Đề Xuất 12/2022 # Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2022 / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2022 / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2022 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

+ Cơ sở pháp lý: Được quy định tại Điều 127 BLTTHS năm 2015.

+ Điều kiện áp dụng:

– Áp giải: Áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.

Trong BLTTHS năm 2003 thì áp giải chỉ áp dụng đối với trường hợp là bị can, bị cáo, tuy nhiên trong BLTTHS năm 2015 mở rộng đối tượng áp dụng ngoài bị can, bị cáo còn có người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội (Điều 60, 61, khoản 1 Điều 126 BLTTHS năm 2015).

Dẫn giải có thể áp dụng đối với:

+ Thẩm quyền áp giải, dẫn giải:

BLTTHS năm 2003 chỉ quy định các cơ quan có thẩm quyền triệu tập bị can, bị cáo thì có quyền ra lệnh áp giải, dẫn giải, tuy nhiên trong BLTTHS năm 2015 mở rộng thẩm quyền triệu tập cụ thể thẩm quyền áp giải, dẫn giải bao gồm: Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.

+ Trình tự, thủ tục áp giải, dẫn giải:

– Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của BLTTHS năm 2015.

– Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của BLTTHS năm 2015.

Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.

– Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.

Tuy nhiên trong trường hợp người tạm giam trong các cơ sở giam giữ của lực lượng công an nhân dân nhưng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự khi áp giải, dẫn giải thủ tục quy định như thế nào? Ví dụ: Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện X tỉnh Y và bị cáo tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Đồng thời A phạm tội cố ý gây thương tích vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự khu vực 1 Quân khu 4, theo quy định khi áp giải bị cáo thì lực lượng Công an nhân dân áp giải với những bị cáo bị giam tại trại giam của lực lượng công an và do Tòa án nhân dân xét xử mà không áp giải những bị cáo do Tòa án Quân sự xét xử vì vậy, trong trường hợp này lực lượng áp giải của Quân đội không được áp giải vì bị cáo đang bị giam tại trại giam Công an nhân dân. Trường hợp này xử lý như thế nào?

Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn có thể giải quyết như sau:

Thứ nhất: Có thể thực hiện việc chuyển phạm nhân từ trại giam do Công an nhân dân quản lý sang trại giam do Quân đội quản lý. Thủ tục chuyển trại thực hiện theo quy định của pháp luật.

Thứ hai: Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án Quân sự làm công văn trích xuất gửi Công an tỉnh (Nơi đang giam giữ phạm nhân) sau khi Công an tỉnh đồng ý cho trích xuất thì lực lượng áp giải của Quân đội thực hiện việc áp giải, sau khi xét xử xong thì trả phạm nhân về trại giam đã trích xuất trước đó.

Lưu ý: – Trường hợp phạm nhân đang bị tạm giam tại trại giam do Công an tỉnh quản lý thì văn bản trích xuất gửi cho Công an tỉnh. Trường hợp trại giam do Bộ Công an quản lý thì văn bản trích xuất gửi cho Bộ Công an ra lệnh trích xuất.

– Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án thì lệnh trích xuất do Bộ công an quyết định. Trường hợp án chưa có hiệu lực đang bị tạm giam tại trại giam Công an tỉnh thì văn bản trích xuất gửi cho Công an tỉnh.

Phân Biệt Phá Sản Và Giải Thể Doanh Nghiệp / 2023

Một doanh nghiệp chấm dứt hoạt động khi bị giải thể, phá sản, chia lại doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp. Đồng thời, có nhiều người nhầm lẫn giữa giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp là một. Tuy nhiên đây là khái niệm hoàn toàn khác nhau về bản chất. Bài viết này sẽ giúp bạn phân biệt giải thể và phá sản doanh nghiệp.

Thủ tục giải thể doanh nghiệp và thủ tục phá sản doanh nghiệp đều là thủ tục khiến doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, và hai thủ tục này có sự khác biệt rõ rệt với nhau, cụ thể như sau:

Khái niệm

Giải thể doanh nghiệp là việc doanh nghiệp chấm dứt hoạt động theo ý chí của chủ doanh nghiệp hoặc của cơ quan có thẩm quyền và bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh.

Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản

Trường hợp thực hiện

Doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau đây:

Doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Thứ tự thanh toán tài sản

Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động

Các khoản nợ khác

Chi phí phá sản

Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và quyền lợi khác của người lao động

Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;

Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước

Khoản nợ phải thanh toán cho chủ nợ

LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ tạm ngừng kinh doanh tại Việt Nam

Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay

Những Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022 Về Áp Giải Và Dẫn Giải. / 2023

   Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về áp giải và dẫn giải.

Thứ ba – 08/05/2018 02:56

          Áp giải và dẫn giải là một biện pháp cưỡng chế để bảo đảm cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được diễn ra theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về biện pháp cưỡng chế (nằm trong Chương VII – Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế). Trong đó Điều 126 và Điều 127 quy định cụ thể áp giải và dẫn giải là một trong 4 biện pháp cưỡng chế và trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng để bảo đảm cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tuân thủ đúng pháp luật.

          Áp giải và dẫn giải được quy định tại Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

          “Điều 127. Áp giải, dẫn giải

          1. Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.

          2. Dẫn giải có thể áp dụng đối với:

          a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

          b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

          3. Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.

          4. Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

          5. Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

          Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.

          6. Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.”

          Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng hơn về đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải. Cụ thể là: biện pháp áp giải không chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng mà còn được áp dụng đối với người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội (điều 60, 61, khoản 1 điều 126 BLTTHS năm 2015); biện pháp dẫn giải không chỉ được áp dụng đối với người làm chứng mà còn có thể được áp dụng đối với người bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (trong các trường hợp cụ thể theo khoản 2 điều 127 BLTTHS năm 2015). Đặc biệt việc quy định có thể dẫn giải người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan, qua đó giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng khắc phục được khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác mà người bị hại từ chối giám định sức khỏe nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không cưỡng chế được, làm cho việc xử lý vụ án bị kéo dài hoặc đi vào bế tắc, tránh bỏ lọt tội phạm.

          Như vậy với việc quy định về áp giải, dẫn giải trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng áp dụng thuận tiện hơn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm. Thực tiễn quá trình giải quyết các vụ án hình sự vẫn có trường hợp bị hại từ chối giám định do nhiều nguyên nhân khác nhau mà không phải do bị hại tự nguyện nhưng trước các cơ quan pháp luật vẫn khai là tự nguyện.

          Tuy nhiên trên thực tế việc áp giải, dẫn giải là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải xem xét rất thận trọng, chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án. Mặt khác việc dẫn giải đối với “người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” cũng gặp khó khăn khi người bị hại đã chủ động không đi giám định theo yêu cầu của Cơ quan điều tra thì khi áp dụng biện pháp dẫn giải người bị hại có thể không chấp hành, hoặc bỏ trốn. Lúc này Cơ quan điều tra không còn biện pháp nào khác để áp dụng, qua đó việc xác minh tố giác tin báo về tội phạm cũng như việc điều tra vụ án bị kéo dài.

          Mặt khác: Điều 20 Hiến pháp năm 2013 và Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

          “Điều 20 Hiến pháp năm 2013

          1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

          2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

          …”

          “Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

          Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

          Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.”

          Vì vậy đề nghị liên ngành trung ương có hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, đặc biệt là trường hợp dẫn giải bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

 

Phạm Việt Hùng.

Phân Biệt Thẻ Xanh 2 Năm Và Thẻ Xanh 10 Năm / 2023

PHÂN BIỆT THẺ XANH 2 NĂM VÀ THẺ XANH 10 NĂM

Nói cách khác, ngoài việc chứng minh bạn là thường trú nhân qua thẻ xanh 10 năm, bạn phải chứng minh không bỏ rơi sự thường trú của mình qua nhiều yếu tố kèm theo. Nhiều trường hợp đã bị thu hồi thẻ xanh tại sân bay vì không đưa ra lý do chính đáng để thuyết phục được Nhân viên An Ninh Nội Địa. Cali Visa xin nêu ra những nội dung quan trọng mà thường trú nhân có điều kiện cần lưu ý sau đây:

Cách thức để có thẻ xanh 2 năm:

Thẻ xanh 2 năm được cấp theo 2 cách phổ biến sau đây: Thông qua việc kết hôn với công dân Mỹ hay thường trú nhân mà thời gian kết hôn chưa đủ 2 năm. Cho dù được cấp thẻ xanh 2 năm theo bất cứ cách nào, thì người có thẻ xanh 2 năm cũng phải đảm bảo tất cả các điều kiện theo Luật di trú để được cấp thẻ xanh 10 năm.

Những điều kiện cần có để được cấp thẻ xanh 10 năm:

Để được nộp đơn xin cấp thẻ xanh 10 năm, hôn nhân của bạn phải thuộc một trong các trường hợp sau:

Bạn phải đảm bảo việc hôn nhân vẫn còn tồn tại sau 2 năm kể từ ngày kết hôn đối với người vợ/chồng mà bạn đã đăng ký kết hôn.

Nếu bạn là đứa trẻ mà trước đó chưa có thẻ xanh 2 năm theo cha/mẹ bạn, thì nay khi nộp đơn xin thẻ xanh 10 năm, bạn có thể được thêm vào đơn xin cấp thẻ xanh 10 năm với cha/mẹ bạn.

Người có thẻ xanh 2 năm là người góa chồng/vợ nếu hôn nhân trước đó của bạn với người công dân Mỹ đã chết là thật.

Bạn có thẻ xanh 2 năm, và hôn nhân của bạn với người công dân Mỹ là thật nhưng bạn đã ly hôn trong thời gian 2 năm sống chung, thì bạn cũng được tự nộp đơn xin thẻ xanh.

Thủ tục nộp đơn để xin chuyển thẻ xanh từ 2 năm sang 10 năm:

Người có thẻ xanh 2 năm phải cùng người vợ/chồng là công dân Mỹ hay thường trú nhân của họ đồng ký tên trên đơn xin thẻ xanh 10 năm và nộp đến Sở Di Trú. Người có thẻ xanh 2 năm trong trường hợp này phải nộp đơn trong vòng 90 ngày trước ngày hết hạn của thẻ xanh 2 năm.

Nếu đã ly hôn với người vợ/chồng công dân Mỹ hay thường trú nhân, hay là góa vợ/chồng, hoặc là bị bạo hành, ngược đãi thì được tự nộp đơn xin thẻ xanh 10 năm. Người có thẻ xanh 2 năm trong trường hợp này có thể nộp đơn bất cứ lúc nào sau khi nhận được thẻ xanh 2 năm. Trong trường hợp này, bạn phải cung cấp chứng cứ chứng minh việc gặp kho khăn nếu bị trục xuất về Việt Nam.

Người có thẻ xanh 2 năm phải cùng người vợ/chồng là công dân Mỹ hay thường trú nhân của họ đồng ký tên trên đơn xin thẻ xanh 10 năm và nộp đến Sở Di Trú.

Đứa trẻ cũng được đứng chung đơn với người cha/mẹ để xin thẻ xanh 10 năm nếu đứa trẻ cũng nhận được thẻ xanh trong vòng 90 ngày kể từ ngày người cha/mẹ nhận được thẻ xanh 2 năm. Nếu đứa trẻ nhận được thẻ xanh 2 năm lâu hơn 90 ngày kể từ ngày người cha/mẹ nhận được thẻ xanh 2 năm, thì phải nộp đơn riêng để xin thẻ xanh 10 năm cho đứa trẻ.

Trong trường hợp nộp đơn trễ hạn, thì người xin thẻ xanh 10 năm phải có giải trình, kèm với chứng cứ chứng minh sự kiện bất khả kháng hay nguyên nhân khách quan dẫn đến việc không thể nộp đơn trong thời hạn quy định.

Thẻ xanh 2 năm không được phép gia hạn, và đương nhiên mất hiệu lực sau thời hạn 2 năm được cấp, bạn phải nộp đơn xin thẻ xanh 10 năm trong vòng 90 ngày trước ngày thẻ xanh 2 năm hết hạn. Thông thường, sau khi bạn nộp đơn xin thẻ xanh 10 năm, Sở Di trú sẽ gia hạn thời hạn cư trú của bạn thêm 1 năm để xem xét giải quyết việc cấp thẻ xanh 10 năm. Nếu Sở Di trú từ chối đơn xin thẻ xanh 10 năm, thì việc gia hạn 1 năm cũng sẽ tự động mất hiệu lực, và bạn tự nguyện rời khỏi nước Mỹ hoặc sẽ bị trục xuất về Việt Nam.

Bạn phải nộp đơn xin thẻ xanh 10 năm trong vòng 90 ngày trước ngày thẻ xanh 2 năm hết hạn.

Thẻ xanh 10 năm được cấp là để cho bạn sống và làm việc tại Mỹ một cách hợp pháp theo đúng Luật Di Trú Mỹ. Nếu bạn cứ đi về nhiều lần như vậy có thể bị xem là không có ý định cư trú thường xuyên ở Mỹ. Nói cách khác, ngoài việc chứng minh bạn là thường trú nhân qua thẻ xanh 10 năm, bạn phải chứng minh thời gian thường trú của mình qua nhiều yếu tố kèm theo. Nhiều trường hợp đã bị thu hồi thẻ xanh tại sân bay vì không đưa ra lý do chính đáng để thuyết phục được Nhân viên An ninh nội địa.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Biệt Áp Giải Và Dẫn Giải Theo Bltths Năm 2022 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!