụ thể, pháp luật không cho phép hoặc cấm

    những hành vi thực hiện theo những quan niệm, tư tưởng đạo đức xưa cũ, lạc hậu,

    không phù hợp với cuộc sống hiện đại. Thêm vào đó, xã hội ngày nay ngày càng

    phát triển, hội nhập sâu rộng, mang theo ảnh hưởng của kinh tế, chính trị, văn

    hóa… khác nhau, hoặc khi giá trị đạo đức truyền thống không còn được nhận thức

    đúng đắn, việc giáo dục đạo đức trong gia đình và nhà trường bị coi nhẹ. Trong

    những trường hợp ấy, pháp luật là phương tiện, công cụ hữu hiệu nhất để diệt trừ

    cái ác, ngăn chặn sự băng hoại đạo đức trong xã hội.

    Nhận xét:

    Chuẩn mực đạo đức và pháp luật tuy khác nhau về phạm vi tác động, cơ chế tác

    động tới các quan hệ xã hội, nhưng chúng có chung mục đích điều tiết, điều chỉnh

    hành vi của con người trong xã hội. Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp

    luật là mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau và bỏ sung cho nhau trong quá

    trình điều chỉnh hành vi của con người. Trong mối quan hệ này, chuẩn mực đạo

    đức có phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội rộng hơn, còn pháp luật có phạm vi

    điều chỉnh sâu hơn. Trong một số trường hợp, định hướng đạo đức muốn được

    thực hiện một cách phổ biến trong xã hội thì phải thông qua các quy phạm pháp

    luật để thể hiện. Điều đó cho thấy, ở một số khía cạnh nhất định pháp luật có ưu

    thế nổi trội hơn so với chuẩn mực đạo đức. Pháp luật không chỉ là sự ghi nhận các

    chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụ, phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức

    một cách hữu hiệu bằng các biện pháp, chế tài cụ thể. Pháp luật có vai trò to lớn

    trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong

    xã hội.

    Ngược lại, chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện các quy định của

    pháp luật. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân trong xã hội thực hiện một hành vi

    pháp luật hợp pháp không phải vì ho hiểu các quy định của pháp luật, mà hoàn

    toàn xuất phát từ các quy tắc đạo đức. Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của chuẩn

    mực đạo đức được nhà nước sử dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật. Khi

    xây dựng và ban hành pháp luật, nhà nước không thể không tính tới các quy tắc

    của chuẩn mực đạo đức. Chẳng hạn đối với ” Tội không tố giác tội phạm” (Điều

    314 BLHS năm 1999), nếu tội phạmđó không phải là tội xâm phạm an ninh quốc

    gia hoặc tôi đặc biệt nghiêm trọng thì nhà nước không truy cứu trách nhiệm hình

    sự đối với ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người

    phạm tội; vì về mặt đạo đức và tâm lý, không ai muốn người thân của mình dính

    líu vào vòng tù tội.

    Khủng hoảng xã hội thường biểu hiện ở các quan hệ đạo đức trong xã hội, nhất là

    giới lãnh đạo, cầm quyền. Đến lượt mình, khủng hoảng đạo đức có thể tác động

    tiêu cực đến các mặt khác nhau của đời sống xã hội, kể cả lĩnh vực kinh tế. Chẳng

    hạn, nạn tham nhũng có thể tàn phá các quan hệ kinh tế, từ chỗ là một vấn đề đạo

    đức (biểu hiện của thói tham lam vô độ, ích kỷ tột cùng, là hành vi vô đạo đức), nó

    trở thành một vấn đề xã hội( ảnh hưởng đến trật tự xã hội, gây nhức nhối, bức xúc

    trong dư luận xã hội)- kinh tế ( làm cạn kiệt công quỹ, phương hại đến ngân sách,

    cản trở quá trình phát triển kinh tế)- pháp luật (gồm những tội phạm rất nghiêm

    trọng và đặc biệt nghiêm trọng quy định trong Bộ luật Hình sự, như tội tham ô tài

    sản, tội nhận hối lộ…). Một xã hội được coi là phát triển ổn định, bền vững bao giờ

    cũng phải tới chỗ các giá trị, chuẩn mực đạo đức, pháp luật được tôn trọng và thực

    hiện một cách rộng rãi, phổ biến

    IV. Liên hệ với Việt Nam.

    Ở nước ta hiện nay, vị trí, vai trò cũng như mối quan hệ của đạo đức và pháp

    luật ngày càng được nhìn nhận đúng đắn, tích cực.

    Pháp luật được xây dựng để trở thành công cụ quan trọng nhất của nhà nước

    để quản lý các quan hệ xã hội. Tuy vậy, với đời sống xã hội rộng lớn thì còn cần

    nhiều công cụ khác nữa, trong đó có đạo đức. Tại Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần

    VIII, Đảng ta đã khẳng định quan điểm: “Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời

    coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”.

    Do được xây dựng trên cơ sở các quan niệm đạo đức của nhân dân, pháp luật

    không những thể hiện được tư tưởng đạo đức cách mạng, đạo đức tiến bộ mà còn

    thể hiện được ý chí, nguyện vọng và hướng tới lợi ích của nhân dân lao động. Tại

    Hiến Pháp 1992, Điều 2 quy định: “Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

    là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.”.

    Pháp luật còn phản ánh rõ nét tinh thần nhân đạo – tư tưởng đạo đức cơ bản

    của nhân dân ta. Tính nhân đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện

    rất rõ trong các quy định về chính sách xã hội của nhà nước. Nhà nước Việt Nam

    có nhiều chính sách ưu đãi, quan tâm đặc biệt đến thương binh liệt sĩ, người có

    công với cách mạng, người già, trẻ em, người tàn tật…

    Đạo đức trong xã hội đã bổ sung và hoàn thiện cho pháp luật, tạo điều kiện

    cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống. Nhà nước ta thừa

    nhận tập quán có thể thay thế pháp luật trong một số trường hợp nhất định và nội

    dung tập quán không trái với pháp luật. Ngược lại, pháp luật đã góp phần quan

    trọng trọng việc gìn giữ và phát huy những quan niệm đạo đức tốt đẹp, hình thành

    những tư tưởng tiến bộ, ngăn chặn sự thoái hóa xuống cấp của đạo đức. Trong

    chừng mực nhât định, nhà nước pháp luật hóa các quy phạm, nguyên tắc đạo đức

    thành các quy phạm pháp luật – những quy tắc xử sự tương đối cụ thể cho các chủ

    thể trong xã hội, xác định rõ hành vi nào được thực hiện, không được thực hiện…

    Bên cạnh đó, trong một số trường hợp thì ranh giới điều chỉnh giữa pháp luật

    và đạo đức chưa rõ ràng. Chẳng hạn, Bộ Luật Dân sự quy định các giao dịch dân

    sự không được trái với đạo đức xã hội. Trên thực tế, đánh giá một hành vi nào đó

    là trái hay không trái với đạo đức xã hội không phải là vấn đề đơn giản.

    Đạo đức xã hội xuống cấp là nguyên nhân chính làm gia tăng các vi phạm

    pháp luật cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng ở mọi cáp độ: người dân, công

    chức, cán bộ… Văn kiện Đại hội lần 9 đã nêu: “Tình trạng tham nhũng (…) ở một

    bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng”. Nguyên nhân cơ bản là

    sự nhận thức không đúng đắn về vai trò của đạo đức, nhất là đạo đức truyền thống.

    KẾT THÚC

    Pháp luật và đạo đức luôn nằm trong một mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau

    trong việc điều chỉnh hành vi con người, hướng tới sự hoàn thiện, góp phần vào sự

    ổn định xã hội. Hiều được mối quan hệ này giúp xã hội cân bằng, phát triển ổn

    định và tốt đẹp.Trong quá trình làm bài, dù đã rất cố gắng nhưng không thể tránh

    khỏi thiếu sót. Em mong thầy cô chỉ bảo và giúp đỡ. Em xin cảm ơn.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Ngọ Văn Nhân. Xã hội học pháp luật.nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2010

    2. Ngọ Văn Nhân. Nxb. Thông tin và truyền thông, Hà Nội, 2012

    3. Kulcar Kalaman, Cơ sở Xã hội học pháp luật,Nxb thống kê, Hà Nội 2004

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Phân Tích Ví Dụ Về Việc Phân Loại Hành Vi Sai Lệch Chuẩn Mực Pháp Luật
  • Đề Thi Môn Xã Hội Học Pháp Luật
  • Lên Đại Học Học Những Môn Gì? Giải Đáp Thắc Mắc Tân Sinh Viên
  • Kinh Nghiệm Học Tốt Các Môn Đại Cương, Giúp Sinh Viên Qua Môn Dễ Dàng
  • Môn Đại Cương Học Như Thế Nào Với Tân Sinh Viên?
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100