Đề Xuất 12/2022 # Phân Tích Đoạn Trích “Chí Khí Anh Hùng” Trong “Truyện Kiều” Của Nguyễn Du / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Phân Tích Đoạn Trích “Chí Khí Anh Hùng” Trong “Truyện Kiều” Của Nguyễn Du / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Đoạn Trích “Chí Khí Anh Hùng” Trong “Truyện Kiều” Của Nguyễn Du / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Dàn ý I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều

– Giới thiệu đoạn trích Chí khí anh hùng

II. Thân bài 1. Khát vọng lên đường của Từ Hải (4 câu thơ đầu)

a. Hoàn cảnh chia tay:

– Thời gian

+ “Nửa năm”: Khoảng thời gian Kiều và Từ Hải chung sống.

+ “Hương lửa đương nồng”: Tình yêu nồng nàn, say đắm của Thúy Kiều – Từ Hải.

b. Hình ảnh Từ Hải

* Lí do ra đi:

– “Trượng phu”: Là từ chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng với hàm nghĩa khâm phục, ngợi ca.

– “Thoắt”: là nhanh chóng trong khoảnh khắc bất ngờ.

– “Động lòng bốn phương”: Chỉ chí khí anh hùng, khát khao tung hoành.

* Tư thế ra đi

– “Trông vời trời bể mênh mang”: cụm từ mang cảm hứng vũ trụ.

– “Thanh gươm yên ngựa”: một mình, một gươm, một ngựa

– “Lên đường thẳng rong”: đi liền một mạch, không lưu luyến, bịn rịn.

2. Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải (12 câu thơ tiếp)

a. Lời của Kiều

– Xưng hô: “chàng- thiếp” → dịu dàng, ân cần.

– “Phận gái chữ tòng”: Ý thức bổn phận

– “Một lòng xin đi”: quyết tâm theo Từ Hải

b. Lời của Từ Hải

* Lời đáp

– “Tâm phúc tương tri”: Coi Kiều là tri kỉ, hiểu mình hơn ai hết.

– “Nữ nhi thường tình”: Người phụ nữ ủy mị, yếu đuối

* Lời hứa

– Mười vạn tinh binh”, “Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”: tương lai thành công.

– “Rõ mặt phi thường”: chứng tỏ được tài năng xuất chúng

– “Rước nàng nghi gia”: cho Kiều danh phận, cuộc sống viên mãn

* Lời khuyên

– “Bốn bể không nhà”: thực tế khó khăn, gian nan.

– “Theo càng thêm bận”: việc lớn sẽ bị ảnh hưởng, không quan tâm, lo cho Kiều được

– “Đành lòng chờ đó ít lâu”: an ủi, mong Kiều bằng lòng chờ đợi.

– “Một năm sau”: thời gian cụ thể. Hứa hẹn sẽ thành công

3. Quyết tâm ra đi của Từ Hải (2 câu thơ cuối)

– Hành động: Quyết lời, dứt áo ra đi

– Hình ảnh ẩn dụ: “chim bằng”: Là loài chim quý tượng trưng co người anh hùng.

4. Nghệ thuật.

– Sử dụng nhiều hình ảnh ước lệ tượng trưng

– Lời đối thoại bộc lộ tính cách.

– Nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh hùng qua dáng vè, hành động.

III. Kết bài

– Khái quát lại vấn đề

Bài mẫu Bài tham khảo số 1

Đoạn trích Chí khí anh hùng từ câu 2213 đến câu 2230 trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, nói về Từ Hải, một hình tượng nhân vật lí tưởng thể hiện ước mơ lãng mạn về một người anh hùng có những phẩm chất, phi thường.

Rơi vào lầu xanh lần thứ hai, Thúy Kiều luôn sống trong tâm trạng chán chường, tuyệt vọng:

Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

Thế rồi Từ Hải đột nhiên xuất hiện. Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm, tri kĩ. Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh, Từ Hải đã tinh tường nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều và với con mắt tinh đời, ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan cho mình. Nàng khiêm nhường bày tỏ:

Rộng thương cỏ nội hoa hèn, Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau

Hai người, một là gái giang hồ, một đang làm “giặc”, đều thuộc hạng người bị xã hội phong kiến khinh rẻ nhất, đã đến với nhau tâm đầu ý hợp trong một mối tình tri kỉ. Từ Hải đánh giá Kiều rất cao, còn Kiều nhận ra Từ là đấng anh hùng. Nhưng tình yêu không thể giữ chân Từ Hải được lâu. Đã đến lúc Từ Hải ra đi để tiếp tục tạo lập sự nghiệp. Đoạn trích này cho thấy một Từ Hải đầy chí khí anh hùng, mà cũng đượm chút cô đơn, trống trải giữa đời.

Trước sau đối với Từ Hải, Nguyễn Du vẫn dành cho chàng thái độ trân trọng và kính phục, ở chàng, nhất cử nhất động đều thể hiện rõ chí khí, cốt cách anh hùng. Trên con đường tạo dựng nghiệp lớn, cuộc hôn nhân bất ngờ giữa chàng với Thúy Kiều chỉ là phút chốc nghỉ ngơi, chứ không phải là điểm âm, tri kỉ và cuộc hôn nhân của họ đang hạnh phúc hơn bao giờ hết. Ấy vậy mà, chỉ mới sáu tháng vui hưởng hạnh phúc bên Thúy Kiều, Từ Hải đã lại động lòng bốn phương, dứt khoát lên đường, tiếp tục sự nghiệp lớn lao đang còn dang dở:

Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.

Từ Hải được tác giả miêu tả là con người đa tình, nhưng trước hết Từ Hải là một tráng sĩ, một người có chí khí mạnh mẽ. Chí là mục đích cao cả hướng tới, khí là nghị lực để đạt tới mục đích, ở con người này, khát khao được vẫy vùng giữa trời cao đất rộng như đã trở thành một khát vọng bản năng tự nhiên, không có gì có thể kiềm chế nổi.

Trước lúc gặp gỡ và kết duyên với Thúy Kiều, Từ Hải đã là một anh hùng hảo hán: Dọc ngang nào biết trên đầu có ai, đã từng: Nghênh ngang một cõi biên thùy. Cái chí nguyện lập nên công danh, sự nghiệp ở chàng là rất lớn. Vì thế không có gì cản được bước chân chàng.

Dù Nguyễn Du không nói cụ thể là Từ Hải ra đi làm gì nhưng nếu theo dõi mạch truyện và những câu chàng giải thích để Thúy Kiều an lòng thì người đọc sẽ hiểu cả một sự nghiệp vinh quang đang chờ chàng ở phía trước. Từ Hải không phải là con người của những đam mê thông thường mà là con người của sự nghiệp anh hùng. Đang sống trong cảnh nồng nàn hương lửa. Từ chợt động lòng bốn phương, thế là toàn bộ tâm trí hướng về trời biển mênh mang, và lập tức một minh với thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong. Chữ trượng phu trong Truyện Kiểu chỉ xuất hiện một lần dành riêng đã nói về Từ Hải. Điều đó cho thấy Nguyễn Du đã dùng từ Trượng phu với nghĩa Từ Hải là người đàn ông có chí khí lớn. Chữ thoắt thể hiện quyết định nhanh chóng, dứt khoát cùa chàng. Bôn chữ động lòng bốn phương nói lên được cái ý Từ Hải “không phải là người của một nhà, một họ, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương”. (Hoài Thanh).

Trong cảnh tiễn biệt, tác giả tả hình ảnh Từ Hải: thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong trước rồi mới đế cho Từ Hải và Kiều nói những lời tiễn biệt. Có người cho rằng nếu như vậy thì Thúy Kiều còn nói sao được nữa? Có lẽ tác giả muốn dựng cảnh tiễn biệt này khác hẳn cảnh tiễn biệt giữa Thúy Kiều – Kim Trọng, Thúy Kiều – Thúc Sinh. Từ Hải đã ở tư thế sẵn sàng lên đường. Chàng ngồi trên yên ngựa mà nói những lời tiễn biệt với Thúy Kiều. Sự thật có phải vậy không? Không chắc, nhưng cần phải miêu tả như thế mới biểu hiện được sự quyết đoán và cốt cách phi thường của Từ Hải.

Thúy Kiều biết rõ Từ Hải ra đi sẽ lâm vào tình cảnh bốn bể không nhà, nhưng vẫn khẩn thiết xin được cùng đi, nàng rằng: Phận gái chữ tòng, chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. Ngắn gọn thế thôi, nhưng quyết tâm thì rất cao. Chữ tòng ở đây không chỉ có nghĩa như trong sách vở thánh hiền của dạo Nho: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu…, mà còn ngụ ý tiếp sức, chia sẻ nhiệm vụ, muốn cùng được gánh vác với chồng.

Lời Từ Hải nói trong lúc tiễn biệt càng thể hiện rõ chí khí anh hùng của nhân vật này:

Từ rằng: “Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp dường. Làm cho rõ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia. Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu, Chầy chăng là một năm sau vội gì!”

Đã là tâm phúc tương tri có nghĩa là hai ta đã hiểu biết lòng dạ nhau sâu sắc, vậy mà sao, dường như nàng chưa thấu tâm can ta, nên chưa thoát khỏi thói nữ nhi thường tình. Lẽ ra, nàng phải tỏ ra cứng cỏi để xứng là phu nhân của một bậc trượng phu.

Lí tưởng anh hùng của Từ Hải bộc lộ qua ngôn ngữ mang đậm khẩu khi anh hùng. Khi nói lời chia tay với Thúy Kiều chàng không quyến luyến, bịn rịn vì tình chồng vợ mặn nồng mà quên đi mục đích cao cả. Nếu thực sự quyến luyến, Từ Hải sẽ chấp nhận cho Thúy Kiều đi theo.

Từ Hải là con người có chí khí, khát khao sự nghiệp phi thường nên không thể đắm mình trong chốn buồng the. Đang ở trong cảnh hạnh phúc ngọt ngào, tiếng gọi của sự nghiệp thôi thúc từ bên trong. Từ Hải quyết dứt áo ra đi. Giờ đây, sự nghiệp đối với chàng là trên hết. Đối với Từ Hải, nó chẳng những là ý nghĩa của cuộc sống mà còn là điều kiện để thực hiện những ước ao mà người tri kỉ đã gửi gắm, trông cậy ởchàng. Do vậv mà không có những lời than vãn buồn bã lúc chia tay. Thêm nữa, trong lời trách Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình còn bao hàm ý khuyên Thúy Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng là vợ của một anh hùng. Cho nên sau này trong nỗi nhớ của Kiều: cánh hồng bay bổng tuyệt vời, Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm, không chỉ có sự mong chờ, mà còn có cả hi vọng vào thành công và vinh quang trong sự nghiệp của Từ Hải.

Từ Hải là con người rất mực tự tin. Trước đây, chàng đã ngang nhiên xem mình là anh hùng giữa chốn trần ai. Giờ thì chàng tin rằng tất cả sự nghiệp như đã nắm chắc trong tay. Dù xuất phát chỉ với thanh gươm yên ngựa, nhưng Từ Hải đã tin rằng mình sẽ có trong tay mười vạn tinh binh, sẽ trở về trong hào quang chiến thắng Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường, để rõ mặt phi thường với Thúy Kiều, để đem lại vẻ vang cho người phụ nữ mà chàng hết lòng yêu mến và trân trọng. Từ Hải đã khẳng định muộn thì cũng không quá một năm, nhất định sẽ trở về với cả một cơ đồ to lớn.

Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời chia tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong một tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy:

Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia tay, niềm tin vào thắng lợi… tất cả đều bộc lộ chí khí anh hùng của Từ Hải. Đã đến lúc chim bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao.

Hình ảnh: gió mây bằng đã đến kì dặm khai là mượn ý của Trang Tử tả chim bằng khi cất cánh lên thì như đám mây ngang trời và mỗi bay thì chín vạn dậm mới nghỉ, đối lập với những con chim nhỏ chỉ nhảy nhót trên cành cây đã diễn tả những giây phút ngáy ngất say men chiến thắng cùa con người phi thường lúc rời khỏi nơi tiễn biệt.

Hình tượng người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện cảm hứng và nghệ thuật miêu tả. Qua đó thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ trong việc diễn tả chí khí anh hùng cùng khát vọng tự do của nhân vật Từ Hải.

Từ Hải là hình ảnh thể hiện mạnh mẽ cái ước mơ công lí vẫn âm ỉ trong cảnh đời tù túng của xã hội cũ. Từ Hải ra đi để vẫy vùng cho phỉ sức, phỉ chí, nhưng nếu hiểu kỹ càng còn thêm một lí do nữa là vì bất bình trước những oan khổ của con người bị chà đạp như Thúy Kiều thì không hẳn là không có căn cứ. Điều chắc chắn là cái khao khát của Từ Hải muốn được tung hoành ! rong bốn bể để thực hiện ước mơ công lí chứ không bao giờ nhằm mục đích thiết lập một ngai vàng quyền lực tầm thường.

Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét tính cách đẹp đẽ, sinh động. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải – nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Dàn Ý Phân Tích Đoạn Trích / 2023

DÀN Ý CHI TIẾT PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH “TRONG LÒNG MẸ’

A. Mở bài

Giới thiệu khái quát về Nguyên Hồng và đối tượng chính trong văn ông.

Khái quát về tác phẩm hồi kí ” Những ngày thơ ấu ” và nêu vị trí , nội dung của đoạn trích ” Trong lòng mẹ “.

“Trong lòng mẹ” là một đoạn trích nằm ở chương IV tập hồi ký “Những ngày thơ ấu’ của nhà văn Nguyên Hồng. Tác phẩm đã nêu lên những đau đớn trong lòng của cậu bé Hồng khi phải sống cũng họ hàng, xa vòng tay âu yếm của mẹ. Từ đó đã làm nổi bật những tủi nhục mà cậu bé Hồng phải trải qua và niềm vui sướng vỡ òa khi cậu được gặp lại mẹ.

Vị trí và nội dung chính của đoạn trích.

Các biện pháp nghệ thuật trong đoạn.

a, Hoàn cảnh cậu bé Hồng : Đoạn trích ” Trong lòng mẹ ” có thể coi là đoạn trích hay nhất trong tác phẩm ” Những ngày thơ ấu “. Một đứa bé sinh ra trong không khí gia đình giả dối , rồi cha chìm đắm với bàn đèn thuốc phiện , gia đình sụp đổ , mẹ phải bỏ hai anh em đi tha hương cầu thực. Cậu phải sống trong những năm tháng cô đơn , tủi cực , trong sự ghẻ lạnh của họ hàng. Đối với một đứa trẻ , đó là một sự đau đớn quá lớn , vượt quá sức chịu đựng của nó. Nhưng kì diệu thay , cậu lại có thể kiên cường vượt qua tất cả để đến ngày được nằm trong vòng tay ấm áp của mẹ , bỏ mặc những xấu xa , những thành kiến xung quanh. Đoạn trích đã khắc họa rõ nét nỗi đau của cậu bé mồ côi cha phải sống xa mẹ và tình yêu thương vô bờ của cậu dành cho người mẹ bất hạnh. Từ đó cũng lên tiếng tố cáo xã hội bất công , hà khắc đối với người phụ nữ , đẩy họ cào con đường cùng , không cho họ có quyền được hưởng hạnh phúc. ” Trong lòng mẹ ” không chỉ là chương hồi kí thấm đẫm nước mắt mà còn là tiếng nói tha thiết đòi quyền sống hạnh phúc cho người phụ nữ và trẻ em trong một xã hội còn đầy rẫy những hủ tục lạc hậu.

b, Cuộc nói chuyện giữa Hồng và cô ruột

Bà cô luôn nói xấu về mẹ Hồng trước mặt cậu để khiến cậu khinh miệt và ruồng rẫy mẹ mình.

Những câu nói tưởng như là sự quan tâm nhưng thực ra là lời mỉa mai , chế giễu. Và Hồng đã nhận ra ” rắp tâm tanh bẩn ” trong đó , em đã chọn cách im lặng để bảo vệ mẹ mình.

Nhưng con trẻ vẫn mãi là con trẻ , dù có mạnh mẽ đến đâu thì cũng không thắng được những lời lẽ cay độc , những rắp tâm tanh bẩn. Bởi vậy mà khi người cô liên tục nhắc đến mẹ mình , Hồng không thể kìm được nước mắt ( khóe mắt tôi đã cay cay / nước mắt tôi ròng ròng rớt xuống … và ở cổ ).

Người cô không những không yêu thương đùm bọc đứa cháu bất hạnh mà còn dày vò nó. Đó là hiện thân của những con người đã khô héo tình máu mủ , ruột thịt. Đó còn là sản phẩm của một xã hội đầy rẫy những bất công , hủ tục lạc hậu , những thành kiến đối với người phụ nữ.

c, Tâm trạng Hồng khi trò chuyện với bà cô

Càng nói chuyện với cô, Hồng càng thương mẹ nhiều hơn.

Hàng loạt các động từ mạnh cùng phép so sánh , ẩn dụ đã được sử dụng ” Gía những cổ tục … nát vụn mới thôi “.

Hồng là đứa trẻ nhạy cảm , thông minh khi nhận ra những ý nghĩ cay độc trong lời nói của cô. Hồng luôn yêu thương mẹ , mong chờ mẹ về.

d, Bé Hồng khi bất ngờ được gặp lại mẹ

Hồng vô cùng ngạc nhiên , bối rối và hạnh phúc.

Đoạn hồi kí thấm đẫm chất trữ tình. Kết hợp giữa tự sự – miêu tả – biểu cảm.

Tình huống truyện đơn giản nhưng hấp dẫn.

Các hình ảnh so sánh độc đáo , phép tương phản.

Khẳng định lại nội dung và gía trị của đoạn trích.

Liên hệ các tác phẩm khác.

Và như vậy đoạn trích “Trong lòng mẹ” đã nói lên tình cảm yêu thương mẹ sâu nặng cùng nỗi tủi cực của cậu bé Hồng trong những ngày xa mẹ. Từ đó chúng ta thêm trân trọng tình mẹ con nói riêng và tình cảm gia đình nói chung.

Tươi Hoàng – Wikihoc.com

Bài Văn Phân Tích Đoạn Trích Rô / 2023

Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang là đoạn trích đặc sắc trong tiểu thuyết Rô-bin-xơn Cru-xô của Đi-phô. Bài phân tích đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang (trích Rô-bin-xơn Cru-xô) hôm nay sẽ giúp các em cảm nhận được chân dung, hình dáng hài hước tự họa của Rô-bin-xơn, qua đó thấy được tinh thần lạc quan, yêu đời của nhân vật này khi một mình lưu lạc nơi đảo hoang.

Đề bài: Phân tích đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang

Phân tích đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang

Bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang

Rô-bin-xơn Cru-xô‎ là tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Anh Daniel Defoe kể về cuộc đời lưu lạc, đơn độc suốt 28 năm trời của chàng thủy thủ có tên là Rô-bin-xơn trên một hòn đảo hoang, sau sự cố đắm tàu mà anh là người sống sót duy nhất. Trước cuộc sống khắc nghiệt, khó khăn và cô đơn anh đã phải tự nỗ lực lao động, vượt qua mọi sóng gió để có thể tồn tại và trở về với đất liền khi đã gần như trở thành một dã nhân. Câu chuyện là bài ca nghị lực, lòng dũng cảm và sức mạnh chinh phục thiên nhiên của con người với lối viết lãng mạn ở những trang đầu, kết truyện lại quay về với chủ nghĩa hiện thực phù hợp với xã hội Anh lúc bấy giờ đã được rất nhiều độc giả trên thế giới yêu thích. Đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang trích trong chương thứ 15 của tiểu thuyết cũng tứ là khi Rô-bin-xơn đã một mình sinh sống ngoài đảo hoang được 15 năm trời. Giọng văn hóm hỉnh pha lẫn tinh thần lạc quan, yêu đời của được thể hiện rất rõ ràng dưới lời tự thuật của nhân vật. Đoạn trích chủ yếu là cách Rô-bin-xơn tự thuật về ngoại hình của bản thân sau nhiều năm trời làm “vua” trên đảo hoang.

Sau nhiều năm trời sinh sống trên đảo hoang, cuộc sống khắc nghiệt đã khiến Rô-bin-xơn có nhiều thay đổi cả về thể xác lẫn tinh thần. Cuộc sống hoang dã vô cùng gian khổ và nỗi cô đơn cùng cực dường như có thể hủy hoại mạnh mẽ tinh thần của nhân vật chính. Cuộc sống quanh quẩn hoang sơ, chỉ có vài con vật làm bạn, không có sự sống của một con người khác, thiếu đi sự đồng cảm chia sẻ của đồng loại khiến Rô-bin-xơn thiếu hụt tình cảm con người, sự thiếu hụt ấy thậm chí còn nghiêm trọng hơn so với việc thiếu thốn vật chất. Thêm vào đó qua bức chân dung của Rô-bin-xơn ta còn nhận ra một cách sâu sắc sự thiếu thốn về vật chất, không có lương thực thực phẩm, không có trang phục, cũng không có ngôi nhà để che mưa che nắng. Đặc biệt cuộc sống trên hòn đảo hoang dã chưa từng có dấu chân người còn chứa đựng đầy khắc nghiệt và những nỗi nguy hiểm đang rình rập. Đó là cái nắng cháy da, cháy thịt ở “9-10 độ vĩ tuyến vùng xích đạo”, đó là những loài thú dữ đói khát mà Rô-bin-xơn luôn phải mang bên mình đủ loại vũ khí từ dao rựa, thuốc súng để phòng thân bất cứ lúc nào.

Tuy cuộc sống có thiếu thốn và khắc nghiệt đủ đường nhưng ở người thủy thủ ham mê phiêu lưu khám phá ta lại dễ dàng nhận ra những vẻ đẹp thú vị trong tâm hồn của anh chàng. Đầu tiên ấy là vẻ đẹp của tinh thần nghị lực và lòng lạc quan phi thường, dẫu đã lưu lạc tới 15 năm trời trên đảo hoang không bóng người, nhưng Rô-bin-xơn vẫn giữ cho mình giọng điệu rất hóm hỉnh, hài hước và sinh động khi tự thuật về ngoại hình của bản thân. Câu mở đầu “Nếu có ai đó ở Anh…áo quần như vậy” đã chứng minh tinh thần của Rô-bin-xơn hoàn toàn bình thường, cái cô đơn và cuộc sống khắc nghiệt đã không thể nào quật ngã được tâm hồn ham sống, cái nghị lực phi thường của anh và đặc biệt rằng Rô-bin-xơn vẫn luôn một lòng hướng về quê hương, vẫn luôn tin tưởng rằng có một ngày nào đó anh sẽ trở về quê hương trong bộ dáng kỳ quặc hiện tại. Có thể nói sức mạnh của niềm tin và ý chí kiên cường đã giúp Rô-bin-xơn sống sót và tồn tại trên hòn đảo hoang cô độc, lạnh lẽo suốt 28 năm trời.

Vẻ đẹp thứ hai toát ra từ bức chân dung của Rô-bin-xơn ấy là óc sáng tạo trong công cuộc lao động để tồn tại trên đảo. Sau 15 năm trời sinh sống trên hòn đảo hoang, tuy gặp rất nhiều khó khăn chất chồng nhưng anh luôn cố gắng tìm mọi cách để thích nghi với hoàn cảnh sống. Thiếu thốn lương thực thì anh tìm cách trồng được cả lúa mạch và ngô, tự mình săn bắn thậm chí là chăn nuôi cả dê để lấy thịt và da, tự làm được cả nồi đất, tự đốn hạ cây để làm cho mình chiếc thuyền độc mộc phục vụ công cuộc săn bắt hải sản. Rô-bin-xơn cũng tự tay chế cho mình những bộ trang phục tuy kỳ dị và chẳng giống ai nhưng lại có nhiều công dụng, ví như “chiếc mũ to tướng cao lêu đêu” đằng sau gáy có một mảnh rủ xuống để vừa che nắng lại che mưa, rồi tất cả áo, quần, giày đến cả thắt lưng cũng đều tự tay Rô-bin-xơn làm ra từ da dê. Và dĩ nhiên anh chẳng phải là một tay thợ may chuyên nghiệp hay một nhà thiết kế thời trang nên trông chúng không được đẹp mắt lắm, nhưng vẫn đầy đủ công dụng, phục vụ tốt cho cuộc sống của anh trên đảo hoang. Ngoài ăn, mặc Rô-bin-xơn cũng trở thành một kiến trúc sư bất đắc dĩ khi tự tay dựng cho mình chiếc lều để có chỗ che nắng, che mưa, sau đó khá khẩm hơn anh còn dựng hẳn cho mình một ngôi nhà. Cuộc sống dẫu còn nhiều vất vả thế nhưng Rô-bin-xơn vẫn giữ cho mình thái độ, ung dung lạc quan, tự tin sinh sống trên hòn đảo như một vị chúa với những thần dân là một con vẹt, một con chó già và hai con mèo. Có thể nhận thấy Rô-bin-xơn là con người yêu thiên nhiên, có khả năng thích nghi mạnh mẽ và rất lạc quan, yêu đời.

Dẫu rằng bản thân Rô-bin-xơn bị mắc kẹt trên đảo hoang không có bóng người, nhưng anh vẫn luôn có ý thức giữ gìn những giá trị của con người. Thiết kế các loại trang phục có khả năng che chắn tốt như chiếc mũ có mảnh da rủ xuống gáy, đôi giày bọc kín chân, quần áo đầy đủ để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt, bảo vệ sức khỏe của bản thân. Anh cũng chú ý chăm chút cho diện mạo của mình, tự nhận rằng mình “không đến nỗi đen cháy” bởi trên đầu đã đội mũ lại thêm chiếc dù lớn giương trên đầu, Rô-bin-xơn cũng thường xuyên cắt tỉa râu ria, mặc dù có những lúc anh hơi lười, bản tính hài hước và óc sáng tạo đã khiến anh để những bộ ria mà có thể dùng treo cả mũ. Rô-bin-xơn hóm hỉnh thừa nhận nếu ở Anh thì “chiều dài và hình dáng kỳ quái của của chúng cũng khiến cho mọi người phải khiếp sợ”. Ở đây một lần nữa, Rô-bin-xơn nhắc về quê hương như một niềm mong nhớ mỏi mòn, điều đó chính tỏ anh luôn hướng về quê hương, vẫn vững một niềm tin có ngày được trở về đất liền, quay lại với cuộc sống vui vẻ, náo nhiệt, thoát khỏi cảnh cô đơn, lạnh lẽo trên đảo hoang.

Đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang với ngôi kể thứ nhất, giọng điệu tự nhiên, hóm hỉnh, hài hước kết hợp giữa các yếu tố biểu cảm tự sự một cách hài hòa nhằm nhấn mạnh tinh thần lạc quan và cuộc sống, ý chí và nghị lực phi thường của Rô-bin-xơn giữa hoàn cảnh khắc nghiệt, chống chọi với nỗi cô đơn tột cùng nhằm nuôi dưỡng hy vọng trở về đất nước. Qua đó, đoạn trích hay toàn bộ nội dung cuốn tiểu thuyết đã khích lệ, động viên con người luôn luôn có tinh thần lạc quan, yêu đời, mạnh mẽ, sử dụng sự sáng tạo và nỗ lực trong lao động để vượt qua những khó khăn và trắc trở trong cuộc sống, phía trước chính là tương lai tốt đẹp đang đón chờ.

Tìm hiểu chi tiết về đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, bên cạnh bài Phân tích đoạn trích Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, các em có thể tìm hiểu thêm: Soạn bài Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, Sơ đồ tư duy Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang, Cảm nhận của em về bức chân dung tự họa của Rô bin xơn ngoài đảo hoang, Phân tích và cảm nghĩ về nhân vật Rô-bin-xơn trong đoạn Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang.

https://thuthuat.taimienphi.vn/phan-tich-doan-trich-ro-bin-xon-ngoai-dao-hoang-47909n.aspx

Phân Tích Đoạn Trích “Chị Em Thúy Kiều” / 2023

Truyện Kiều là một tuyệt phẩm nổi tiếng. Nó đã tạo nên tên tuổi của Nguyễn Du trong làng thi ca Việt Nam. Trong đó, đoạn trích ” Chị em Thúy Kiều ” là một bức tranh tuyệt đẹp miêu tả lên vẻ đẹp của của hai cô gái họ Vương, Thúy Kiều và Thúy Vân.

Nguyễn Du đã sử dụng những từ ngữ vô cùng tinh tế, sâu sắc để lột tả được vẻ đẹp của hai cô gái. Trong đó ông đã miêu tả Thúy Kiều với những ngôn ngữ vô cùng tinh tế, bút pháp điêu luyện. Dưới ngòi bút của Nguyễn Du hai cô gái hiện lên chân thực, sắc nước hương trời, long lanh tựa tiên sa, ngọt ngào như trăng rằm, xứng đáng là tuyệt thế giai nhân xưa nay hiếm có.

Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân. Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Hai cô gái được tác giả sử dụng biện pháp ước lệ, cùng phép ẩn dụ để miêu tả nên vẻ đẹp hoàn hảo, hài hòa cả về nội dung tâm hồn bên trong và hình thức bên ngoài. Hai vẻ đẹp của Thúy Kiều và Thúy Vân vô cùng hoàn mĩ, mười phân vẹn mười, nhưng hai cô mỗi người lại mang một phong cách vẻ đẹp hoàn toàn khác nhau, không hề trộn lẫn hay na ná giống nhau chút nào.

Nguyễn Du đã vô cùng ưu ái với hai chị em khi ông dùng những gì đẹp nhất để miêu tả lên vẻ đẹp của hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân, không theo một khuôn mẫu chuẩn mực nào mà là mỗi người một vẻ.

Trong đó, nàng Thúy Vân được tác giả ưu tiên miêu tả, nhắc tới trước với những từ ngữ nói lên vẻ đẹp đài các, cao sang của nàng:

Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Trong những câu thơ này tác giả Nguyễn Du đã sử dụng từ ngữ trang trọng khác vời, để thể hiện nét đài các quyền quý của nàng Thúy Vân. Cho thấy nàng là con người có học thức, có nét kiêu sa cao sáng, cho thấy cuộc sống của nàng an nhàn, và được hưởng vinh hoa phú quý.

Trong vẻ đẹp của Thúy Vân người ta cảm nhận thấy nét đẹp dịu dàng đằm thắm, của một người phụ nữ đoan trang có học thức, quý phái. Từ vẻ đẹp tròn đầy, bằng phẳng của Thúy Vân người ta có thể thấy được rằng Thúy Vẫn có một vẻ đẹp sẽ mang lại hạnh phúc cho nàng. Nó sẽ cho nàng một cuộc sống bình yên sung túc.

Nguyễn Du đã vô cùng tinh tế sâu sắc khi miêu tả Thúy Vân, mượn Thúy Vân để làm đòn bẩy nâng Thúy Kiều lên.

Kiều càng sác sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen đua thắm liễu hờn kém xanh.

Nguyễn Du sử dụng từ hơn trong câu miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều với Thúy Vân, chỉ một chữ hơn này nhưng người đọc có thể cảm nhận được hết vẻ đẹp của Thúy Kiều. Nếu như Thúy Vân lung linh, mặn mà kiều diễm bao nhiêu thì Thúy Kiều lại nổi bật và sắc sảo hơn rất nhiều. Thúy Kiều mang một vẻ đẹp tới hoa nhường, nguyệt thẹn, một vẻ đẹp làm cho mọi người xung quanh ganh ghét vì đẹp quá.

Câu thơ của Nguyễn Du miêu tả về Thúy Kiều giống như một bức tranh thủy mạc, thể hiện một mặt hồ hơn sóng có mây núi, nước mùa thu…Cũng nhưng trong khuôn mặt của Thúy Kiều có đôi mắt long lanh như mặt nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như những ngọn núi…

Vẻ đẹp của Thúy Kiều không chỉ tựa như thiên nhiên hữu tình mà còn vượt trội hơn rất nhiều khiến cho hoa nhìn thấy nàng phải cảm thấy xấu hổ vì em xuân sắc, trăng nhìn thấy nàng phải giận dữ vì nàng quá đẹp. Vẻ đẹp của Thúy Kiều mang tới cho con người ta sự ngỡ ngàng choáng váng bởi trên đời lại có người đẹp như thế.

Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm. Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Kiều không chỉ đẹp về hình thức mà còn đẹp cả về nội dung bên trong tâm hồn con người. Tài năng của nàng cũng thuộc diện xuất chúng khi nàng giỏi cả cầm, kỳ, thi, họa..

Tài năng của Thúy Kiều vượt trội lên tất cả và là biểu tượng của phẩm chất vô cùng cao quý, khi nàng có một trái tim vô cùng nhân nghĩa trung hậu, có hiếu, vị tha…dường như trong con người Thúy Kiều chính là điều vô cùng hoàn mỹ.

Nhưng cũng bởi vì nàng Thúy Kiều quá hoàn mỹ nên trong xã hội xưa, một xã hội đầy rẫy những bất công sự trọng nam khinh nữ, nên cuộc đời của Thúy Kiều đã bị vùi dập, nàng chịu kiếp “hồng nhan bạc mệnh” cuộc sống phải chao đảo, lênh đênh, chìm nổi suốt mười mấy năm hồng trần.

Trong cách miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả Nguyễn Du cũng cho chúng ta thấy số phận của nàng Thúy Kiều sẽ gặp nhiều sóng gió, chịu kiếp hồng nhan, gian nan…

Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê. Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

Trong những câu thơ cuối cùng của đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” tác giả Nguyễn Du cho chúng ta thấy được rằng hai chị em Thúy Kiều là những người vô cùng đoan trang, dù tới tuổi cập kê, cần tìm hiểu để có thể mai mối nhân duyên nhưng hai cô vẫn chưa hề có bạn trai, vẫn sống cảnh trướng rủ, màn che, đoan trang, đức hạnh.

Với cảm hứng nhân đạo tình cảm và nghệ thuật miêu tả tài tình của mình tác giả Nguyễn Du đã vẽ lên chân dung của hai chị em Thúy Kiều vô cùng xinh đẹp, tài sắc, khiến cho nhiều người phải trầm trồ thán phục về tài sử dụng ngôn ngữ của ông. Hai mỹ nhân được ông miêu tả vô cùng tinh tế, xinh đẹp và có tâm hồn thanh cao thánh thiện, mười phân vẹn mười.

Thảo Nguyên

Phân Tích Đoạn Trích Vào Phủ Chúa Trịnh / 2023

Đề bài: Em hãy phân tích đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” trong ” Thượng Kinh kí sự” của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.

Hướng dẫn làm bài phân tích Vào phủ chúa Trịnh

1. Phân tích đề

– Yêu cầu: phân tích nội dung đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : các câu văn, từ ngữ, chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh của Kim Lân.

– Phương pháp lập luận chính: phân tích.

2. Hệ thống luận điểm

– Luận điểm 1: Quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa

– Luận điểm 2: Thái độ, tâm trạng và tài năng, y đức của Lê Hữu Trác.

3. Sơ đồ tư duy phân tích Vào phủ chúa Trịnh

4. Lập dàn ý chi tiết

– Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

+ Lê Hữu Trác được biết đến không chỉ là một danh y nổi tiếng mà còn là một nhà văn, nhà thơ với những đóng góp đáng ghi nhận cho nền văn học nước nhà.

+ Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng trong cuộc đời Lê Hữu Trác.

+ Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại một lần được truyền tới phủ chúa chữa bệnh cho thế tử đã trở thành một đoạn trích tiêu biểu trong cuốn Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác.

* Quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa

(+) Quang cảnh nơi phủ chúa

– Vào phủ:

+ Phải qua nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”, ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”

+ Vườn hoa: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương

+ Khuôn viên: có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh

– Trong phủ:

+ Những nhà: “Đại đường”, “Quyền bổng”, “Gác tía” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy.

+ Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng, chén bạc.

– Nội cung thế tử:

+ Phải qua năm sáu lần trướng gấm

+ Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt.

(+) Cung cách sinh hoạt

– Quyền uy: Khi tác giả được cáng vào phủ: “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường và cáng chạy như ngựa lồng”, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi”.

– Nhắc đến chúa và thế tử một cách cung kính: “thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà”…

– Lắm kẻ hầu người hạ: Chúa Trịnh luôn có phi tần hầu chầu chực xung quanh, Thế tử bị bệnh có đến 7, 8 thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có “mấy người đứng hầu hai bên”.

* Tài năng, y đức của Lê Hữu Trác

– Có sự mâu thuẫn, giằng co:

+ Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, bị công danh trói buộc.

+ Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòng cha ông.

– Khinh thường lợi danh, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị nơi quê nhà

– Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, không bỏ sót những chi tiết nhỏ tạo nên cái thần của cảnh và sự việc.

* Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả

– Quan sát tỉ mỉ (quang cảnh phủ chúa, nơi thế tử Cán ở)

– Ghi chép chân thực

– Tả cảnh sinh động

– Tái hiện diễn biến sự việc một cách khéo léo, thu hút sự chú ý của độc giả, kể tỉ mỉ, chi tiết

– Khát quát lại nội dung và nghệ thuật của đoạn trích

– Cảm nhận của cá nhân về đoạn trích.

Top 3 bài văn đạt điểm cao phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh

Phân tích Vào phủ Chúa Trịnh – Bài số 1:

Lê Hữu Trác (1720-1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, một đại danh y của Đại Việt. Ngoài những trước tác về y học trong bộ ” Y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển, ông còn để lại nhiều thơ văn, trong đó có tác phẩm độc đáo “Thượng kinh kí sự”. Thơ văn của Lãn Ông nhẹ nhàng, hóm hỉnh, giàu tính hiện thực, phản ánh một nhân cách cao đẹp: coi thường công danh phú quý, yêu thiên nhiên, yêu quý đồng loại, thích cuộc sống thanh nhàn.

” Thượng kinh kí sự” ghi lại hành trình của ông lên kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Đoạn văn ” Vào phủ chúa Trịnh” trích trong cuốn kí sự ấy rất giàu giá trị hiện thực và cho thấy một ngòi bút đậm đà, tài hoa.

Lần đầu, Lê Hữu Trác được vào Trịnh phủ. Ông ngẫm nghĩ và quan sát rất kĩ càng. Cửa sau vào phủ chúa phải đi qua con đường bên trái, ông ngẩng đầu lên nhìn một khung cảnh tuyệt đẹp “đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.

Nơi cung cấm, hành lang “quanh co nối nhau liên tiếp”, người giữ cửa, vệ sĩ canh giữ nghiêm ngặt, ai muốn vào ra phải có thẻ, người có việc quan qua lại như mắc cửi, “truyền báo rộn ràng”.

Quan sát cảnh cung cấm, Lê Hữu Trác ngẫm nghĩ: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường”. Rồi ông làm thơ nói lên sự ngạc ngạc nhiên, xúc động của mình tựa như “ngư phủ Đào nguyên thuở nào”:

“Cả trời Nam sang nhất là đây! Lầu từng gác vẽ tung mây, Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào. Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới, Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen !”

Ông thầy thuốc trên đường đi khám bệnh, mang tâm hồn thi sĩ, tả cảnh, vịnh thơ, ta tưởng như ông đang đi thăm thú cảnh đẹp. Cách viết kí sự của Lê Hữu Trác hấp dẫn ta vì thế!

Trong Trịnh phủ, cung điện nguy nga tráng lệ. Mỗi lâu đài, cung điện có một cái tên riêng. Đó là “Điếm Hậu mã quân túc trực” làm bên một cái hồ, cột và bao lơn “lượn vòng kiểu cách thật là xinh đẹp”, phía ngoài có những cây “lạ lùng”, có những hòn đá “kì lạ”. Nhà “Đại đường” còn gọi là “Quyền bổng”. Là cái lầu cao và rộng, “cột đều sơn son thiếp vàng” gọi là “Gác tía”, nơi Thế tử dùng “chè thuốc”, nên gọi là “Phòng trà”.

Lê Hữu Trác có phần choáng ngợp sợ hãi “chỉ dám liếc mắt nhìn rồi lại cúi đầu đi”. Cảnh đẹp nơi Trịnh phủ, từ vườn hoa đến hồ, từ lầu son đến gác tía là những công trình văn hoá nghệ thuật do tài trí công sức của nhân dân làm nên, vì thế Lê Hữu Trác đã xúc động ngắm nhìn. Cảnh đẹp nơi Trịnh phủ được miêu tả còn mang ý nghĩa hiện thực phản ánh cuộc sống xa hoa của bọn vua chúa thời Lê – Trịnh, cảnh giàu sang “khác hẳn người thường”.

Phương tiện đi lại của vua chúa là hai cái kiệu; đồ nghi trượng đều sơn son thiếp vàng. Thứ để ngồi và nằm là một cái sập thiếp vàng, trên sập mắc một cái võng điều đỏ. Xung quanh cái sập bày bàn ghế vô cùng quý giá, sang trọng làm cho ông thầy thuốc phải tấm tắc và cảm thấy “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”.

Thế tử – con bệnh – là con Trời, mới lên 5, 6 tuổi mặc áo lụa đỏ, ngồi trên cái sập thiếp vàng. Bên cạnh sập đặt một cái ghế rồng sơn son thiếp vàng, trên ghế bày nệm gấm. Lê Hữu Trác phải đi qua năm, sáu lần trướng gấm mới đến được nơi thế tử ngồi để “lạy bốn lạy” trước và sau khi khám bệnh. Nơi nội cung, đèn sáp chiếu sáng, sau chiếc màn là cung nhân đứng xúm xít, “mặt phấn, màu áo đỏ”. Cả một không gian “lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”. Thật đúng “Cả trời Nam sang nhất là đây!”

Vua chúa và bọn quan lại trong phủ chúa ăn uống như thế nào? Tại điếm “Hậu mã” lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong cuộc đời, vị đại danh y được ăn một bữa cơm ngon nhớ mãi. Tuy chỉ được quan Chánh đường “san mâm cơm cho ăn” nhưng “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ”. Ông thầy thuốc mà danh tiếng “như sấm động” đã suy nghĩ và nói: “Tôi bây giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”.

Chốn đế đô cung cấm là nơi “lính nghìn cửa vác dòng nghiêm nhặt”. Lê Hữu Trác chỉ mới được đặt chân tới một vài cung điện, mới tiếp xúc một vài cảnh, một số ít người, nhưng ông đã nêu bật được cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của vua chúa thời Lê – Trịnh. Cuộc sống đế vương được xây dựng trên mồ hôi xương máu của nhân dân, mọi thứ của ngon vật lạ do người lao động cả nước làm ra bị tước đoạt cho một số ít người hưởng thụ. “Cơm ngự thiện bữa nghìn quan” xưa nay đều thế! Tác giả “Thượng kinh kí sự” có một lối viết rất hiện thực và ấn tượng, mọi chi tiết được ông nói đến rất sống động.

Lê Hữu Trác vốn dòng dõi thế tộc thời Lê, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, trong cấm thành chỗ nào cũng đã từng biết, nhưng Trịnh phủ thì “ông mới nghe nói thôi”, lần đầu đi vào ông choáng ngợp như bước vào cảnh thần tiên:

“Quê mùa cung cấm chưa quen, Khác gì ngư phủ Đào nguyên thuở nào!”.

Coi thường danh lợi, ông đã vào tận Hương Sơn, Hà Tĩnh sinh sống, chuyên tâm nghề y, lấy chữa bệnh cứu người làm lẽ sống. Vì có tài, tiếng tăm như sấm động nên có thánh chỉ triệu vào cung chữa bệnh cho thế tử. Ông viết một cách hóm hỉnh về cái bả công danh: “Cáng chạy như ngựa lồng, tôi bị xóc một mẻ, khổ không nói hết”. Nửa thế kỉ sau, Cao Bá Quát chua chát viết: “ơn vua kèm theo sấm sét!”.

Tiếp xúc với cảnh và người nơi Trịnh phủ, Lê Hữu Trác có lúc mất tự nhiên, có lúc sợ sệt, hoặc “cúi đầu” hoặc “liếc mắt nhìn”. Lúc xem mạch thì “khúm núm” phải hai lần vái lạy một đứa bé độ 5,6 tuổi, mỗi lần bốn lạy!

Lúc kê đơn là một cuộc tự đấu tranh tư tưởng diễn ra vô cùng gay gắt xung quanh vấn đề danh lợi, y đức và chữ nhàn. Ông nghĩ: “Nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được”, về núi để được sống tự do, thảnh thơi, chan hoà với thiên nhiên. “Lưng không uốn, lộc nên từ là thế!”

Lương tâm bậc danh y lại nhắc nhở ông “phải dốc hết cả cái lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của ông cha mình mới được”. Cái lòng thành mà ông nói đến là lương y như từ mẫu, là y đức coi việc chữa bệnh cứu người là lẽ sống cao đẹp. Vì thế, mặc dù quan Chánh đường có gợi ý nên dùng những vị thuốc “phát tán mới xong”, mặc dù có năm, sáu vị lương y của sáu cung, hai viện đang ngày đêm chầu chực xung quanh con bệnh, nhưng Lê Hữu Trác vẫn có chủ kiến riêng, lập luận riêng của mình:

“Tôi thấy thánh thể gầy, mạch lại tế, sác. Thế là âm dương đều bị tổn hại, nay phải dùng thuốc thật bổ để bồi dưỡng tì và thận, cốt giữ cái căn bản tiên thiên và làm nguồn gốc cho cái hậu thiên…”.

Qua đó, ta thấy tài năng và đức độ của Lê Hữu Trác, một đại danh y coi thường danh lợi, sống thanh bạch, thích nhàn, lấy việc trị bệnh cứu người, đạt lên trên hết, lên trước hết. Biệt hiệu “Lãn Ông” thật giàu ý nghĩa: ông già lười, lười làm quan và biếng danh lợi.

Đoạn văn ” Vào phủ chúa Trịnh” thật hay và thú vị, ta cảm thấy như được tác giả dẫn đi xem cung điện Thăng Long thời Lê – Trịnh. Đoạn văn cũng như toàn tác phẩm ” Thượng kinh kí sự” vừa có giá trị văn chương vừa giàu giá trị lịch sử. Đoạn văn rất giàu tính hiện thực, phản ánh chân thực cảnh vàng son nơi Trịnh phủ và cuộc sống xa hoa, phú quý của vua chúa, quan lại thời Lê – Trịnh. Cách viết của Lãn Ông rất đặc sắc hấp dẫn. Vừa tả, vừa kể, vừa lồng ý nghĩ cảm xúc, rất chân thực, hóm hỉnh. Ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ cung đình, ngôn ngữ chuyên môn về y học được tác giả sử dụng rất sáng tạo, biến hoá.

“Vào phủ chúa Trịnh“, đoạn kí sự giàu chất thơ đã phản chiếu vào một tâm hồn đẹp, một nhân cách cao quý.

Phân tích Vào phủ Chúa Trịnh – Bài số 2:

Lê Hữu Trác là nhà y học, nhà văn nhà thơ lớn cuối thế kỉ XVIII. Trong sự nghiệp sáng tác văn học, tác phẩm “Thượng kinh kí sự” là tác phẩm nổi bật nhất của ông. Tác phẩm đã phơi bày hiện thực đời sống xã hội cuối thế kỉ XVIII, đặc biệt là đời sống xa hoa trong phủ chúa. Tất cả những nét vẽ đó đã phác họa đầy đủ qua đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”.

Mở đầu tác phẩm, tác giả thuật lại nguyên nhân phải vào phủ Chúa, thời gian được ghi lại hết sức chi tiết, tỉ mỉ: “Mồng 1 tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở…. Có thánh chỉ triệu cụ vào….”. Và tiếp đó là khung cảnh trong phủ chúa lần lượt hiện ra dưới sự quan sát tỉ mỉ, kĩ lưỡng của tác giả.

Con đường vào phủ phải đi qua nhiều lần cửa, những hành lang quanh co nối nhau liên tiếp, ở mỗi cửa đều có người canh gác, khi ra vào phải có thẻ, khung cảnh hết sức nghiêm trang, được bảo mật kĩ càng. Không chỉ vậy dưới con mắt của Lê Hữu Trác ông còn tinh mắt nhận ra “đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm; gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Trước khung cảnh đó tác giả đã nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường”. Lời nhận xét hết sức bình thản của tác giả nhưng đã phần nào bộc lộ thái độ phê phán trước cuộc sống xa hoa, hưởng lạc nơi đây.

Nhưng khung cảnh càng trở nên choáng ngợp khi bước vào sâu trong phủ chúa, “những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ” mà ông chưa từng thấy lần lượt hiện ra trước mặt. Đồ vật sử dụng trong phủ chúa cũng hết sức đẹp dẽ, xa hoa: đồ nghi trượng đều được sơn son thếp vàng, trướng gấm, quyển bồng,… đây đều là những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy, khiến Lê Hữu Trác “chỉ dám ngước mắt nhìn rồi lại cúi đầu đi”. Cảnh phủ chúa vô cùng tráng lệ, lộng lẫy, không đâu sánh bằng, đây chính là biểu hiện của cuộc sống xa hoa, cầu kì khác với cuộc sống đời thường. Song khung cảnh vàng son này lại tù hãm thiếu sinh khí và ngột ngạt. Khung cảnh khiến ta liên tưởng đến Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ với câu nhận xét: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường”. Khung cảnh đó cũng là sự báo hiệu của đời sống trụy lạc của xã hội, triều đại đã đi vào mạt vận và chẳng bao lâu nữa sẽ đến hồi diệt vong.

Trước cuộc sống xa hoa, nhưng yếm khí đó ngay lập tức tác giả đã chuẩn đoán được chính xác căn nguyên căn bệnh mà Thế tử mắc phải: “ở trong trốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”. Quả thật lời chuẩn đoán của ông vô cùng chính xác, do cuộc sống thừa thãi về vật chất mà lại thiếu đi sự vận động, sống trong không gian tăm tối, ngột ngạt, thiếu khí trời khiến cho phủ tạng ngày càng yếu, người ngày một gầy mòn. Nhưng khi bắt bệnh xong ông rơi vào tình thế khó xử, tin vào khả năng chữa bệnh của mình nhưng sợ bị danh lợi ràng buộc, không tiếp tục cuộc sống tự do tự tại, ẩn dật mà ông yêu thích nữa; nếu không chữa sẽ không đúng với lương tâm người thầy thuốc. Và cuối cùng ông đã quyết định làm theo đúng lương y của người thầy thuốc, khám và chữa bệnh cẩn thận cho thế tử. Qua đó ta thấy người Lê Hữu Trác là một lương y có tay nghề cao và tâm sáng luôn hết lòng vì người bệnh, đồng thời ông cũng là một người coi thường danh lợi.

Đoạn trích đã cho thấy tài năng nghệ thuật đặc sắc trong ngòi bút kí sự của Lê Hữu Trác. Nghệ thuật miêu tả, ghi chép rõ nét, trung thực, tạo sự tin cậy nơi người đọc. Lựa chọn chi tiết tiêu biểu, ấn tượng qua quang cảnh phủ chúa, hình ảnh thế tử,… tất cả đều ngầm lên án, phê phán cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa. Kết hợp hài hòa giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo nên sự cuốn hút và tăng giá trị hiện thực cho tác phẩm. Giọng điệu châm biếm, hài hước nhẹ nhàng kín đáo cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

Qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh, Lê Hữu Trác không chỉ vẽ nên cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa với cung cách sinh hoạt hết sức rườm rà, cuộc sống đầy yếm khí ở nơi đây. Nhưng đồng thời sau những dòng chữ ấy còn cho thấy những nỗi niềm, cảm xúc của tác giả trước lối sống giàu sang, phú quý và tấm lòng, nhân cách cao cả của một bậc lương y.

Phân tích Vào phủ chúa Trịnh – Bài số 3:

Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác không chỉ là một danh y nổi tiếng, mà còn là một tác giả có nhiều tác phẩm văn học có giá trị thời trung đại. Lê Hữu Trác để lại cho đời một sự nghiệp y học đồ sộ, nổi bật hơn cả là bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh được coi là bách khoa toàn thư về y học thế kỉ XVIII. Các tác phẩm của ông không chỉ có giá trị về y học mà còn mang nhiều giá trị văn học sâu sắc vì đã ghi lại cảm xúc chân thật cùng như bộc lộ tâm huyết, đức độ của người thầy thuốc. Thượng kinh kí sự là tập kí sự nổi tiếng trong cuộc đời Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh.

“Vào phủ chúa Trịnh” là một đoạn trích được rút ra từ ” Thượng kinh kí sự” của tác giả Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác. Tác phẩm kể về cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh cũng như quyền uy thế lực nhà chúa cũng như những điều mắt thấy tai nghe nhân dịp được chúa Trịnh Sâm triệu vào chữa bệnh. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh không chỉ miêu tả cuộc sống xa hoa ở phủ chúa, mà còn thể hiện rõ nét tâm hồn và nhân cách của vị lương y tài hoa đức độ này.

Tác phẩm viết trong bối cảnh khi những vị quan thanh liêm đều tìm cách lui về ở ẩn giữ được lối sống thanh cao của mình. Chính vì những người tài giỏi thì thường chúa ghét vòng danh lợi họ chỉ giúp vua một thời gian rồi về ở ẩn với nhân dân giúp đỡ nhân dân trong cuộc sống hàng ngày. Bao nhiêu bậc nho sĩ, người tài. Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng vậy, chúng ta được biết đến ông là một người lười làm quan, biếng danh lợi. Về ở ẩn ông không những là một người thầy thuốc giỏi mà còn là một nhà văn. Trong tác phẩm ” Vào phủ chúa Trịnh ” này Lê Hữu Trác đã phê phán những thói ăn chơi xa đọa của bậc vua chúa. Nơi đây không khác gì cho những bậc thánh ở.

Đoạn trích ” Vào phủ chúa Trịnh ” ghi lại thời điểm sau khi Hải Thượng Lãn Ông vào kinh, đang tá túc tại nhà Quận Huy Hoàng Đình Bảo thì ông được mời vào phủ chúa Trịnh để xem bệnh cho Thế tử Cán. Đây là lần đầu tiên ông bước chân vào chốn thâm nghiêm này. Qua đây tác giả có cơ hội chiêm ngưỡng và chứng kiến sự giàu có xa hoa và cung cách làm việc nơi phủ chúa. Trước hết là quang cảnh trong phủ chúa Trịnh, đập ngay vào mắt tác giả là những quang cảnh của cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm. Quả thật đây là một nơi sang trọng bậc nhất thiên hạ. Bên cạnh đó vào phủ chúa phải trải qua biết bao nhiêu là cửa, sự trang nghiêm nơi đây thật sự khiến cho người ta rụt rè chân bước “Hậu mã quân thúc trực” để cho chúa sai việc. Không chỉ dừng lại đó bên trong cửa phủ thì có những “đại đường”, “quyền bổng”, “gác tía” với kiệu son, võng nghi lộng lẫy, tất cả mọi thứ đều được mạ vàng. Từ những chiếc cột cho đến những mâm bát chén cũng đều như được dát vàng. Cuộc sống ở đây quả thực xa hoa bậc nhất.

Sự sang trọng mà hiển diện trong phủ chúa được tác giả miêu tả và nhận xét là “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”. Khi tác giả bước chân đến nội cung của thế tử thì phải bước qua mấy lần trướng gấm. Trong căn phòng của thế tử cũng có nhiều thứ rất sang trọng mà người đời mấy ai được xem qua. Trướng gấm, những sập cũng sơn son thiếp vàng, ghế rồng hương hoa bay ngào ngạt. Sự giàu có của phủ chúa không thể nói hết trong một hai câu, có thể những gì viết ra chỉ lột tả hết một phần của sự nguy nga tráng lệ nơi đây. Cảnh tượng ấy thật sự là khiến cho người ta đau lòng vì khi nhân dân thì đang khổ sở với cuộc sống thì chúa cái người mà đứng ra cai quản lại có thể ăn chơi xa đọa trước những vất vả của nhân dân như vậy.

Không chỉ có quang cảnh ở đây lộ vẻ xa hoa mà ngay cả tới người hầu kẻ hạ cũng ra vào tấp nập “đầy tớ chạy trước hết đường”, rồi lại đến “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Lời nói của mọi người khi nhắc đến thế chúa và thế tử đều rất cung kính, lễ độ. Riêng với chúa Trịnh lúc nào cũng có những cung tần mĩ nữ xung quanh để hầu hạ. Chúa giống như những bậc thánh khiến cho tác giả cũng khó mà gặp mặt chúa mà chỉ làm theo chỉ dẫn để vào cung thăm bệnh cho thế tử Trịnh Cán mà thôi. Khi xem bệnh xong thì không được trao đổi với chúa mà phải viết giấy khai đưa lên. Còn riêng phần thế tử thì khi bị bệnh lại có rất nhiều tầm bảy, tám ngự y thúc tục vây quanh. Cung cách khám bệnh ở phủ chúa, những ngự y ở đây, muốn khám bệnh cho con chúa thì đều phải quỳ lạy dưới chân của một đứa bé. Không chỉ vậy mà người gọi chúa Trịnh là thánh thượng, các chữ “thánh” ấy phải chăng chúa Trịnh đang quá lạm dụng quyền hành của mình.

Những quan điểm của tác giả cũng được bộc bạch qua cách miêu tả quang cảnh và cung cách ở trong phủ chúa Trịnh. Những câu văn của tác giả như dửng dưng trước sự quyến rũ của giàu có xa hoa nơi đây và giọng điệu trong đoạn trích thể hiện thái độ không đồng tình mà lớn hơn là trái ngược với những gì lẽ ra một người cận thần mong muốn nhận bổng lộc nên làm. Qua cách nói mỉa mai châm biếm của tác giả, ta thấy: Sự lộng quyền của nhà chúa với quyền uy tối thượng và nếp sống hưởng thụ cực kỳ xa hoa của chúa Trịnh cùng gia đình; sự thật bù nhìn của vua Lê khi ấy.

Qua đoạn trích ” Vào phủ chúa Trịnh“, tác giả đã phơi bày cuộc sống xa hoa ở đây cũng như cung cách của con người trong phủ chúa. Sự xa hoa ấy không phải là một lời khen ngợi, ca ngợi sự nguy nga ở đây mà chính là nói lên sự thực sự tráng lệ đó là chính nhân dân khổ cực bị chúa bóc lột đến tận xương hay không.

-/-

Các bạn vừa tham khảo nội dung một số bài văn mẫu hay tuyển chọn phân tích đoạn trích Vào phủ Chúa Trịnh của Lê Hữu Trác. Để hiểu được cách triển khai một bài văn hoàn chỉnh với đề tài này, các em có thể tham khảo mẫu dàn ý phân tích đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh hoặc nội dung phần soạn bài Vào phủ chúa Trịnh đã học trên lớp.

Tâm Phương (Tổng hợp)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Đoạn Trích “Chí Khí Anh Hùng” Trong “Truyện Kiều” Của Nguyễn Du / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!