Đề Xuất 11/2022 # Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can / 2023 # Top 12 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân biệt quy định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

Cơ sở pháp lý: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Tiêu chí Khởi tố vụ án Khởi tố bị can

Đối tượng khởi tố Khởi tố về hành vi có dấu hiệu phạm tội.

Khởi tố người hoặc pháp nhân có hành vi phạm tội cụ thể.

Căn cứ khởi tố Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

Tố giác của cá nhân;

Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

Người phạm tội tự thú.

(Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra.

(Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Thẩm quyền ra quyết định khởi tố Có 04 cơ quan:

– Cơ quan điều tra;

– Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

– Viện kiểm sát;

– Hội đồng xét xử.

Có 03 cơ quan:

– Cơ quan điều tra;

– Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

– Viện kiểm sát.

Các giai đoạn ra quyết định khởi tố Có 04 giai đoạn có thể khởi tố:

– Giai đoạn khởi tố;

– Giai đoạn điều tra;

– Giai đoạn truy tố;

– Giai đoạn xét xử.

(Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Có 02 giai đoạn có thể khởi tố:

– Giai đoạn điều tra;

– Giai đoạn truy tố.

(Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Kết thúc khởi tố Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm). Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Mối liên hệ giữa quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can bởi sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can.

Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. (như  trường hợp bắt tội phạm quả tang)

Liên hệ với FBLAW theo thông tin sau:

Tel: 038.595.3737 – Hotline: 0973.098.987 Email: luatsu@fblaw.vn Địa chỉ: 45 Đàm Văn Lễ, phường Trường Thi, Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trân trọng ./.

Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can / 2023

Để khắc phục vấn đề trên, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 05) đã quy định về các trường hợp áp dụng hai chế định này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định trên của Thông tư liên tịch số 05 và so sánh với thực tiễn công tác, chúng tôi thấy nếu thực hiện như vậy, sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn và các hệ quả pháp lý phức tạp. Với mục đích trao đổi nhận thức và đóng góp ý kiến góp phần hoàn thiện các chế định pháp luật nêu trên, chúng tôi xin nêu một số vấn đề xung quanh việc áp dụng các quy định này để bạn đọc và đồng nghiệp tham khảo.

Tại Mục 8.2 của Thông tư quy định như sau: “Chỉ thay đổi quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp thay đổi tội danh. Không áp dụng việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố”. Và tại Mục 11.1 của Thông tư quy định: “Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can thì phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự… Cần lưu ý là không thay đổi quyết định khởi tố bị can trong trường hợp điều tra xác minh được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố đối với bị can”.

Theo chúng tôi, quy định như trên của Thông tư liên tịch số 05 là không những chưa đúng với quy định tại Điều 106 và 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự, mà còn làm nảy sinh những hậu quả pháp lý phức tạp khác. Trong thực tiễn quy định như vậy chỉ đem lại tác dụng không đáng kể cho hoạt động điều tra, đó là giảm bớt thao tác ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với một trong hai trường hợp cần thay đổi. Xin dẫn chứng như sau:

Tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự”. Khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can”.

Rõ ràng, căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố vụ án là tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra, căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố bị can là hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã khởi tố. Nội dung “không đúng” và “không phạm” mà các điều luật đề cập trong thực tiễn nằm ở một trong hai trường hợp là không đúng, không phạm về tội danh (tội danh khác) hoặc không đúng, không phạm về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng). Vì vậy, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, không chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội của bị can không đúng tội danh đã khởi tố, mà phải được áp dụng cả trong trường hợp hành vi phạm tội của bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố.

Mặt khác, quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can là căn cứ trực tiếp của nhiều quyết định và hoạt động tố tụng khác của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Vì vậy, khi các quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can bị thay đổi thì những quyết định cũng như các hoạt động tố tụng phát sinh từ các quyết định khởi tố cũ có thể bị mất đi hoặc thay đổi, cũng có thể phát sinh những quyết định và hoạt động tố tụng mới. Do vậy, việc thay đổi đúng và kịp thời các quyết định khởi tố vụ án cũng như quyết định khởi tố bị can có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự chính xác của các quyết định và hiệu quả của hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình điều tra vụ án.

Như vậy, nếu chỉ quy định thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can trong trường hợp thay đổi về tội danh (như quy định của Thông tư liên tịch số 05) là không đúng với tinh thần của các điều luật. Tuy nhiên, vấn đề trên sẽ là không đặt ra nếu như việc không thay đổi các quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định khởi tố bị can trong trường hợp hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố, không để lại những hậu quả pháp lý phức tạp sau đây:

Thứ nhất: Không có căn cứ xác lập hoặc huỷ bỏ quyền yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu của người bị hại (hoặc người đại diện…) cũng như quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

Để thấy rõ vấn đề trên, chúng ta xem xét các tình huống sau:

Tình huống 1: Theo yêu cầu và kết quả giám định thương tích của người bị hại, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án và bị can theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), nhưng sau khi trưng cầu giám định lại, thương tích của bị hại là 61%. Như vậy, hành vị của bị can đã phạm vào khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, nếu căn cứ quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can thì quyền tiến hành tố tụng (yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu) đối với vụ án là của người bị hại. Ngược lại, nếu căn cứ vào hành vi phạm tội của bị can thì quyền quyết định tiến hành tố tụng là của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Theo quy định của Thông tư liên tịch số 05, trường hợp này không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án.Tuy nhiên, nếu không thay đổi quyết định khởi tố vụ án sẽ không có căn cứ pháp luật để loại trừ quyền yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu của người bị hại. Đồng thời, cũng không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tình huống 2: Trong trường hợp ngược lại, vụ án được khởi tố theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự, nhưng kết quả trưng cầu giám định lại, thương tích của bị hại là 60%. Như vậy, hành vi phạm tội của bị can thuộc khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự.

ở tình huống này, lại nảy sinh vấn đề ngược lại và theo quy định của Thông tư liên tịch số 05, trường hợp này cũng không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án. Tuy nhiên, nếu không thay đổi quyết định khởi tố vụ án sẽ không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu của người bị hại. Đồng thời, cũng không có căn cứ pháp luật để loại trừ quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.

Thứ hai: Mâu thuẫn về căn cứ pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Đối với một hành vi phạm tội, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can phải thống nhất và là căn cứ pháp luật để áp dụng biện pháp ngăn chặn. Trong nhiều trường hợp bị can không phạm vào khoản như đã khởi tố mà không thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can, sẽ gây ra những mâu thuẫn pháp luật khi cần áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Trở lại tình huống 1 như đã nêu ở trên cho thấy: Hành vi của bị can phạm vào khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 5 năm tù và là tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị can có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, nếu áp dụng biện pháp này, sẽ nảy sinh mâu thuẫn là bị can chỉ bị khởi tố ở khoản 1, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 2 năm tù và theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì trường hợp này lại không được áp dụng biện pháp tạm giam.

Thứ ba: Phức tạp trong việc xác định thời hạn điều tra và việc chấp hành quy định về thời hạn điều tra.

Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: Trong quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng. Việc ghi rõ điều khoản của Bộ luật Hình sự trong quyết định khởi tố vụ án là căn cứ để xác định hành vi phạm tội bị khởi tố là tội phạm gì, thuộc loại nào (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) và đến lượt nó, loại tội phạm được xác định trong quyết định khởi tố vụ án sẽ là căn cứ để xác định thời hạn điều tra vụ án.

Thời hạn điều tra sẽ chi phối hoạt động tố tụng và là căn cứ để Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quyết định các vấn đề quan trọng khác như: Xác định thời hạn điều tra, tạm đình chỉ điều tra, kết thúc điều tra hoặc gia hạn thời hạn điều tra khi hết thời hạn điều tra.

Như vậy, nếu việc khởi tố vụ án không đúng khoản trong cùng một tội danh mà không được thay đổi sẽ nảy sinh một số vấn đề là: Nếu thời hạn điều tra vụ án được xác định theo tội phạm áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án, sẽ không phù hợp với hành vi phạm tội của bị can và ngược lại; đồng thời sẽ khó thống nhất trong việc xác định thời điểm hết thời hạn điều tra và có thể kéo theo những “trục trặc” khác giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, và vì vậy, làm giảm hiệu quả công tác của từng cơ quan cũng như quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan.

Ngoài những vấn đề trên, quy định đã nêu của Thông tư liên tịch số 05 còn có thể làm nảy sinh những vấn đề phức tạp trong việc xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra các cấp, cũng như việc đảm bảo quyền bào chữa của bị can trong trường hợp hành vi của bị can phạm vào tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, trong khi bị can chỉ bị khởi tố ở khoản nhẹ hơn. Đồng thời, với quy định như vậy đã tạo điều kiện cho tình trạng áp dụng pháp luật không đúng và phổ biến hiện nay là Cơ quan điều tra chỉ quyết định khởi tố vụ án cũng như khởi tố bị can theo điều của Bộ luật Hình sự chứ không ghi căn cứ theo khoản nào của điều luật ấy.

Những mâu thuẫn nêu trên, theo chúng tôi, sẽ không nảy sinh nếu trong hoạt động thực tiễn, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện đúng quy định tại Điều 106 và 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Vì vậy, chúng tôi đề nghị sửa đổi nội dung của Thông tư liên tịch số 05, theo hướng quy định phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can trong trường hợp thay đổi tội danh cũng như qua xác minh hành vi phạm tội của bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố./.

ThS. Huỳnh Quốc Hùng – Viện kiểm sát quân sự Trung ương

Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự / 2023

Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

Hưỡng dẫn về khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trong tố tụng hình sự quy định tại tại Điều 9 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ trưởng Bộ Công an Bộ Quốc phòng ban hành, cụ thể như sau:

1. Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định tại Điều 183, Điều 442 Bộ luật Tố tụng hình sự.

3. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa khởi tố về tội đó thì trước khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Ví dụ 1: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với A từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ví dụ 2: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định B còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

4. Không thay đổi quyết định khởi tố bị can khi quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can phạm vào khoản khác trong cùng tội danh, điều luật đã khởi tố đối với bị can.

5. Viện kiểm sát quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can khi đã yêu cầu bằng văn bản nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện. Trường hợp Viện kiểm sát khởi tố bị can thì việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát quyết định.

6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:

a) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó;

b) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;

d) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;

đ) Khi phát hiện bị can phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.

7. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát phát hiện thấy có cá nhân, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Ban biên tập phản hồi thông tin đến bạn.

Khởi Tố Bị Can Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022 / 2023

Khởi tố bị can theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Quyết định khởi tố bị can là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp theo hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.

Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

Cơ sở pháp lý:

Khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về khởi tố bị can

“Điều 179. Khởi tố bị can

1. Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

……..

5. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.

Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án.

Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.”

Khái niệm bị can

Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Một người hoặc pháp nhân sẽ tham gia tố tụng hình sự với tư cách là bị can khi đối với họ đã có quyết định khởi tố về hình sự.

Khái niệm khỏi tố bị can

Khởi tố bị can là hành vi tố tụng có ý nghĩa quan trọng, theo đó cơ quan có thẩm quyền, thường là cơ quan điều tra, sau khi tiến hành một số hoạt động điều tra đã có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội.

Quyết định khởi tố bị can là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp theo hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như hỏi cung bị can, tạm giam bị can để điều tra…

Nội dung trong quyết định khởi tố bị can

Quyết định khởi tố bị can ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự năm 2015; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.

Trường hợp bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết đinh khởi tố bị can phải ghi từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật hình sự năm 2015 được áp dụng.

Cơ quan phê chuẩn quyết định khởi tố bị can

Quyết định khởi tố bị can phải được Viện kiểm sát cùng cấp xét phê chuẩn. Do đó, trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan điều tra Viện kiểm sát cùng cấp đê xét phê chuẩn.

Các khởi tố bị can. Viện kiểm sát sau khi nhận được quyết định khởi tố bị can và tài liệu, phải nhanh chóng nghiên cứu hồ sơ, xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của quyết định khởi tổ bị can.

Trách nhiệm của viện kiểm sát nhận được quyết định khởi tố bị can

Trong thời hạn 03 ngày kê từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải ra một trong các hành vi tô tụng sau sau:

– Phê chuẩn quyết định khởi tổ bị can;

– Quyết định hủy bỏ quyết định khời tố bị can;

– Yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn.

Trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định khởi tổ bị can của Cơ quan điều tra thì phải nêu rõ lí do. Cơ quan điều tra có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo quy định tại khoản 2 điều 167 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.

Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm đảm bảo phát hiện chính xác và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Viện kiệm sát cũng có quyền quyết định khởi tố bị can trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra

Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố. Đồng thời với việc khởi tố bị can trong trường hợp này, Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.

Trách nhiệm của cơ quan điều tra

Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát

Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tổ bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can theo quy định tại điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản,…của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án.

Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bàn theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Khuyến nghị:

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!