Đề Xuất 11/2022 # Phạm Vi Các Loại Khiếu Kiện Hành Chính Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Tòa Án, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải / 2023 # Top 11 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Phạm Vi Các Loại Khiếu Kiện Hành Chính Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Tòa Án, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải / 2023 # Top 11 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phạm Vi Các Loại Khiếu Kiện Hành Chính Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Tòa Án, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phạm vi các loại khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án

Quy định trong pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) về phạm vi quyền KKHC của công dân, cơ quan, tổ chức là vấn đề rất quan trọng, vì trước hết và quan trọng nhất là nó thể hiện mức độ pháp luật bảo vệ công dân, cơ quan, tổ chức trước quyền lực công, đồng thời để công dân, cơ quan, tổ chức biết được mình có thể khởi kiện vụ án hành chính đối với những quyết đinh, hành vi gì của quyền lực công. Bên cạnh đó, cũng là cơ sở để Tòa án xác định đúng thẩm quyền của mình. Điều 28 “Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án” của Chương II “Thẩm quyền của Tòa án” của Luật TTHC năm 2010, có hiệu lực ngày 1/7/2011 thể hiện phạm vi này. Điều 28 quy định bốn loại khiếu kiện sau thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án: 1. Khiếu kiện quyết định hành chính (QĐHC), hành vi hành chính (HVHC); 2. Khiếu kiện về danh sách cử tri; 3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức; 4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.

       Để làm rõ phạm vi khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, chúng ta sẽ xem xét khái niệm và phạm vi bốn loại khiếu kiện này.

1.

Quyết định hành chính

,

hành vi h

à

nh chí

n

h

Đối tượng khởi kiện hành chính chủ yếu[1] là các QĐHC, HVHC. 

1.1. Quyết định hành chính  

Khái niệm “QĐHC” được Luật TTHC quy định (định nghĩa) như sau tại khoản 1 Điều 3 “Giải thích từ ngữ”: “QĐHC là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước (HCNN), cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Theo quy định này, khái niệm “QĐHC” có các đặc điểm sau:

a. Đặc điểm thứ nhất: QĐHC là quyết định cá biệt. Đặc điểm này thể hiện bằng các ý: quyết định về một vấn đề cụ thể, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể. Tuy nhiên, nếu thể hiện đặc điểm này theo chức năng pháp lý của quyết định cá biệt bằng công thức “đặt ra, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ cụ thể/hay các quan hệ pháp luật cụ thể” thì pháp lý hơn.

b. Đặc điểm thứ hai: Hình thức thể hiện của QĐHC là văn bản. Đặc điểm này thể hiện ở mệnh đề “QĐHC là văn bản…, quyết định về…”, được hiểu là văn bản chứa một quyết định.   

Ưu điểm của mệnh đề này chủ yếu thể hiện ở chỗ, bất cứ văn bản nào, dù dưới hình thức pháp lý hay không pháp lý (quyết định, công văn, kết luận, thông báo,…), như khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân  (TAND) tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTHC (Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP), nếu chứa “quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể” đều là QĐHC. Quy định như vậy nhằm bảo đảm quyền khởi kiện, nhất là trong thực tiễn nước ta đang rất phổ biến các QĐHC “trốn” dưới hình thức các loại văn bản không mang tính pháp lý như công văn, kết luận, thông báo… Quy định này cũng phù hợp với các quy định tương ứng của luật TTHC ở các nước phát triển.

Bên cạnh ưu điểm trên, mệnh đề “QĐHC là văn bản…, quyết định về…” lại có ba chỗ băn khoăn sau đây:

Một là, chúng ta hiểu rằng, Luật quy định như vậy là có ý rằng, chỉ những QĐHC thể hiện dưới hình thức văn bản mới thuộc phạm vi khiếu kiện hành chính (KKHC), còn các quyết định bằng miệng, còi, tín hiệu … không phải là QĐHC theo Luật TTHC nên không thuộc đối tượng khiếu kiện tại Tòa án. Nhưng quy định này đồng nhất “quyết định” với “văn bản”, mà đáng lẽ, theo lý luận về quyết định pháp luật, văn bản chỉ là một trong các hình thức của quyết định[2].

Hai là, cách hành văn “văn bản…, quyết định về…” dẫn đến cách hiểu rằng “văn bản” là danh từ, là chủ thể, “quyết định” là động từ, là hành động của chủ thể. Như vậy không đúng.

So với khái niệm “QĐHC” được quy định tại khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (Pháp lệnh 1996), Pháp lệnh năm 1998 sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh 1996 (Pháp lệnh 1998) và Pháp lệnh năm 2006 sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh 1996 (Pháp lệnh 2006) là “QĐHC là quyết định bằng văn bản”, tuy còn khiếm khuyết, nhưng đều không mắc hai khiếm khuyết đơn giản nói trên như của Luật TTHC. Ngay tại khoản 3 Điều 3 của Luật TTHC giải thích khái niệm “quyết định kỷ luật buộc thôi việc” lại viết theo kiểu khác: “Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định”. Như vậy, đều là những quyết định cá biệt nhưng quy định (định nghĩa) mỗi chỗ mỗi khác.

Ba là, qua phân tích trên, còn có nhận xét chung là trong quy định về hai khái niệm “QĐHC” và “quyết định kỷ luật buộc thôi việc” có sự lẫn lộn thuật ngữ “quyết định” với tư cách là một khái niệm với: một là, thuật ngữ “quyết định” là động từ (“quyết định về”); hai là, thuật ngữ “quyết định” với tư cách là hình thức pháp lý (“quyết định” theo tên gọi); và ba là, với hình thức thể hiện (bằng văn bản) của “quyết định”, dù với tư cách là hình thức pháp lý hay với tư cách là một khái niệm.    

       Ngoài ra, khái niệm “văn bản” cũng cần giải thích (Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP không giải thích). “Văn bản” là phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin. Theo ý nghĩa đó, từ xa xưa đã không chỉ có văn bản bằng giấy. Cách đây có lẽ đến hàng trăm năm đã thêm băng ghi âm, ghi hình, micro phim,…[3]. Nay chuyển sang thời đại công nghệ thông tin lại có văn bản điện tử. Liệu quyết định thể hiện bằng các loại văn bản đó có được gọi là “QĐHC” hay không ?      

c. Đặc điểm thứ ba: Chủ thể ban hành QĐHC là cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó. Vấn đề lớn ở đây là có thuật ngữ không xác định, không rõ là: “cơ quan, tổ chức khác”. Luật Khiếu nại năm 2011 (Luật Khiếu nại) tại khoản 8 Điều 2 cũng quy định (định nghĩa) khái niệm “QĐHC”[4] nhưng không có cụm từ “cơ quan, tổ chức khác”. Cũng cần nhớ rằng, trong các Pháp lệnh 1996, 1998 và 2006 (khoản 1 Điều 4) quy định (định nghĩa) khái niệm “QĐHC” không có cụm từ này; Pháp lệnh 1998 và 2006 thống nhất quy định chủ thể của QĐHC là các cơ quan HCNN, riêng Pháp lệnh 1996 kể tên các cơ quan cụ thể, bên cạnh các cơ quan HCNN còn có các cơ quan nhà nước khác. Vậy vì đâu lại nảy sinh cụm từ này? Theo giải thích tại khoản 9 Điều 3 thì: “Cơ quan, tổ chức bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân”. Nếu “cơ quan, tổ chức” được giải thích (định nghĩa) ở đây là “người khởi kiện” thì chính xác, không có gì để bàn. Nhưng nếu đó là “người bị kiện” thì hoàn toàn không phải. Vậy, định nghĩa “cơ quan, tổ chức” để làm gì, trong khi thuật ngữ “cơ quan, tổ chức khác” mới cần giải thích.

Theo quy định tại Điều 29, Điều 30 Luật TTHC về thẩm quyền của TAND cấp huyện, cấp tỉnh thì chỉ quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước sau đây là thuộc diện có thể bị khởi kiện ra Tòa án (cấp huyện và cấp tỉnh):

– cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan đó (khoản 1 Điều 29);

– cơ quan nhà nước trung ương là bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao (trừ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội) và người có thẩm quyền trong cơ quan đó (điểm a khoản 1 Điều 30);

– cơ quan thuộc một trong các cơ quan nhà nước quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó (điểm b khoản 1 Điều 30);

– cơ quan nhà nước cấp tỉnh và người có thẩm quyền trong cơ quan đó (điểm c khoản 1 Điều 30);

– cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó (điểm d khoản 1 Điều 30), (theo khoản 1 Điều 4 Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ngày 18/6/2009 thì cơ quan này là đại sứ quán).

Như vậy, “cơ quan, tổ chức khác” không gì khác hơn là “cơ quan nhà nước”, và chỉ các quyết định, hành vi của các cơ quan nhà nước quy định tại Điều 29 và Điều 30 mới thuộc đối tượng khởi kiện ra Tòa án. Như vậy, Điều 29 và Điều 30 lại mâu thuẫn với quy định tại khoản 1 Điều 3. Vậy điều nào là đúng?

Theo nội dung điểm a khoản 1 Điều 30, vì TAND tối cao, VKSND tối cao cũng thuộc số cơ quan trung ương có QĐHC là đối tượng khởi kiện hành chính, nên có thể suy ra rằng, trong số các cơ quan nhà nước địa phương thì TAND, VKSND địa phương cũng thuộc diện có thể có QĐHC bị kiện. Vậy Hội đồng nhân dân các cấp liệu có thể có “QĐHC” trong hoạt động hành chính bị kiện hay không? Nếu ý đồ của nhà làm luật là như vậy thì đó là một quan điểm cấp tiến, vì xưa nay nói đến “hành chính” người ta chỉ nói đến Ủy ban nhân dân. Nhưng điều này cần giải thích khẳng định rõ về khía cạnh quan hệ giữa chủ thể ra QĐHC và phạm vi hoạt động hành chính.

Luật Khiếu nại cũng quy định về khái niệm “QĐHC” (xem chú dẫn số 4) nhưng đơn giản, rõ ràng hơn, vì trong đoạn “cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó” chỉ chủ thể của Luật TTHC không có loại “cơ quan, tổ chức khác”, chỉ giới hạn phạm vi là “cơ quan HCNN hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN”.

Ngoài ra, rất cần lưu ý hướng dẫn tại khoản 2 Điều 1 và Điều 2 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP (hay Nghị quyết 04/2006/NQ-HĐTP trước đây)[5] về cách xác định ai là người chịu trách nhiệm đối với QĐHC và HVHC, theo đó, nếu quyết định, hành vi đó được pháp luật (cả pháp luật về thẩm quyền cơ quan và pháp luật chuyên ngành) quy định cho cơ quan hay cho chức danh cụ thể, thì trách nhiệm đối với quyết định hay hành động hoặc không hành động thực hiện hành vi đó luôn thuộc cơ quan hay chức danh cụ thể đã được pháp luật quy định, mà không phụ thuộc việc cơ quan hay người được pháp luật trao quyền đã ủy quyền cho cơ quan hay cho người cụ thể khác thực hiện.      

Quy định loại trừ thứ hai “các QĐHC, HVHC mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức” có chỗ chưa rõ. Khoản 4 Điều 3 Luật TTHC định nghĩa (giải thích): “QĐHC, HVHC mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”. Giải thích này lại đặt ra một cụm từ khác cần giải thích là “trong phạm vi cơ quan, tổ chức”? Cái cốt lõi có ý nghĩa cần giải thích là: đối tượng chịu sự tác động của quyết định, hành vi đó trực thuộc chủ thể có quyết định, hành vi đó, chứ không phải quyết định, hành vi đó được thực hiện trong trụ sở cơ quan, tổ chức hay ở ngoài phạm vi cơ quan, tổ chức. Luật Khiếu nại đưa loại quyết định này vào loại các khiếu nại không được thụ lý giải quyết tại Điều 11 (khoản 1) với cách quy định rõ hơn, vì không có cụm từ “trong phạm vi cơ quan, tổ chức”. Ngoài ra, các thuật ngữ khác ở đây cũng khác và chuẩn xác hơn quy định của Luật TTHC[7].

Dễ nhận thấy rằng, quy định liệt kê rõ ràng, cụ thể, còn quy định loại trừ, bên cạnh ưu điểm lớn là ngắn gọn, có tính khái quát cao, lại thường vấp phải nhược điểm là không rõ ràng, cụ thể, nếu không được giải thích một cách khoa học, chính xác bằng các quy định tiếp theo trong luật hay các văn bản giải thích. Nói riêng ở Luật TTHC cần giới hạn rõ hơn “hoạt động quản lý hành chính” cả về phạm vi và chủ thể thực hiện. Nói như vậy bởi vì khái niệm “hoạt động quản lý hành chính”, dù đã giới hạn theo kiểu loại trừ, nhưng vì là một khái niệm phức tạp, có phạm vi rất rộng và không xác định, vẫn cần giải thích cụ thể hơn. Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP (tại khoản 1 Điều 1), hướng dẫn rằng khái niệm “QĐHC” bao gồm cả quyết định được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ QĐHC như nói trên. Nhưng giải thích này là không đủ.

Kết hợp cả hai yếu tố chủ thể ban hành và phạm vi QĐHC có vấn đề khác cần bàn, đó là: giới hạn chủ thể QĐHC, HVHC là cơ quan nhà nước, giới hạn phạm vi QĐHC là “hoạt động quản lý hành chính” có hợp lý không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ xem xét hai vấn đề sau:

Một là, ban lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và hoạt động cung ứng “dịch vụ công” đã được chính thức đưa vào pháp luật nước ta mười mấy năm nay có cần đưa vào diện có thể bị khởi kiện vụ án hành chính hay không?

Suy ra từ các điều 29, 30 đã dẫn thì ban lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Chính phủ không nằm trong phạm vi khái niệm những “cơ quan nhà nước” có QĐHC và HVHC có thể bị kiện. Còn ban lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Ủy ban nhân dân các cấp có nằm trong khái niệm “cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện” hay không là vấn đề còn cần giải thích, vì đây chỉ là “cơ quan nhà nước có thẩm quyền nội bộ”. Nhưng điều này là khẳng định: khái niệm “hoạt động quản lý hành chính”/hay “hoạt động hành chính” khác hẳn khái niệm “dịch vụ công”, nên phạm vi “QĐHC” (và cả HVHC), theo khoản 1 Điều 3 là “hoạt động quản lý hành chính”, khác hẳn với đối tượng hoạt động cung ứng “dịch vụ công” (ở đây không xem xét hoạt động kinh doanh) của các đơn vị sự nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước. Vậy hoạt động cung ứng “dịch vụ công” có nên đưa vào đối tượng khởi kiện vụ án hành chính hay không, trong khi trên thực tế đây mới là “đối tượng nóng” vi phạm quyền công dân, cơ quan, tổ chức. Ở các nước có Tòa án hành chính phát triển, “dịch vụ công” là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quan trọng, nếu không nói là chủ yếu[8].

Hai là, hành vi từ chối công chứng, chứng thực có cần đưa vào diện có thể bị khởi kiện vụ án hành chính hay không?

Khoản 16 Điều 11 Pháp lệnh 2006 quy định “Khiếu kiện QĐHC, HVHC đối với việc từ chối công chứng, chứng thực” thuộc phạm vi giải quyết của vụ án hành chính. Nên lưu ý rằng, công chứng, chứng thực là hoạt động dịch vụ công, mà ở nước ta gọi là “dịch vụ hành chính công”, nên việc Pháp lệnh này gọi đó là “QĐHC, HVHC” là chưa chính xác. Nhưng nếu loại khiếu kiện này, theo quan điểm của Luật TTHC, vẫn thuộc phạm vi khởi kiện vụ án hành chính (như vậy là phù hợp), thì ví dụ này thêm một lần nữa cho thấy việc giới hạn đối tượng khởỉ kiện chỉ là “QĐHC, HVHC”, chủ thể thực hiện chúng chỉ là “cơ quan nhà nước” và phạm vi chỉ là “hoạt động quản lý hành chính” là không phù hợp. Bởi vì, theo Điều 24, 26 Luật Công chứng năm 2006, Phòng Công chứng là đơn vị thuộc Sở Tư pháp, nhưng chỉ là đơn vị sự nghiệp, hơn nữa Văn phòng Công chứng chỉ là một loại hình doanh nghiệp tư nhân.

Tóm lại, thuật ngữ “cơ quan, tổ chức khác” trong Luật TTHC (khoản 1 Điều 3 “Giải thích từ ngữ”) là đầy mâu thuẫn, nhưng sẽ là “mâu thuẫn tốt đẹp” nếu nó có ý đồ bao hàm cả hoạt động cung ứng dịch vụ công của các đơn vị sự nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước. Tuy vậy, dù là “mâu thuẫn tốt đẹp” nhưng đã là luật thì phải chính xác, vì vậy, cần giải thích rõ “cơ quan, tổ chức khác” ở đây bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ công. Như vậy, thực tiễn xét xử các khiếu kiện loại này mới có cơ sở pháp lý chắc chắn. 

1.2. Hành vi hành chính  

Khái niệm “HVHC” được quy định (giải thích) như sau tại khoản 2 Điều 3 Luật TTHC: “HVHC là hành vi của cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”. Theo quy định này, khái niệm “HVHC” có các đặc điểm sau:

a. Đặc điểm thứ nhất: HVHC là hành động hoặc không hành động (thực hiện hoặc không thực hiện). Như vậy là đúng với khái niệm “hành vi” trong lý luận pháp luật và thực tiễn. Khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh 1996 và Pháp lệnh 2006 đã quy định như vậy, nhưng Pháp lệnh 1998 thì không.

b. Đặc điểm thứ hai: Chủ thể thực hiện HVHC là cơ quan HCNN, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó. Ở đây cũng có thuật ngữ “cơ quan, tổ chức khác” cần làm rõ như đã xem xét ở trên. Cũng cần lưu ý rằng, Luật Khiếu nại tại khoản 8 Điều 2 giải thích khái niệm “HVHC” không có cụm từ “cơ quan, tổ chức khác” và điều này là hợp lý.

c. Đặc điểm thứ ba: Phạm vi HVHC là “thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. Dùng thuât ngữ “thực hiện nhiệm vụ, công vụ” phải chăng muốn nói cơ quan nhà nước thì thực hiện nhiệm vụ, còn người có thẩm quyền trong cơ quan đó thì thực hiện công vụ. Vậy chắc rằng “cơ quan, tổ chức khác” thì “thực hiện nhiệm vụ”. Nhưng một câu hỏi khác nảy sinh là “nhiệm vụ, công vụ” này có thuộc phạm vi “hoạt động quản lý hành chính” như QĐHC hay không ? Nếu có thì tại sao không chỉ rõ luôn trong quy định trên; nếu không thì gọi là “HVHC” có phù hợp không? 

1.3. Tóm lại, từ những phân tích trên về hai khái niệm “QĐHC”, “HVHC” được quy định trong Luật TTHC, ngoài những thuật ngữ còn nhiều băn khoăn như quyết định là văn bản, cách diễn đạt…, thì còn vấn đề khác là hai khái niệm cơ bản này của Luật TTHC và Luật Khiếu nại vênh nhau về rất nhiều nội dung quan trọng, tuy ban hành chỉ cách nhau không lâu. Đây dù là hai luật khác nhau, nhưng điều chỉnh về hai công đoạn của một vấn đề là bảo đảm quyền khiếu nại và khởi kiện của công dân, cơ quan, tổ chức, do đó, bản chất pháp lý của hai công đoạn đó, theo chúng tôi, là như nhau. Vì vậy, theo chúng tôi, hai khái niệm cơ bản của hai luật này là “QĐHC”, “HVHC” cần phải được thống nhất.

Ngoài ra, rất cần thiết có quan điểm cụ thể về những dịch vụ công nào và tổ chức dịch vụ công nào mà quyết định và hành vi của chúng cần đưa vào diện có thể khởi kiện hành chính, bởi vì quan niệm diện đó chỉ bao gồm QĐHC, HVHC của cơ quan nhà nước là không đủ và không phù hợp nhu cầu thực tiễn dưới góc độ bảo vệ quyền của công dân, cơ quan, tổ chức.

2

. Khiếu kiện về danh sách cử tri, quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với

công chức và quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Nói chung các loại khiếu kiện này được Luật TTHC quy định khá rõ ràng, tuy cũng cần có một số giải thích và nhận xét ngắn.  

2.1. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Loại khiếu kiện này được quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật TTHC.

2.2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống

Loại khiếu kiện này được quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật TTHC. Khoản 3 Điều 3 “Giải thích từ ngữ” của Luật TTHC quy định (định nghĩa): “Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức thuộc quyền quản lý của mình”. Quyết định kỷ luật buộc thôi việc thực ra là một loại trừ nằm trong loại trừ ở khoản 1 Điều 28: là quyết định mang tính nội bộ, nhưng do tính đặc thù của nó nên Luật đưa vào diện đối tượng khởi kiện.

Quyết định kỷ luật buộc thôi việc nói ở đây có các đặc điểm sau:

a.       Là một quyết định cá biệt;

b.    Hình thức pháp lý (tên gọi) là “quyết định”;

c.    Hình thức thể hiện là văn bản;

d.       Chủ thể ban hành quyết định chỉ là người đứng đầu cơ quan, tổ chức;

e.    Đối tượng áp dụng là công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống thuộc quyền quản lý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.

Trước đây, các pháp lệnh chỉ điều chỉnh quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, nay đã mở rộng lên. Trong các pháp lệnh thì riêng Pháp lệnh 1996 không quy định về loại đối tượng “quyết định kỷ luật” hay “quyết định kỷ luật buộc thôi việc”. Như vậy cũng đúng, vì mọi quyết định kỷ luật công chức chỉ là một loại QĐHC xét về mọi dấu hiệu. Nhưng Luật TTHC quy định riêng khái niệm “quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức” là nhằm giới hạn loại quyết định kỷ luật này được khởi kiện hành chính, khác với Luật Khiếu nại quy định đối tượng khởi kiện là “quyết định kỷ luật” nói chung. Điều này là hợp lý, vì nếu mọi quyết định kỷ luật mà kiện ra Tòa án cả thì Tòa án không thể kham nổi. Mặt khác, đây là loại quyết định gây thiệt hại lớn nhất đến quyền lợi của công chức.

Tuy vậy, quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật TTHC đã dẫn trên cũng chưa hoàn chỉnh, vì:

Một là, quy định (định nghĩa) này cũng sa vào lối “quyết định… là văn bản” như giải thích về “QĐHC” đã nói trên. Cũng cần lưu ý rằng, Luật Khiếu nại tại khoản 10 Điều 2 giải thích khái niệm “quyết định kỷ luật”[10] đã thay cụm từ “quyết định… là văn bản” bằng cụm từ “quyết định bằng văn bản”, tuy không hoàn toàn chính xác, nhưng vẫn hợp lý hơn. Hai khái niệm của hai luật không là một (vì Luật Khiếu nại quy định về “quyết định kỷ luật”, còn Luật TTHC quy định về “quyết định kỷ luật buộc thôi việc”), nhưng quyết định kỷ luật buộc thôi việc là một loại quyết định kỷ luật, nên về khái niệm chung cần thống nhất. Tương tự, tuy Luật TTHC ngụ ý “quyết định kỷ luật buộc thôi việc” khác “QĐHC”, nhưng cả hai đều có gốc là khái niệm “quyết định”, nên cách viết ở khoản 3 Điều 3 và khoản 1 Điều 3 của Luật này về khái niệm này đáng lẽ nên thống nhất để tránh “loạn cách thể hiện”.

Hai là, cần lưu ý thêm rằng, trong lý luận về quyết định pháp luật có hai hình thức của quyết định như đã nói ở mục 2.1.b. Ngoài ra, cũng như ở trên đã nói, cần phân biệt “quyết định” với tư cách một khái niệm pháp lý với “quyết định” với tư cách một hình thức pháp lý và với các hình thức thể hiện của quyết định. Vì vậy, thay vì viết “quyết định kỷ luật buộc thôi việc là văn bản thể hiện dưới hình thức quyết định” nên viết “quyết định kỷ luật buộc thôi việc thể hiện dưới hình thức văn bản” cho chuẩn xác hơn.

 Bốn là, quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với viên chức có nên là đối tượng của KKHC hay không? Theo Điều 78 Luật Cán bộ, công chức thì đối với cán bộ không còn hình thức kỷ luật buộc thôi việc (Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 thì có). Như vậy là đúng, vì cán bộ là người được bầu, nên tương ứng với buộc thôi việc chỉ là bãi nhiệm. Nhưng đối với viên chức thì có hình thức kỷ luật buộc thôi việc (Điều 52 Luật Viên chức năm 2010). Chế độ pháp lý của viên chức và công chức vốn trước đây rất giống nhau, đều phục vụ nhà nước và xã hội, chỉ gần đây khi có Luật Viên chức 2010 mới tách riêng và tuy tách riêng nhưng cơ bản vẫn giống nhau. Vì vậy, có lẽ đây là vấn đề cần nghiên cứu quy định bổ sung, vì nếu không thì viên chức sẽ kiện đi đâu? 

2.3. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

       Loại khiếu kiện này được quy định tại khoản 4 Điều 28 Luật TTHC.

Vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, gồm hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh. Căn cứ Điều 115 và cả mục 7 Chương V của Luật Cạnh tranh, theo hướng dẫn của Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP (khoản 3 Điều 1), loại này bao gồm:

Theo thống kê của ngành Toà án, từ khi Pháp lệnh 2006 quy định về loại khiếu kiện này (khoản 16 Điều 11) cho đến nay, có rất ít quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh được khởi kiện ra Toà án theo thủ tục TTHC[11]. Bên cạnh đó, trong Luật Cạnh tranh còn quy định về nhiều loại quyết định và hành vi đáp ứng đầy đủ các đặc điểm của QĐHC, HVHC có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho lợi ích của doanh nghiệp nhưng không được quy định là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, ví dụ: các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước (Điều 6); quyết định kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước… (Điều 15); văn bản trả lời về việc tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm (Điều 23); quyết định việc miễn trừ (Điều 25);… Như vậy, các cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh có thể ra nhiều loại quyết định cá biệt để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Luật Cạnh tranh, nhưng khi khoản 4 Điều 28 Luật TTHC quy định chỉ một loại khiếu kiện này, tức là đã giới hạn phạm vi quyền khởi kiện các QĐHC trong lĩnh vực quản lý nhà nước về cạnh tranh. Như vậy, quy định này hoá ra lại mâu thuẫn với quy định loại trừ tại khoản 1 Điều 28 đã phân tích trên.

[1]

Nói QĐHC

, HVHC chỉ là

đối tượng xét xử chủ yếu của vụ án hành chính

, vì:

Một là, còn các khiếu kiện quy định ở các khoản 2, 3, 4 Điều 28 mà theo cách viết của luật thì các khiếu kiện này không phải là QĐHC;  

[2] Cụ thể hơn về vấn đề này, có thể xem các bài của cùng Tác giả: Về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11, 1998; Trở lại khái niệm văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4, 2007; …

[7] Luật Khiếu nại tại Điều 11 (khoản 1) quy định: QĐHC, HVHC trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; QĐHC, HVHC trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới.

 

PGS,TS. Nguyễn Cửu Việt – Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Quy Trình:giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Về Quyết Định Hành Chính, Hành Vi Hành Chính Của Công Dân Với Ll Cand Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Ca Cấp Huyện / 2023

QUY TRÌNH: Giải quyết khiếu nại lần hai về quyết định hành chính, hành vi hành chính của công dân với lực lượng Công an nhân dân thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an cấp huyện.

MỤC LỤC

SỬA ĐỔI TÀI LIỆU

1. MỤC ĐÍCH

2. PHẠM VI

3. TÀI LIỆU VIỆN DẪN

4. ĐỊNH NGHĨA/VIẾT TẮT

5. NỘI DUNG QUY TRÌNH

6. BIỂU MẪU

7. HỒ SƠ LƯU

1. MỤC ĐÍCH

Quy định nội dung, trình tự và trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại lần hai về quyết định hành chính, hành vi hành chính của công dân với lực lượng Công an nhân dân thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an cấp huyện.

– Áp dụng trong việc giải quyết khiếu nại lần hai về quyết định hành chính, hành vi hành chính của công dân với lực lượng Công an nhân dân thuộc thẩm quyền giải quyết của Công an cấp huyện.

– Lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ, chiến sĩ Công an cấp huyện thực hiện quy trình này.

– Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015.

– Mô hình khung Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2015 trong Công an nhân dân.

– TNTKQ: Tiếp nhận và trả kết quả.

– TTHC: Thủ tục hành chính.

5. NỘI DUNG QUY TRÌNH

1. Luật Khiếu nại (Luật số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011).

2. Nghị định số 75/2012/NĐ-CP, ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại

3. Thông tư số 68/2013/TT-BCA, ngày 26/12/2013 của Bộ Công an hướng dẫn xử lý khiếu nại, kiến nghị, phản ánh; giải quyết khiếu nại và quản lý công tác giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân.

4. Thông tư số 11/2015/TT-BCA, ngày 02/3/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân.

Thực hiện đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 và Điều 11 Luật Khiếu nại và đảm bảo các nội dung:

– Người khiếu nại phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình khiếu nại.

– Người khiếu nại phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; trong trường hợp thông qua người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì người đại diện phải theo quy định tại Điều 12, Điều 16 Luật khiếu nại.

– Người khiếu nại phải làm đơn khiếu nại và gửi đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn, thời hiệu theo quy định của Luật Khiếu nại.

– Việc khiếu nại chưa có quyết định giải quyết lần hai.

– Việc khiếu nại chưa được toà án thụ lý để giải quyết.

Thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn, thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.

– Bộ phận một cửa Công an cấp huyện.

– Nộp hồ sơ qua dịch vụ bưu chính.

Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ ngày nghỉ lễ, tết)

Tiếp nhận đơn khiếu nại:

Cán bộ tiếp công dân

Giờ hành chính

Thụ lý giải quyết khiếu nại: Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền phải thụ lý giải quyết và thông báo về việc thụ lý giải quyết; trường hợp không thụ lý giải quyết phải thông báo rõ lý do.

Trưởng Công an cấp huyện

10 ngày làm việc

Mẫu số 12: Thông báo về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại;

Mẫu số 13: Thông báo về việc thụ lý giải quyết khiếu nại

Xác minh nội dung khiếu nại: Trong thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai theo quy định tại Điều 37 Luật khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại căn cứ nội dung, tính chất của việc khiếu nại, tự mình tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại và kiến nghị giải quyết khiếu nại.

Việc xác minh nội dung khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Khoản 2, 3 và 4 Điều 29 Luật Khiếu nại và Điều 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 16 Thông tư số 11/2015/TT-BCA, ngày 02/3/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân.

Trưởng Công an cấp huyện hoặc người có trách nhiệm xác minh

Mẫu số 14: Quyết định về việc xác minh nội dung khiếu nại;

Mẫu số 17: Quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại;

Mẫu số 18: Báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại;

Mẫu số 25: Quyết định về việc gia hạn thời gian xác minh nội dung khiếu nại;

Mẫu số 54: Quyết định trưng cầu giám định;

Mẫu số 58: Biên bản công bố quyết định xác minh nội dung khiếu nại;

Mẫu số 59: Biên bản làm việc.

Việc tổ chức đối thoại được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Thông tư số 11/2015/TT-BCA, ngày 02/3/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân.

Kết quả đối thoại là một trong các căn cứ để giải quyết khiếu nại.

Trưởng Công an cấp huyện hoặc người có trách nhiệm xác minh

Mẫu số 15: Thông báo về việc đối thoại giải quyết khiếu nại (lần 01);

Mẫu số 16: Biên bản về việc đối thoại giải quyết khiếu nại

Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại: Trưởng Công an cấp huyện ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản theo quy định tại Điều 18 Thông tư số 11/2015/TT-BCA, ngày 02/3/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân.

Trưởng Công an cấp huyện

Mẫu số 19: Quyết định về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu)

Trưởng Công an cấp huyện

Trong 03 ngày làm việc từ ngày ban hành QĐ

Mẫu số 19: Quyết định về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu)

Công khai quyết định giải quyết khiếu nại: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai có trách nhiệm công khai quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 11/2015/TT-BCA, ngày 02/3/2015 của Bộ Công an quy định quy trình giải quyết khiếu nại trong Công an nhân dân.

Trưởng Công an cấp huyện

Trong 15 ngày từ khi có quyết định QĐ

Mẫu số 58: Biên bản công bố quyết định giải quyết khiếu nại

6. BIỂU MẪU (ban hành kèm theo thông tư 54/2017/TT-BCA ngày 15/11/2017 của BCA) 7. HỒ SƠ LƯU

Những Tranh Chấp Và Yêu Cầu Về Dân Sự Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Tòa Án / 2023

Về nguyên tắc, tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự đối với những vụ việc dân sự phát sinh trong quan hệ pháp luật dân sự do pháp luật dân sự điều chỉnh.

Những tranh chấp và yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại điều 26, điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015.

1. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại điều 26 BLTTDS năm 2015 bao gồm:

– Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.

Ví dụ: A (quốc tịch Việt Nam) kết hôn với B (quốc tịch Hoa kỳ). C là con của A và B sinh ra ở Anh. A và B tranh chấp về việc đặt quốc tịch cho C.

– Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.

Bao gồm tranh chấp các quyền về chiếm hữu, sử dụng định đoạt hoặc tranh chấp về bồi thường thiệt hại với tài sản. Trong trường hợp đối tượng của việc tranh chấp là các vật khác nhau của thế giới vật chất nhưng không phải tài sản theo quy định của pháp luật dân sự thì tòa án không có thẩm quyền thụ lý giải quyết.

Ví dụ: A cho B mượn 1 chiếc xe máy hon da mang biển kiểm soát 78 – H1 20097, B sau một thời gian sử dụng đã cố ý không trả lại cho A và ngang nhiên cho rằng đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, A kiện B ra tòa để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

– Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự.

Ví dụ: A và B hợp đồng kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa về linh kiện điện tử, A là bên bán, đã có hành vi giao hàng chậm hơn thỏa thuận của hợp đồng 10 ngày và không đủ số lượng hàng, hai bên không thỏa thuận được với nhau để giải quyết, B kiện ra tòa yêu cầu A giao đủ số lượng hàng hóa trong hợp đồng và yêu cầu A bồi thường tổn thất cho B.

– Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này.

Ví dụ: A là một ca sĩ nổi tiếng, A có sáng tác 1 bài hát đã đăng ký quyền tác giả. B cũng là một nghệ sĩ, B đã sử dụng bài hát của A để trình diễn nhiều nơi mà không được sự cho phép của A. Do đó, A kiện B ra tòa vì B đã xâm phạm quyền tác giả đối với bài hát mà A đã sáng tác.

– Tranh chấp về thừa kế tài sản.

Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thừa kế như yêu cầu tòa án buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản thừa kế. Xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác.

Ví dụ: A con ruột của B, A là người bị mất khả năng lao động do mắc bệnh bại liệt, B mất để lại di chúc trong di chúc B không để lại di sản cho A nên những người thừa kế cùng hàng với A không chấp nhận chia tài sản cho A. A kiện ra tòa với lí do A là người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc và được hưởng 2/3 một suất thừa kế.

– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Ví dụ: A đá bóng ngoài lề đường, vô ý đá quả bóng vào gian hàng bán quà lưu niệm của B, làm một số quà lưu niệm bị vỡ, sự kiện đó làm phát sinh việc bồi thường ngoài hợp đồng giữa A và B.

– Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước.

– Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.

Thứ nhất, về tranh chấp đất đại theo quy định của pháp luật về luật đất đai năm 2013 Theo quy định tại K24 Đ3: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.

Thứ hai, tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng được quy định tại điều 84 Luật bảo vệ và phát triển rừng

Điều 84. Giải quyết tranh chấp 1. Các tranh chấp về quyền sử dụng rừng đối với các loại rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng do Toà án nhân dân giải quyết. Các tranh chấp về quyền sử dụng đất có rừng, đất trồng rừng được áp dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.

Ví dụ: A và B có hai thửa đất liền kề nhau, A có hành vi lấm chiếm đất của B, sau đó A khẳng định phần đất mà A đã lấn chiếm thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình, B kiện ra tòa để giải quyết.

Ví dụ: A là ca sĩ đang rất nổi tiếng, B là một nhà báo đưa tin thất thiệt về việc A đạo nhạc của người khác. Sau khi A phản ánh B không thực hiện việc cải chính, nên A kiện ra tòa để giải quyết.

Ví dụ: A có mua 1 căn nhà, đã làm hợp đồng mua bán công chứng và đã sang tên A. Nhưng khi đến nhận nhà theo hợp đồng thì bên bán không giao nhà và khởi kiện A ra tòa yêu cầu hủy hợp đồng mua bán, tòa thụ lý, tới ngày ra tòa thì bên bán rút đơn, tòa ra quyết định đình chi vụ án. Sau đó, bên bán lại khởi kiện với yêu cầu là “tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” Từ những quy định trên, có thể khẳng định việc bên bán khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên văn bản công chứng vô hiệu không trái pháp luật, bên bán có quyền khởi kiện (Điều 52 Luật công chứng năm 2014)

Ví dụ: Vợ chồng AB nhận chuyển nhượng căn nhà của anh C, đã hoàn tất việc sang tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Do có nhu cầu vay vốn để kinh doanh vợ chồng AB đã thế chấp nhà cho Ngân hàng, việc thế chấp có lập hợp đồng công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do làm ăn không thuận lợi nên vợ chồng AB không có khả năng trả nợ, Ngân hàng đã khởi kiện và chi cục thi hành án đã cưỡng chế xử lý tài sản thế chấp của vợ chồng tAB để thu hồi nợ. Lúc này thì có anh M có đơn tranh chấp với lý do anh C nợ tiền của anh và hứa bán nhà sẽ trả nợ để không đồng ý cho chi cục thi hành án bán nhà trên để thi hành án.

Trường hợp này tài sản bị cưỡng chế thi hành án có tranh chấp giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 75 luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

– Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự quy định tại điều 102 luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014

Điều 102: Hủy kết quả bán đấu giá tài sản. 1. Việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; trường hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật này. 2. Người mua được tài sản bán đấu giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá trình bán đấu giá tài sản. 3. Việc xử lý hậu quả và bồi thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy được giải quyết theo quy định của pháp luật.

– Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

2 Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại Điều 27 BLTTDS 2015 bao gồm:

– Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

– Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.

– Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

– Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.

– Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.

– Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

– Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án.

– Yêu cầu công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 470 của BLTTDS 2015.

– Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự.

– Các yêu cầu khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Các Huyện, Thành Phố Thuộc Tỉnh / 2023

Thông tin thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình

Cách thực hiện thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình

 Trình tự thực hiện

Bước 1:

Bước 2:

+ Xác minh nội dung khiếu nại: Trong thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011 (Luật Khiếu nại), cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm: – Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp huyện, của người có trách nhiệm do Chủ tịch UBND cấp huyện quản lý trực tiếp, nếu khiếu nại đúng thì ra Quyết định giải quyết khiếu nại ngay. – Trường hợp chưa có cơ sở kết luận nội dung khiếu nại thì Chủ tịch UBND cấp huyện giao cơ quan chuyên môn tiến hành xác minh, kết luận nội dung khiếu nại hoặc giao cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại, kiến nghị giải quyết khiếu nại. + Việc xác minh nội dung khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Điều 29 Luật Khiếu nại; Mục 2, chương II của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10 /2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

Bước 3:

Bước 4:

 Điều kiện thực hiện

Nội dung Văn bản quy định

Chưa có văn bản!

Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình

Giấy ủy quyền khiếu nại (trong trường hợp ủy quyền khiếu nại)

Đơn khiếu nại hoặc bản ghi lời khiếu nại;

Tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp;

Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình

Lược đồ Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thuộc tỉnh – Ninh Bình

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phạm Vi Các Loại Khiếu Kiện Hành Chính Thuộc Thẩm Quyền Giải Quyết Của Tòa Án, Văn Phòng Luật Sư Thái Thanh Hải / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!