Đề Xuất 11/2022 # Những Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022 Về Áp Giải Và Dẫn Giải. / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Những Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022 Về Áp Giải Và Dẫn Giải. / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022 Về Áp Giải Và Dẫn Giải. / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

   Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về áp giải và dẫn giải.

Thứ ba – 08/05/2018 02:56

          Áp giải và dẫn giải là một biện pháp cưỡng chế để bảo đảm cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được diễn ra theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về biện pháp cưỡng chế (nằm trong Chương VII – Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế). Trong đó Điều 126 và Điều 127 quy định cụ thể áp giải và dẫn giải là một trong 4 biện pháp cưỡng chế và trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng để bảo đảm cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tuân thủ đúng pháp luật.

          Áp giải và dẫn giải được quy định tại Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

          “Điều 127. Áp giải, dẫn giải

          1. Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.

          2. Dẫn giải có thể áp dụng đối với:

          a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

          b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

          3. Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.

          4. Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.

          5. Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

          Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.

          6. Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.”

          Như vậy, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng hơn về đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải. Cụ thể là: biện pháp áp giải không chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng mà còn được áp dụng đối với người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội (điều 60, 61, khoản 1 điều 126 BLTTHS năm 2015); biện pháp dẫn giải không chỉ được áp dụng đối với người làm chứng mà còn có thể được áp dụng đối với người bị hại, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (trong các trường hợp cụ thể theo khoản 2 điều 127 BLTTHS năm 2015). Đặc biệt việc quy định có thể dẫn giải người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan, qua đó giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng khắc phục được khó khăn khi giải quyết các vụ án xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác mà người bị hại từ chối giám định sức khỏe nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng không cưỡng chế được, làm cho việc xử lý vụ án bị kéo dài hoặc đi vào bế tắc, tránh bỏ lọt tội phạm.

          Như vậy với việc quy định về áp giải, dẫn giải trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng áp dụng thuận tiện hơn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm. Thực tiễn quá trình giải quyết các vụ án hình sự vẫn có trường hợp bị hại từ chối giám định do nhiều nguyên nhân khác nhau mà không phải do bị hại tự nguyện nhưng trước các cơ quan pháp luật vẫn khai là tự nguyện.

          Tuy nhiên trên thực tế việc áp giải, dẫn giải là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải xem xét rất thận trọng, chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án. Mặt khác việc dẫn giải đối với “người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” cũng gặp khó khăn khi người bị hại đã chủ động không đi giám định theo yêu cầu của Cơ quan điều tra thì khi áp dụng biện pháp dẫn giải người bị hại có thể không chấp hành, hoặc bỏ trốn. Lúc này Cơ quan điều tra không còn biện pháp nào khác để áp dụng, qua đó việc xác minh tố giác tin báo về tội phạm cũng như việc điều tra vụ án bị kéo dài.

          Mặt khác: Điều 20 Hiến pháp năm 2013 và Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

          “Điều 20 Hiến pháp năm 2013

          1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

          2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định.

          …”

          “Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

          Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

          Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.”

          Vì vậy đề nghị liên ngành trung ương có hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, đặc biệt là trường hợp dẫn giải bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

 

Phạm Việt Hùng.

Tố Tụng Hình Sự Là Gì? Những Quy Định Mới Nhất Về Luật Tố Tụng Hình Sự / 2023

Tố tụng hình sự là gì?

Tố tụng hình sự là thủ tục tố tụng, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự và để thi hành các bản án và quyết định của tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm các giai đoạn nhất định của pháp luật. Tại mỗi bước, cơ quan và người chịu trách nhiệm sẽ phải đảm nhận với những vị trí và vai trò khác nhau.

Quan hệ xã hội phát sinh từ quá trình tố tụng giữa các cơ quan và những người tiến hành tố tụng với người tố tụng được pháp luật tố tụng hình sự tiến hành trực tiếp điều chỉnh, trong đó những quy định về quyền cũng như nghĩa vụ của cơ quan của các bên tham gia tố tụng.

Đối tượng chính trong bộ luật tố tụng hình sự là gì?

Với mục đích đảm bảo phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội là chính xác và được xử lý nghiêm ngặt, không phạm tội, không vô tội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định lệnh và thủ tục truy tố, điều tra, truy tố , xét xử hình sự và thi hành án.

Sau phiên tòa, tòa án đã đưa ra phán quyết tuyên bố bị cáo có tội hay không có tội và các quyết định khác. Các quyết định của tòa án có hiệu lực phải được thi hành và tôn trọng bởi các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Tất cả các thủ tục tố tụng, từ truy tố đến điều tra xét xử, thi hành cần bắt buộc phải tuân theo trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Các đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng Hình sự là các mối quan hệ xã hội phát sinh từ việc truy tố, điều tra, phán quyết và đưa ra bản án hình sự.

Việc làm luật – pháp lý tại Hà Nội

Phương pháp chỉnh sửa luật tố tụng hình sự là gì?

Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam sử dụng hai phương pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ quá trình giải quyết vụ án hình sự: phương pháp uy quyền và phương thức phối hợp giữa chế ước cùng phối hợp.

Phương thức uy quyền được thể hiện trong mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng tư pháp và những người tham gia tố tụng. Các quyết định của cơ quan điều tra, văn phòng công tố viên và tòa án là ràng buộc đối với các cơ quan của nhà nước, các tổ chức xã hội và tất cả công dân.

Phương thức phối hợp – chế ước được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa cơ quan điều tra, văn phòng công tố viên và tòa án. Các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với nhau để thực hiện các hoạt động của mình theo Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nhiệm vụ chính của bộ luật tố tụng hình sự là gì?

Bộ luật Tố tụng Hình sự có trách nhiệm đảm bảo phát hiện và xử lý chính xác và kịp thời mọi hành vi phạm tội, ngăn ngừa và ngăn chặn tội phạm, không cho phép tội phạm và khiến người vô tội bị oan; góp phần bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân và giáo dục mọi người có ý thức tuân thủ pháp luật, đấu tranh và chống tội phạm.

Việc làm nhân viên tư vấn luật

Hiệu lực thi hành luật tố tụng hình sự

1. Bộ luật tố tụng hình sự có hiệu lực đối với tất cả các thủ tục tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tôn trọng các quy định của các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang là thành viên đồng thời tuân thủ theo nguyên tắc là có đi có lại.

Trường hợp người nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo luật pháp Việt Nam, một điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đảng hoặc thông lệ quốc tế sẽ được giải quyết theo quy định của các điều ước hoặc thông lệ quốc tế đó; Trong trường hợp các điều ước quốc tế như vậy không được quy định hoặc trong trường hợp không có thông lệ quốc tế, chúng sẽ được giải quyết thông qua kênh ngoại giao.

Những giai đoạn giải quyết vụ án hình sự theo luật hình sự và tố tụng hình sự

Khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án hình sự là bước đầu tiên trong quá trình tố tụng hình sự là gì?, trong đó các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu hình sự để quyết định có theo đuổi vụ án hình sự hay không. Giai đoạn này bắt đầu khi chính quyền nhận được báo cáo hoặc tố cáo tội phạm và kết thúc khi quyết định khởi tố vụ án hình sự được đưa ra.

Điều tra vụ án hình sự

Khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra sẽ đưa ra bản kết luận điều tra và yêu cầu bắt đầu các thủ tục tố tụng nếu bằng chứng là đủ, hoặc đình chỉ nếu một trong những căn cứ được quy định tại Điều 89 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nếu thời gian điều tra kết thúc, nhưng không thể chứng minh rằng bị cáo là người đã phạm tội.

Tiến hành xét xử sơ thẩm

Giai đoạn xét xử bắt đầu khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án từ Công tố viên. Trình tự xét sử bao gồm những giai đoạn là:

Mở đầu, thẩm vấn, tranh luận tại tòa án, cân nhắc và tuyên án. Phiên tòa được thực hiện theo nguyên tắc dùng lời nói và diễn ra liên tục, chỉ còn lại bản án của bị cáo và các hành vi phạm tội mà công tố theo đuổi và Tòa án quyết định xem xét hành vi. Vào cuối phiên xét xử một bản án sẽ được đưa ra.

Xét xử phúc thẩm hình sự

Kháng cáo là quyết định ngay lập tức của các bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực và theo đó kháng cáo được phép đưa ra kháng nghị.

Thi hành bản án và quyết định của Tòa án

Là một giai đoạn tố tụng tư pháp của cảnh sát, tòa án, các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền để đảm bảo phán quyết và hiệu lực của Tòa án được thực hiện chính xác và nhanh chóng.

Chỉ các bản án và quyết định của tòa án có hiệu lực thì mới chính thức được thi hành trừ khi bản án quy định rằng một người không có tội hoặc đang thụ án bằng hoặc ít hơn thời hạn bản án mà người đó đang thi hành. Việc áp dụng hình phạt phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Trong quá trình tiến hành cải tạo, giáo dục người phạm tội, lúc này luật tố tụng hình sự sẽ nêu rõ việc giảm thời hạn thi hành án cũng như miễn chấp hành hình phạt với họ.

Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nếu các bản án và quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp lý, nhưng phát hiện ra một sai lầm nào đó thì sẽ được tiến hành xét xử lại.

Giải Đáp Vướng Mắc Về Hình Sự, Dân Sự Và Tố Tụng Hành Chính / 2023

Giải đáp vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính

Ngày 03/4/2019, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 64/TANDTC-PC thông báo kết quả giải đáp một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính.

Tình tiết “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu như thế nào?

Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án đã nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn. Tuy nhiên, đối với trường hợp bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn hoặc tù chung thân là loại hình phạt nhẹ hơn so với hình phạt tử hình, nên “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 63 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đã bồi thường được ít nhất một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp, người bị kết án bồi thường được ít hơn một phần hai nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng có văn bản miễn giảm một phần nghĩa vụ dân sự hoặc có thỏa thuận khác của phía bị hại (có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền) thể hiện người bị kết án đã bồi thường được một phần hai nghĩa vụ dân sự thì cũng được coi là “đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự”.

Tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiếu như thế nào (người bán dâm hay bao gồm cả người mua dâm)?

Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa mại dâm” là “chứa bán dâm”. Như vậy, tình tiết định khung tăng nặng “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiểu là đối với người bán dâm. Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng.

Trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự thì có xử lý về hình sự hay không?

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có nhiều quy định kế thừa quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về việc lấy trị giá tài sản bị chiếm đoạt làm căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự. Trước đây, nội dung này đã được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Hiện nay, chưa có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quy định này của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, vận dụng Thông tư liên tịch số 02 này thì trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu, nhưng mỗi lần trị giá tài sản bị xâm phạm dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời trong các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính, nếu tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự, thì người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi xâm phạm sở hữu phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng theo tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu các hành vi xâm phạm sở hữu được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Giải Đáp Thắc Mắc Liên Quan Đến Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022? / 2023

Tôi muốn hỏi về khái niệm luật sư bảo vệ người bị hại và khái niệm bị hại ở luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam 2015?

Phân biệt địa vị pháp lý của bị hại và nguyên đơn dân sự trong tố tụng hình sự?

i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

Phân tích nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

“Chỉ tuân theo pháp luật”, đó là một cụm từ chỉ phạm vi được hạn định cho Hội đồng xét xử. Nghĩa là ngoài pháp luật ra họ không được tuân theo một cái gì hoặc một ai khác. Họ không phải chịu bất kỳ một sự can thiệp nào từ bên ngoài. Tuân theo pháp luật là quyền của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Pháp luật trao cho họ quyền họ phải được sử dụng đầy đủ, thực hiện tốt quyền đó. Không ai, bằng cách này hay cách khác được xâm phạm đền quyền của họ. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân là phải tôn trọng quyền độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. “Chỉ tuân theo pháp luật” vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Là quyền nó đảm bảo cho sự độc lập xét xử của họ. Là nghĩa vụ nó đặt ra yêu cầu buộc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải luôn trau dồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như bản lĩnh nghề nghiệp, tránh những tác động tiêu cực xấu từ bên ngoài ảnh hưởng đến cũng như do kiến thức pháp luật còn hạn chế mà gây ra những hậu quả khó lường. Tuân theo pháp luật ở đây có nghĩa là tuân theo cả luật nội dung và luật hình thức.

Luật sư cho em hỏi là trong bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định trong các biện pháp ngăn chặn có biện pháp bảo lĩnh và có quy định các điều kiện đối với người bảo lĩnh nhưng chưa quy định trách nhiệm của người bảo lĩnh trong trường hợp nếu như bị can , bị cáo bỏ trốn thì phải chịu những trách nhiệm gì và giải quyết như thế nào ? vậy em mong luật sư có thể giải đáp thắc mắc này cho em . em xin cảm ơn

Xin chào luật sư ! Cho tôi hỏi khi cơ quan csđt tiếp nhận tố giác và ra quyết định giải quyết tố giác theo quy định của luật tố cáo 2011. Xác định vụ việc không có dấu hiệu tội phạm thì có cần ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự không ? Tôi xin cám ơn

Bộ phận Tư vấn pháp luật Hình sự – Công ty Luật Minh Khuê.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2022 Về Áp Giải Và Dẫn Giải. / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!