Đề Xuất 5/2023 # Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính # Top 9 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 5/2023 # Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày 24/11/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kì họp thứ 8 đã thông qua LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH và NQ số 56/2010/QH12 về việc thi hành Luật TTHC, Chủ tịch nước ký lệnh số 22/2010/L.CTN ngày 07/12/2010 về việc công bố Luật TTHC và kể từ 01/7/2011 Luật này sẽ có hiệu lực. Để nhận thức và thực hiện đúng đắn và đầy đủ các quy định của Luật Tố tụng Hành chính chúng ta cần nghiên cứu các vấn đề sau đây

I. SỰ CẦN THIẾT VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VỀ VIỆC BAN HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1. Sự cần thiết phải ban hành Luật Tố tụng Hành chính

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các Pháp lệnh sửa đổi bổ sung đã tạo điều kiện cho việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính trong gần 15 năm qua cho thấy những quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác (Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, tố cáo…), có những quy định thiếu rõ ràng và chưa đầy đủ, đặc biệt là các vấn đề về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, vấn đề chứng minh và chứng cứ, nhất là quy định chưa rõ ràng đầy đủ về việc thi hành bản án, quyết định hành chính – một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa đảm bảo tính hiệu lực của các phán quyết của Tòa án trên thực tế, cũng như đảm bảo thiết thực quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

Với chính sách mở cửa và trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), thì việc pháp điển hoá các quy định của pháp luật về tố tụng để giải quyết các khiếu kiện hành chính, cụ thể hoá các cam kết của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế là rất cần thiết.

Ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó, xác định: “Mớ rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án”. Cộng với việc mở rộng quyền khiếu kiện, Nghị quyết 49/NQ-TW đặt ra yêu cầu “xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Toà án phải nghiêm minh chấp hành” .

Với tính chất phức tạp của các khiếu kiện hành chính, việc xây dựng và ban hành Luật Tố tụng Hành chính, văn.bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, nhằm đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng của người dân là hết sức cần thiết.

2. Quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu của việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính

Việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính đã quán triệt những quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu sau đây:

a) Thể chế hoá các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp đã được xác định trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” như đã trình bày ở trên.

b) Bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Luật Tố tụng Hành chính trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Luật Tố tụng Hành chính.

c) Bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng hành chính phải dân chủ, công khai, đơn giản, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tồ chức trong hoạt động tố tụng hành chính.

d) Trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định của pháp Luật Tố tụng Hành chính hiện hành, kế thừa kinh nghiệm giải quyết các vụ án hành chính từ thực tiễn xét xử của Toà án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội và của quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.

đ) Bảo đảm các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh và kịp thời.

e) Bảo đảm các quy định của Luật Tố tụng Hành chính không làm cản trở việc thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia.

II. KẾT CẤU CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Luật Tố tụng Hành chính 2010 (Luật TTHC) gồm 18 chương với 265 Điều, cụ thể như sau:

Chương I: “Những quy đinh chung” (27 Điều từ Điều 1 đến Điều 27); Chương II: “Thẩm quyền của Tòa án” (6 Điều từ Điều 28 đến Điều 33); Chương III: “Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiên hành tố tụng”, (13 Điều từ Điều 34 đến Điều 46); Chương IV: “Người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng” (13 Điều từ Điều 47 đến Điều 59); Chương V: “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” (12 Điều từ Điều 60 đến Điều 71); Chương VI: “Chứng minh và chứng cứ” (20 Điều từ Điều 72 đến Điều 91); Chương VII: “Cấp tống đạt thông báo văn bản tố tụng” (11 Điều từ Điều 92 đến Điều l02); Chương VIII: “Khởi kiện, thụ lý vụ án” (1 4 Điều từ Điều 103 đến Điều 116); Chương IX: “Chuẩn bị xét xử” (8 Điều từ Điều 117 đến Điều 124); Chương X: “Phiên tòa sơ thẩm” (43 Điều từ Điều 125 đến Điều 167); Chương XI: “Thủ tục giải quyết kiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân” (5 Điều từ Điều 168 đến Điều 172); Chương XII: “Thủ tục phúc thẩm” (36 Điều từ Điều 173 đến Điều 208); Chương XIII: “Thủ tục giám đốc thẩm” (23 Điều từ Điều 209 đến Điều 231); Chương XIV: “Thủ tục tái thẩm” (7 Điều từ Điêu 232 đến Điều 238); Chương XV: “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” (2 Điều – Điều 239 và Điều 240); Chương XVI: “Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (8 Điều từ Điều 241 đến Điều 248); Chương XVII: “Khiếu nạt, tố cáo trong tố tụng hành chính” (14 Điều từ Điều 249 đến Điều 262); Chương XVIII “Điều khoản thi hành” (3 Điều từ Điều 263 đến Điều 265).

Như vậy, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, sửa đối bổ sung năm 1998, 2006 (11 Chương với 76 Điều), Luật TTHC đã có sự thay đổi lớn về mặt kết cấu cũng như số lượng các chương, điều. Cụ thể:

Các Điều của Luật TTHC đều có tên gọi chứ không chỉ đơn thuần đánh số như Pháp lệnh. So với Pháp lệnh, Luật TTHC có thêm 189 Điều (từ 76 Điều lên 265 Điều).

Luật TTHC có 7 chương mới hoàn toàn: Chương V “Các biện phẩm khẩn cấp lạm thời”, Chương VI “Chứng minh và chứng cứ”, Chương VII “Cấp, tống đạt thông báo văn bản tổ tụng”, Chương XI “Thủ tục giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biếu Hội đồng nhân dân”, Chương XV “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”, Chương XVI “Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” và Chương XVII “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính”.

– Ngoài ra, Luật TTHC còn có một số nội dung khác so với Pháp lệnh:

+ Bỏ Chương V quy định về “án phí” thay vào đó Luật quy định bằng 1 điều Luật trong Chương I “Những quy định chung”.

+ Tách Chương X- “Thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm” thành 2 chương: Chương XIII “Thủ tục giám đốc thẩm” và Chương XIV “Thủ tục tái thẩm”.

+ Bổ sung quy định về “Cơ quan tiến hành tố tụng” (Chương III) bên cạnh quy định về “Người tiến hành tố tụng”.

III. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Có thể nói 265 Điều của Luật TTHC so với 76 Điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là một sự chênh lệch rất lớn. Con số đó phần nào đã phản ánh quy mô của kết quả pháp điển hóa lĩnh vực pháp luật tố tụng này. Với dung lượng như vậy, Luật TTHC đã điều chỉnh đầy đủ những nội dung cần thiết của đạo luật tố tụng. Trong đó có cả những vấn đề mới hoàn toàn và cà những vấn đề “kinh điển” của TTHC nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung quan trọng theo tinh thần, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đề cập tất cả nội dung của Luật TTHC mà chỉ đề cập đến một số vấn đề như sau: Những khiếu.kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án; điều kiện khởi kiện; thời hiệu khởi kiện; vấn đề thi hành bán án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính, thủ tục đặc biệt; vị trí, vai trò của VKS trong TTHC, Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật TTHC.

1. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Trong quá trình xây dựng Luật Tố tụng Hành chính vấn đề các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án luôn được các cơ quan chức năng và Quốc hội quan tâm đặc biệt. Quán triệt một trong những nội dung của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, là “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính, đổi mới mạnh mẽ các thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đắng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án…” . Luật Tố tụng Hành chính xác định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xứ của Toà án theo phương pháp loại trừ.

Thực tiễn cho thấy, việc quy định theo phương pháp liệt kê các khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Toà án như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã hạn chế quyền khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với một số loại việc, đặc biệt là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Việc quy định theo phương pháp liệt kê như Pháp lệnh trong một số trường hợp dẫn đến việc tranh luận không đáng có hoặc bỏ sót loại việc lẽ ra cần được giải quyết tại Toà án.

Quy định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo phương pháp loại trừ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc xác định quyền khởi kiện các vụ án hành chính, đảm bảo sự công bằng cho người dân và đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Về mặt kỹ thuật lập pháp, việc quy định theo phương pháp loại trừ là tiến bộ và bảo đảm tính ổn định của điều luật.

Tại điều 28, Luật Tố tụng Hành chính quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án như sau:

2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại hiểu Hội đồng nhân dân.

3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”.

Như vậy, phạm vi thẩm quyền của Tòa án đã được làm rõ bằng việc loại trừ khỏi đối tượng khởi kiện vụ án hành chính các “quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức” và “các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao”. Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức được giải thích tại khoản 4 Điều 3, như sau: “Là những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”.

Các quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh ngoại giao mang tính chất bí mật nhà nước sẽ do Chính phủ quy định cũng nằm ngoài phạm vi thẩm quyền xét xử án hành chính của Toà án nhân dân.

Về việc quy định thẩm quyền của Toà án giải quyết các khiếu kiện hành chính trong quân đội. Vấn đề này đã được đề cập khi xây dựng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây nhưng đa số ý kiến của các cơ quan chức năng và đại biểu Quốc hội đều thống nhất là chưa cần thiết quy định Toà án quân sự các cấp có thẩm quyền xét xử các khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính do các cấp chỉ huy hoặc cơ quan quân sự thực hiện.

Ngoài ra, để loại trừ xung đột trong các quy định của pháp luật về thẩm quyền loại việc được khởi kiện ra Tòa hành chính, Điều 264- Luật TTHC đã “sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai”, đó là sửa đổi Khoản 2- Điều 136 và Điều 138 của Luật Đất đai năm 2003. Theo đó, đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 50- Luật Đất đai khi có tranh chấp quyền sử dụng đất nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh thì đương sự có thể lựa chọn tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên hoặc khởi kiện ra Tòa hành chính (Khoản 1- Điều 264- Luật TTHC). Tại Khoản 2- Điều 264, Luật TTHC sửa Khoản 2, Điều 138 Luật Đất đai, như sau: “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính”. Như vậy, với quy định về việc sứa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 136 và 138- Luật Đất đai 2003, Luật TTHC đã tạo ra sự thống nhất trong việc giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lí đất đai cũng như sự thống nhất với quy định của Luật khiếu nại, tố cáo 2005 góp phần bảo đảm tính khả thi của Luật TTHC.

Việc giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật TTHC đã góp phần làm rõ thêm thế nào là “quyết định hành chính”, “hành vi hành chính” với tư cách là đối tượng khởi kiện được quy định tại Điều 28 Luật TTHC. Tại Khoản 1 Điều 3 giải thích như sau: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tô chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Như vậy theo khái niệm này, quyết định hành chính là đối tượng xét xử của Toà án khi nó thoả mãn những điều kiện sau đây:

– Quyết định hành chính đó phải là quyết định cá biệt;

– Quyết định đó phải tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân cơ quan, tổ chức, làm phát sinh tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong thực tế có những văn bản hành chính không đúng về mặt hình thức của một quyết định hành chính nhưng lại có đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng nên cũng có thể coi là quyết định hành chính và có thể bị khởi kiện.

 Tại khoản 2, Điều 3 giải thích về hành vi hành chính như sau: “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.

Tuy cùng là đối tượng xét xừ của Toà án nhưng hành vi hành chính không được thể hiện bằng văn bản mà chỉ biểu hiện dưới dạng không làm đúng hoặc làm trái các quy định của pháp luật, hay im lặng tức là không thực hiện một trách nhiệm, một nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đáng lẽ phải làm. Hành vi hành chính là đối tượng xét xử của Toà án theo Luật Tố tụng Hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức và giữa chúng có mối quan hệ nhân quả. Ví dụ: Công ty A đã hoàn tất các thủ tục bổ sung hoặc sửa đổi giải pháp kinh doanh nhưng quá thời hạn do luật định mà cơ quan B hay công chức C vẫn không giải quyết và cũng không trả lời cho Công ty A lý do hợp lý. Trong trường hợp này sự im lặng là hành vi hành chính của cơ quan B hoặc công chức C có thể bị khởi kiện và thuộc thẩm quyền của Toà án hành chính giải quyết.

2- Về điều kiện khởi kiện hành chính:

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi bổ sung năm 2006 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính nếu đã thực hiện thủ tục khiếu nại (lần đầu hoặc lần thứ hai) đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định mà không được giải quyết hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại. Đối với một số lĩnh vực như: Quản lý đất đai, kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức thì yêu cầu phải có quyết định giải quyết khiếu nại rồi mới có quyền khởi kiện ra Toà án (Điều 2- Pháp lệnh). Việc quy định như vậy chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức trong việc khởi kiện vụ án hành chính, thủ tục còn rườm rà và trong một số trường hợp còn không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của họ, không phù hợp với thoả thuận của Việt Nam khỉ gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Khắc phục nhược điểm này của Pháp lệnh, tại Điều 103 Luật TTHC đã quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Theo đó, cá nhân cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó, hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với kết quả giải quyết đó. Như vậy, thủ tục “tiền tố tụng” đã không còn là yếu tố bắt buộc đối với hầu hết các khiếu kiện hành chính nữa.

Với quy định này, cá nhân, cơ quan, tổ chức hoàn toàn có quyền lựa chọn giải pháp hành chính (khiếu nại đến cơ quan hành chính hoặc người đã ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính) hay giải pháp tư pháp (khởi kiện ra Toà án) khi có tranh chấp hành chính. Họ cũng đồng thời không phải tuần tự qua các bước: Khiếu nại lần đầu, khiếu nại lần hai, khởi kiện.

Quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính như trên cũng chính là một trong các yếu tố để công dân, cơ quan tổ chức tiếp cận với Toà án được dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ- TW của Bộ Chính trị “đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải các khiếu kiện hành chính tại Tòa án, tạo điều kiện thuận lơi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án …”

3- Thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh thì thời hiệu khởi kiện là 30 ngày hoặc 45 ngày tùy vào từng trường hợp cụ thể. Sở dĩ thời hiệu ngắn như vậy là vì tất cả các khiếu kiện đều đã qua “thủ tục khiếu nại”, các bên tranh chấp đều đã “theo đuổi” vụ việc trong một thời gian nhất định, đều biết về nội dung tranh chấp, đều đã có thời gian chuẩn bị tài liệu, chứng cứ hay lựa chọn, nhờ tư vấn trước khi khởi kiện. Quy định thời hiệu như vậy là phù hợp với điều kiện khởi kiện tương ứng trong Pháp lệnh. Hiện nay, Luật TTHC thủ tục “tiền tố tụng” không bắt buộc đối với cơ quan tổ chức, công dân khi khởi kiện hành chính, nên Luật cũng có sự điều chỉnh thời hiệu khởi kiện cho phù hợp. Theo đó, thời hiệu khởi kiện được xác định tại Điều 104 như sau:

– 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

– Đối với vụ việc cạnh tranh và khiếu kiện về danh sách cử tri thì Luật TTHC vẫn giữ quy định như trong Pháp lệnh là 30 ngày (đối với vụ việc cạnh tranh) vả 5 ngày (đối với danh sách cử tri).

Như vậy, thời hiệu khởi kiện được quy định tương đối dài (l năm) với các loại tranh chấp hành chính nói chung. Trường hợp quy định ngắn hơn là 30 ngày, 5 ngày đối với loại khởi kiện vụ án hành chính có tính đặc thù. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện (Khoản 3 Điều l04). Ngoài ra, các quy định của Bộ luật Dân sự về cách tính thời hạn, thời hiệu cũng được áp dụng trong tố tụng hành chính (Khoản 4, Điều 104). Có thể nói, việc quy định thời hiệu khởi kiện như Luật TTHC đã tạo điều kiện tốt nhất cho đương sự trong việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

4- Về thủ tục đặc biệt xem xét 1ại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng Thẩm phán ( HĐTP)- Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) là cơ quan xét xử cao nhất nên không một thiết chế nào có thẩm quyền xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử giám đốc thẩm của HĐTP- TANDTC thời gian qua ở một số loại án cho thấy có trường hợp quyết định giám đốc thẩm của HĐTP có sai lầm nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi nội dung cơ bản quyết định mà HĐTP, các đương sự không biết được khi ra quyết định đó nhưng không có cơ chế để giải quyết lại, gây ra sự bức xúc cho đương sự và dư luận xã hội cũng như tình trạng khiếu kiện kéo dài.

Đây là quy định đặc biệt, có tính cách mạng trong hệ thống pháp luật tố tụng nước ta, được quy định lần đầu tiên trong pháp luật TTHC. Với thủ tục rất chặt chẽ, nó sẽ tạo điều kiện khắc phục sai sót của quyết định HĐTP Toà án nhân dân tối cao mà trước đây pháp luật chưa quy định. Đồng thời, nó cũng sẽ góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân với nền công lý.

5- Về thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính:

Trước đây, Pháp lệnh chưa quy định thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính mà mới chỉ có quy định mang tính nguyên tắc “Bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu tục pháp luật về vụ án hành chính phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi người tôn trọng. Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”. (Điều 9- Pháp lệnh).

Do thiếu vắng những quy định cụ thể về cơ chế đảm bảo thi hành bản án quyết định của Tòa án về vụ án hành chính nên trong thực tế, việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án chưa được đảm bảo, nhiều bản án, quyết định không được thi hành hoặc thi hành không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích của người được thi hành cũng như không đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định trong thực tế.

Khắc phục hạn chế trên, Luật TTHC đã dành một chương để quy định về “thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (Chương XVI). Đây chính là sự thể chế hóa đường lối được xác định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Với 8 điều nhưng Luật TTHC đã điều chỉnh cụ thể các vấn đề cơ bản về thi hành án hành chính như: Thủ tục thi hành án, trách nhiệm thực hiện yêu cầu thi hành án, quản lý nhà nước về thi hành án, xử lý vi phạm trong thi hành án, kiểm sát việc thi hành án hành chính… Với những quy định này, bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính đã có cà một cơ chế phối hợp và đồng bộ để đảm bảo cho việc thi hành. Về mặt nguyên tắc, công tác thi hành án được thống nhất quản lý bởi Chính Phủ, có sự phối hợp với TATDTC, VKSNDTC. Trong đó, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan quản lý thi hành án dân sự có trách nhiệm đôn đốc và phối hợp với nhau để thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các chủ thể trong quá trình đó. Như vậy, công tác thi hành án hành chính sẽ được đảm bảo thực hiện hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền lợi của công dân và củng cố hoạt động xét xử của Tòa án.

6 – Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính:

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như của pháp luật TTHC nói riêng, đó là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là nguyên tắc mang tính hiến định. Nó yêu cầu mọi chủ thể phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đảm bảo tính thống nhất và thượng tôn của pháp luật. Thiết chế để đảm bảo cho các yêu cầu trên vận hành trong thực tiễn áp dụng pháp luật chính là Viện kiểm sát (VKS). Trong tố tụng hành chính, VKS đóng vai trò rất quan trọng bởi tranh chấp hành chính là tranh chấp giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước với cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do vậy, sự tham gia của VKS trong TTHC để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng, bình đẳng, sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là rất cần thiết.

Điều 23- Luật TTHC ghi nhận vai trò của VKS như sau : “VKSND kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật…”. Theo quy định tại Điều 34, VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên VKS là người tiến hành tố tụng với nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại Điều 39 và 40- Luật TTHC. Theo quy định tại Khoản 2- Điều 23, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc vụ án:

+ VKS đảm bảo việc thụ lý hay không thụ lý vụ án của TAND có căn cứ và đúng pháp luật. Khoản 2- Điều 109 Luật TTHC quy định: “Khi trả đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn được gửi ngay cho VKS cùng cấp”. Đây là quy định mới của Luật TTHC so với Pháp lệnh trước đây. Quy định này đã loại trừ sự tùy tiện của đương sự trong việc khởi kiện cũng như của Tòa án trong việc xem xét trả lại đơn khởi kiện.

+ Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử để đảm bảo việc thu thập tài liệu, chứng cứ xác minh lập hồ sơ vụ án của TAND được khách quan, đầy đủ, đúng pháp luật. Khi cần thiết VKS có thể “yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án” (Khoản 3, Điều 78) và “yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ” ( Khoản 2- Điều 87).

– Vi trí, vai trò của VKS được thể hiện tập trung nhất trong công tác kiểm sát xét xử vụ án hành chính. Theo quy định của Luật TTHC, VKS tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, các phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm. Tại các phiên tòa, phiên họp này, Kiểm sát viên phát biểu về việc “tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án” (Khoản 1 – Điều 1 60) hoặc “trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị” (Đoạn 3, Điểm a, Khoản 1 – Điều 204), “phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm” (Khoản 3 Điều 204). Tại giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm “Đại diện VKS phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ án” (Khoản 3- Điều 223 và Điều 238).Trong quá trình thực hiện thủ tục đặc biệt xem xét lại QĐ của HĐTP TANDTC, vị trí vai trò của VKS tiếp tục khẳng định bằng việc kiến nghị và tham gia các phiên họp của HĐTP TANDTC. Như vậy, sự tham gia của VKS trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án là một hoạt động quan trọng đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng.

Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý cho đến khi thi hành phán quyết của Tòa án, không một khâu tố tụng nào thiếu vắng vai trò của VKS. Để VKS thực hiện tốt chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình, Luật TTHC đã trao cho VKS những quyền năng nhất định:

Quyền yêu cầu, kiến nghị: Đây là một trong những quyền quan trọng của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp nói chung cũng như khi thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC nói riêng. Khoản 2 Điều 23 đã ghi nhận quyền này như sau: “VKSND… thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị… theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, VKS sử dụng quyền năng này, trong một số trường hợp cụ thể tùy thuộc vào yêu cầu kiểm sát ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau:

+ “VKS có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời…” (Khoản 1- Điều 70).

+ “VKS có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật” (Điều 262).

Quyền kháng nghị: Đây là quyền năng đặc trưng và quan trọng nhất của VKS khi thực hiện chức năng kiềm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC. Theo quy định của Luật TTHC, “Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” (Điều 181), “Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân các cấp trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối  cao” (Khoản 1 Điều 212). “Viện trưởng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thú tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Toà án cấp huyện” (Khoản 2 Điều 212). “Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bán án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án các cấp, trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối cao” (Khoản 1 Điều 235). “Viện trướng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thấm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện” (Khoản 2 Điều 235). Như vậy, khi bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, cũng như khi bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất vụ án, VKS sẽ thực hiện quyền kháng nghị để đảm bảo việc xét xử của Tòa án tuân thủ đúng pháp luật, tránh oan sai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Thông qua những quy định của Luật TTHC, chúng ta thấy VKS tiếp tục được khẳng định là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật quá trình giải quyết vụ án hành chính. Vị trí, vai trò của VKS được thế hiện xuyên suốt quá trình này với tư cách là định chế đảm bảo tính nghiêm mình của pháp luật, tính đúng đắn của hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần nâng cao hiệu quà quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành chính.

7 – Về Nghị quyết số 56/2010/QH12 về việc thi hành luật TTHC:

Cùng với việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Về việc thi hành Luật tố tụng hành chính.

Tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết vụ án hành chính theo trình tự giám đốc thẩm; Cụ thể như sau:

“1. Kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố đến ngày Luật này có hiệu lực:

a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 69 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

b) Thời hạn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại các điều 211, 215 và 236 của Luật Tố tụng Hành chính;

c) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án quyết định nêu tại Điểm a và Điểm b Khoản này được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thú tục giải quyết các vụ án hành chính”.

Quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 nêu trên đã tạo thuận lợi cho đương sự khi áp dụng Khoản 2 Điều 215 Luật TTHC để đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật TTHC được công bố mà đương sự đã có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, nhưng quá thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 215 Luật TTHC mới phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính đối với những trường hợp vụ án hành chính đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước khi Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực; Cụ thể như sau:

“2. Kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực:

a) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật lố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết,

b) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử sơ thẩm trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mà có kháng cáo kháng nghị, nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết;

c) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị giám đốc thấm, tái thẩm trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết;

d) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị giám đốc thẩm tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố cho đến ngày Luật này có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền, thì việc kháng nghị được thực hiện theo Luật Tố tụng Hành chính;

đ) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án xét xử và bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mà kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

3. Đối với các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, nhưng đến ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì được thi hành theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính”.

Tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để hồi tố giải quyết những trường hợp khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai mà trước đây Tòa án không thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 136 và Điều 138 của Luật Đất đai năm 2003, cụ thế là:

“Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành ví hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính”.

Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đang cùng các ngành xây đựng Nghị quyết để hướng dẫn quy định tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010 nêu trên.

Ngày 15/2/2011 Viện trưởng VKSTC đã ban hành Chỉ thị số 03/2011/CT – VKSTC “Về việc triển khai thi hành Luật TTHC trong ngành KSND”.

Giới Thiệu Nội Dung Cơ Bản Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (Phần I)

Ngày 27 tháng 11 năm 2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, (sau đây gọi là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Văn phòng luật sư Ánh Sáng Luật xin giới thiệu cơ cấu và những điểm mới của BLTTHS 2015.

I. Cơ cấu: BLTTHS năm 2015 có kết cấu gồm 09 phần, 36 chương, 510 điều (BLTTHS năm 2003 có kết cấu gồm 08 phần, 37 chương, 346 điều), cụ thể là:

Phần thứ nhất: Phạm vi điều chỉnh, nhiệm vụ, hiệu lực của BLTTHS (từ Điều 1 đến Điều 142).

Phần thứ hai: Khởi tố, điều tra vụ án hình sự (từ Điều 143 đến Điều 235).

Phần thứ ba: Truy tố (từ Điều 236 đến Điều 249).

Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự (từ Điều 250 đến Điều 362).

Phần thứ năm: Một số quy định về thi hành bản án, quyết định của Tòa án (từ Điều 363 đến Điều 369).

Phần thứ sáu: Thủ tục xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật (từ Điều 370 đến Điều 412).

Phần thứ bảy: Thủ tục đặc biệt (từ Điều 413 đến Điều 490).

Phần thứ tám: Hợp tác quốc tế (từ Điều 491 đến Điều 508).

Phần thứ chín: Điều khoản thi hành (Điều 509 và Điều 510).

II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

1. Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự

Nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Bộ luật đã sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013, gồm: công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (Điều 11); suy đoán vô tội (Điều 13); không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm (Điều 14); tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26); bảo đảm sự kiểm tra, giám sát trong hệ thống từng cơ quan tố tụng và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 33).

– Về suy đoán vô tội (Điều 13): Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

– Về tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26): Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

2. Quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tố tụng, tạo điều kiện để các cơ quan thực hiện tốt trách nhiệm luật định

Nhằm đề cao trách nhiệm và bảo đảm các điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt trách nhiệm luật định, Bộ luật quy định:

– Đối với Cơ quan điều tra: (1) Quy định cụ thể những vụ án thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra của Bộ Công an và Cơ quan điều tra của Bộ Quốc phòng; (2) Bổ sung một số biện pháp điều tra như: nhận biết giọng nói, định giá tài sản; (3) Quy định cụ thể trình tự, thủ tục khi tiến hành từng biện pháp điều tra; (4) Quy định đầy đủ các trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn.

+ Về thẩm quyền điều tra (Điều 163): Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cơ quan điều tra cấp huyện điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện. Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp huyện xảy ra trên địa bàn nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, phạm tội có tổ chức hoặc có yếu tố nước ngoài nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.

+ Về tạm đình chỉ điều tra (Điều 229): Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp: (1) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra; (2) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra; (3) Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả (Khoản 1, Điều 229).

– Đối với Viện kiểm sát: bổ sung, tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát phải: (1) Thực hành quyền công tố sớm hơn, kể từ khi Cơ quan điều tra giải quyết nguồn tin về tội phạm; (2) Quy định cụ thể trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tiến hành một số hoạt động điều tra và trách nhiệm chuyển vụ án khi phát hiện việc điều tra không đúng thẩm quyền; (3) Quy định bắt buộc kiểm sát viên phải có mặt trong các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét.

– Đối với Tòa án: quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án trong việc: (1) Xem xét, kết luận tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do các chủ thể tố tụng thu thập, cung cấp; (2) Quy định các trường hợp Tòa án thu thập, bổ sung chứng cứ; (3) Quy định cụ thể trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm tranh tụng; (4) Quy định Hội đồng giám đốc thẩm có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

3. Phân định thẩm quyền hành chính với thẩm quyền tư pháp; tăng quyền, tăng trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán Bộ luật quy định rõ: (1) Trong lĩnh vực được phân công phụ trách, cấp phó không chỉ được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng như hiện hành, mà còn được giao thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp; (2) Phân định thẩm quyền giữa Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng với người trực tiếp tiến hành tố tụng theo hướng những thẩm quyền có tính chất quyết định việc “đóng, mở” một giai đoạn tố tụng, những thẩm quyền liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân giao cho Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định; hầu hết những thẩm quyền có tính chất phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên trực tiếp quyết định, tăng cơ bản thẩm quyền cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

4. Quy định cụ thể trình tự, thủ tục trong từng giai đoạn tố tụng nhằm tháo gỡ vướng mắc, bất cập của thực tiễn

5. Đổi mới chế định chứng minh và chứng cứ

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và để phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế, Bộ luật đã: (1) Đổi mới khái niệm chứng cứ; (2) Quy định trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do người tham gia tố tụng cung cấp; (3) Bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ, gồm: dữ liệu điện tử, kết luận định giá tài sản, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp; (4) Quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập dữ liệu điện tử.

– Về khái niệm chứng cứ (Điều 86): Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Bảo Hiểm Tiền Gửi

Luật Bảo hiểm tiền gửi đã thể chế hóa quan điểm, chủ trương và chính sách của Ðảng và Nhà nước, thể hiện tính đặc thù của hệ thống ngân hàng Việt Nam, phù hợp thể chế chính trị của Việt Nam đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992; bảo đảm phù hợp điều kiện kinh tế, xã hội ở nước ta. Ðặc biệt là các điều kiện về sự phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn, sự phát triển của hệ thống ngân hàng, mức độ hiểu biết, thói quen tiết kiệm của người dân. Luật Bảo hiểm tiền gửi đã kế thừa những quy định phù hợp qua thực tiễn thực thi pháp luật bảo hiểm tiền gửi, bảo đảm tính kế thừa trong quản lý, đồng thời khắc phục được những thiếu sót, bất cập của pháp luật hiện hành về bảo hiểm tiền gửi; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, hiệu quả của hệ thống pháp luật ngân hàng, tạo điều kiện tăng cường sự phối hợp, hoạt động hiệu quả của các cấu phần trong mạng lưới an toàn tài chính quốc gia. Mặt khác, Luật Bảo hiểm tiền gửi được ban hành trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia và hướng dẫn phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của các tổ chức quốc tế, bảo đảm sự tương thích nhất định với các chuẩn mực chung của quốc tế.

Luật Bảo hiểm tiền gửi đã đạt một bước tiến trong việc xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi, đó là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Khoản 2 Ðiều 8); Ðồng thời, xác định cụ thể trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm tiền gửi của cơ quan này. Cùng với đó, Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng thanh tra về bảo hiểm tiền gửi (Ðiều 35).

Luật Bảo hiểm tiền gửi được xây dựng theo Mô hình bảo hiểm tiền gửi chi trả với quyền hạn mở rộng. Bên cạnh nhiệm vụ chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tính và thu phí nộp bảo hiểm của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, Luật tiếp tục trao cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi chức năng giám sát từ xa trên cơ sở các thông tin nhận được từ Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm phát hiện và báo cáo Ngân hàng Nhà nước xử lý kịp thời những rủi ro gây mất an toàn trong hệ thống ngân hàng, những vi phạm quy định về an toàn hoạt động ngân hàng. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hay tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của Chính phủ. Quy định này bảo đảm cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện tốt chức năng bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và xác định rõ giới hạn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo đảm an toàn hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.

Ðể khắc phục những hạn chế của quy định pháp luật về chủ thể được bảo hiểm tiền gửi, Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định chỉ bảo hiểm tiền gửi của người gửi tiền là cá nhân mà không bảo hiểm cho tiền gửi của hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Hơn nữa, việc bảo hiểm tiền gửi cho cả tổ chức không phù hợp với mục tiêu bảo vệ những người gửi tiền nhỏ lẻ, thiếu thông tin. Mặt khác, tiền gửi của các tổ chức mang tính luân chuyển cao, chủ yếu nhằm mục đích thanh toán chứ không nhằm mục đích gửi tiền tiết kiệm. Vì vậy, việc quy định bảo hiểm cho tiền gửi của tổ chức là không phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Do đó, Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định chủ thể được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân (Ðiều 18).

Về mô hình tổ chức bảo hiểm tiền gửi, kế thừa các quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước do Thủ tướng Chính phủ thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là pháp nhân, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí. Ðể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải có được những thông tin cần thiết về các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Vì vậy, Luật Bảo hiểm tiền gửi đã quy định tại Chương V về Hoạt động thông tin, báo cáo. Theo đó quy định cụ thể về trách nhiệm báo cáo và công bố thông tin của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và vấn đề cung cấp thông tin của Ngân hàng Nhà nước.

Nhằm tránh rủi ro hao tổn quỹ bảo hiểm tiền gửi, gây tác động xấu đến hiệu quả của hệ thống bảo hiểm tiền gửi, Luật Bảo hiểm tiền gửi chỉ cho phép “Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để mua trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và gửi tiền tại Ngân hàng Nhà nước” (Ðiều 31) mà không cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi được mở tài khoản và gửi tiền tại tổ chức tín dụng nhà nước như quy định của pháp luật trước đây về bảo hiểm tiền gửi.

Ðể bảo đảm tính linh hoạt khi áp dụng phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức trả tiền bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh, Luật không quy định một mức phí hay một khung phí cứng mà trao thẩm quyền cho Thủ tướng Chính phủ quy định khung phí bảo hiểm tiền gửi và hạn mức trả tiền bảo hiểm theo đề nghị của Ngân hàng Nhà nước. Căn cứ vào khung phí bảo hiểm tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi trên cơ sở kết quả đánh giá và phân loại các tổ chức này.

Về thời điểm tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định: “Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vẫn lâm vào tình trạng phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền”.

Việc xác định thời điểm trả tiền bảo hiểm phù hợp thể hiện cam kết của Nhà nước đối với người dân trong việc bảo đảm chi trả ngay lập tức khoản tiền bảo hiểm trong hạn mức bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đổ vỡ nhằm củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, hạn chế hiện tượng rút tiền hàng loạt tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Qua đó, giảm thiểu tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Ðể thực hiện Luật Bảo hiểm tiền gửi sau khi có hiệu lực thi hành dự kiến sẽ có một nghị định do Chính phủ ban hành, ba văn bản do Thủ tướng Chính phủ ban hành; một văn bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành và một văn bản liên tịch do Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành.

VŨ HOÀNG LONG nhandan.org.vn

Nội Dung Cơ Bản Của Bộ Luật Hồng Đức Là Gì?Nội Dung Cơ Bản Của

BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC

Bộ quốc triều hình luật (Lê Triều Hình Luật) Bộ luật Hồng Đức, bộ luật hình chính thống được hoàn chỉnh ở triều đại Lê Thánh Tông (Hồng Đức) thế kỉ 15, là bộ luật cổ bằng chữ Hán còn lưu giữ được tương đối đầy đủ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội). BQTHL có 13 chương, 722 điều, gồm 6 quyển. Việc xác định thời điểm ban hành BQTHL vẫn chưa được khẳng định dứt khoát. Theo ý kiến nhiều nhà sử học thì Bộ luật đã được khởi thảo từ những năm đầu của triều Lê, được bổ sung, hoàn chỉnh trong suốt triều Lê, trong đó có những đóng góp to lớn của Lê Thánh Tông. Đây là Bộ luật tiến bộ trong các bộ luật dưới các triều đại phong kiến Việt Nam. Lê Triều Hình Luật: Một bộ Luật cách tân trong lịch sử Việt Nam Trong quá trình xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, nhà Lê đã lấy những quan đIểm của nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân nghĩa, yêu nước, thương nòi, lấy dân làm gốc, quan tâm đến đời sống của muôn dân. Đó là những yếu tố cơ bản chi phối việc soạn thảo văn bản luật pháp và biểu hiện ra rất đậm nét trong khắp các chương của bộ hình luật Lê triều, hay còn gọi là Luật Hồng Đức. Bộ luật Hồng Đức được lưu lại đến ngày nay bao gồm 13 chương với 722 điều, nội dung cơ bản của bộ luật như sau: – Giữ cho đất nước luôn ở thế phòng bị đối với quan xâm lược nước ngoài; – Giữ nghiêm kỷ cương, phép nước; – Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội; – Mở rộng giao lưu khuyến khích thương nghiệp lành mạnh; – Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của muôn dân, bảo vệ quyền lợi tài sản của dân chống lại sự đục khoét của quan lại sâu mọt; – Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục; – Bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ; – Chính sách hình sự nghiêm nhưng độ lượng. * Cách tân về tổ chức bộ máy chính quyền Vua Lê Thánh Tông đã từng bước một tiến hành những cách tân sâu sắc về hành chính, về quân sự, và về pháp luật làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước được khôi phục và ngày càng có hiệu lực, đưa đất nước đi dần vào thế ổn định và kế đó là tạo đà phát triển đi lên một cách vững chắc. Về mặt hành chính, nhà Vua đã kiên quyết và kiên trì cải tạo bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương. Đời Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ. Đời vua Lê Lợi chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Dân (tức Hộ Bộ). Nhà Lê tổ chức thành sáu bộ: 1. Lại Bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước; 2. Lễ Bộ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ Đình, Chùa, Miếu mạo; 3. Hộ Bộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng, thóc tiền và lương, bổng của quan, binh; 4. Binh Bộ: Trông coi việc binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp; 5: Hình Bộ: Trông coi việc thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc tù, đày, kiện cáo; 6. Công bộ: Trông coi việc xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền. * Giữ cho đất nước luôn ở thế phòng bị đối với quan xâm lược nước ngoài Trong bộ luật Hồng Đức có nhiều điều quy định rõ trách nhiệm bảo vệ đường biên, vùng biển, cửa quan. Các hành vi xâm phạm an ninh và toàn vẹn lãnh thổ bị trừng trị nghiêm khắc. Trong Bộ luật Hồng Đức có nhiều điều quy định rõ về việc xử phạt đối với các hành vi ấy. Ví dụ: “Người trốn qua cửa quan ra khỏi biên giới đi sang nước khác thì bị chém” (đ.71) hoặc “Những người bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài thì bị chém” (đ.74). Vua Lê Thánh Tông còn ban hành các đạo dụ, những sắc chỉ quy định việc kê khai, kiểm tra dân số của toàn vương quốc, đặt ra luật lệ về chế độ binh dịch mà ngày nay chúng ta gọi là Nghĩa vụ quân sự; Đặt ra phép quân điền cùng với việc xây dựng quân đội chính quy, thiện chiến làm cho đất nước luôn ở trong tình trạng đầy đủ sức mạnh để đặt tan mọi mưu toan xâm lược * Giữ nghiêm kỷ cương phép nước Người xưa có nói: “Mọi sự rối loạn đều bắt đầu từ sự rối loạn về kỷ cương. Giữ nghiêm kỷ cương là phải giữ gìn từ những kỷ cương hàng ngày, từ những điều tưởng chừng như là nhỏ nhặt nhất. Kỷ cương nhỏ nhặt nhất không giữ được thì làm sao giữ nổi kỷ cương phép nước”. Khi ban hành dụ: “Hiệu định quan chế”, nhà vua đã nói rõ:”Từ nay con cháu ta nên biết thể chế này ban hành là do việc bất đắc dĩ. Một khi pháp độ đã định, nên kính giữ noi theo. Chớ có cậy thông minh, bàn xằng triều trước mà sửa đổi làm cho pháp điển ngửa nghiêng để tự hãm vào điều bất hiếu. Kẻ làm bầy tôi giúp giập, cũng nên kính giữ phép thường, cố giúp mãi vua ngươi, khiến noi công trước, để mãi tránh khỏi tội lỗi. Bằng dám có dẫn xằng phép trước, luận càn đến một quan, đối một chức, chính thị là bầy tôi phản nghịch, làm rối loạn phép nước thì bị giết bỏ giữa chợ không thương, gia thuộc đều bị đầy ra nơi biên viễn để rõ cái tội làm tôi không trung, ngỏ hầu muôn đời sau biết đến cái ý sáng chế lập pháp còn ngự ở đấy vậy”. Vua Lê Thánh Tông đặc biệt đề cao trách nhiệm của quan lại. Ông nói: “Các quan viên là những người gân guốc của xóm làng nhờ đó mà chính được phong tục. Vậy phải lấy lễ, nghĩa, liêm, sĩ mà dạy dân khiến cho dân xu hướng về chữ nhân, chữ nhượng, bỏ hết lòng gian phi, để cho dân được an cư, lạc nghiệp, giàu có đông đúc, mình cũng được tiếng là người trưởng giả trong làng”. * Chấn hưng nông nghiệp, coi nông nghiệp là nền tảng của sự ổn định kinh tế xã hội Dưới chế độ phong kiến, nông nghiệp là nền tảng của xã hội. Quả là đúng, khi Nhà Vua anh minh ấy, ngay từ ngày đầu lên trị vì đã lấy việc mở mang nông nghiệp làm trọng. Trước hết, trong việc cải cách hành chính, Nhà Vua đã đặt ra các cơ quan chuyên trách về việc chấn hưng nông nghiệp như đặt ra bốn cơ quan mới: Sở tầm tang chuyên chăm lo khuyến khích việc trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa; Sở thực thái chuyên lo việc trồng rau; Sở điền mục chuyên lo việc chăn nuôi gia súc, gia cầm và Sở đồn điền chuyên lo việc ruộng đất. ông còn đặt thêm chức quan mới: Quan Hà đê để chăm lo việc đắp đê, hộ đê, phòng chống bão lụt. Nhà vua Lê Thánh Tông đặc biệt coi trọng việc đắp đập, tu sửa đê điều để đề phòng bão lụt. Trong Bộ luật Hồng Đức có hai điều quy định khá tỷ mỉ về vấn đề này: “Việc sửa đê những sông lớn bắt đầu từ ngày mồng 10 tháng giêng, người xã nào ở trong đường đê phải đến nhận phần đắp đê, hạn trong hai tháng đến ngày mồng 10 tháng 3 thì làm xong. Những đường đê mới đắp hạn trong 3 tháng phải đắp xong. Quan lộ phải năng đến xem xét, quan coi đê phải đốc thúc hàng ngày. Nếu không cố gắng làm để quá hạn mà không xong thì quan lộ bị phạt, quan giám bị biếm. Quân lính và dân binh không theo thời hạn đến làm và không chăm chỉ sửa đê, để quá hạn không xong thì bị trượng hoặc biếm”. * Mở rộng giao lưu khuyến khích thương nghiệp lành mạnh Để tạo thuận tiên cho việc mua bán, lẽ dĩ nhiên phải có nơi buôn bán. Nhà Vua Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng: “Trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hoá, mở đường giao dịch cho dân. Các xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới. Những ngày họp chợ mới không được trùng hay trước ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách hàng của nhau”. Có thể dưới thời Lê Thánh Tông các chợ được mở mang nhiều. ở các xã lớn hoặc mấy xã ở gần nhau thường có một chợ chung, họp hàng ngày. Trung tâm buôn bán ở nông thôn còn lưu lại đến ngày nay là các chợ phiên thường mở vào những ngày nhất định trong tháng. Chợ phiên là nơi mua bán sầm uất, có nhiều mặt hàng nhất. Chính nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Kinh đô Thăng Long 36 phố phường sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay, đã có lịch sử hình thành trên 500 năm – Nghĩa là từ thời gian dưới triều vua Lê Thánh Tông. Phường Yên Thái làm giấy, Phường Nghi Tàm dệt vải lụa, Phường Hà Tân nung vôi, Phường Hàng Đào nhuộm điều, Phường Ngũ Xá đúc đồng và nhiều phường khác nữa mỗi khi nhắc đến tên đã là người Việt Nam, ai ai cũng đều lấy làm tự hào về những di sản của cha ông đẻ lại cho con cháu. Dưới thời trị vì của Vua Lê Thánh Tông hàng hoá từ kinh đô Thăng Long về các nơi trung tâm buôn bán các địa phương trong cả nước, luôn luôn tấp nập xuôi ngược như những dòng suối cuộn chảy ngày đêm không bao giờ ngừng. * Bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, trừng trị nghiêm khắc những hành vi ức hiếp, đục khoét dân lành của quan lại Vua Lê Thánh Tông trong ý thức và hành động của mình lại lấy dân làm quý. Ông chăm lo rất chu đáo đến sự ấm no cho dân. Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất là bằng cách cải cách pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất, là cái quyền gốc cho việc thực hiện các quyền tiếp theo đảm bảo quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc cho người nông dân. Trong Bộ luật Hồng Đức đã có những điều luật quy định việc trừng phạt những hành vi vi phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt ruộng đất của người nông dân như: Tranh giành đất đai trái với chúc thư (đ.354), nhận bừa ruộng đất của người khác (đ.344), hà hiếp, bức hại để mua ruộng đất của người khác (đ.355), tá điền cấy rẽ mà trở mặt ăn cướp (đ.356), xâm lấn bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ giới mốc (đ.357), chặt cây trong khu mộ địa của người khác (đ.358), cấy trộm vào phần đất, phần mộ của người khác, chôn cất trộm vào ruộng của người khác (đ.359), ruộng đất đang tranh chấp mà đánh người để gặt lấy lúa má (đ.360), cấy rẽ ruộng công hay tư, không báo cho chủ mà tự tiện đến gặt (đ.361), các nhà quyền quý chiếm đoạt ruộng đất ao đầm của nhân dân, từ một mẫu trở lên thì xử tội phạt, từ năm mẫu trở lên thì xử tội biếm. Quan tam phẩm trở xuống thì xử tăng thêm hai bậc và phải bồi thường như luật định (đ.370). Bộ luật Hồng Đức còn có cả những điều quy định nhằm bảo vệ quyền sở hữu ruộng đất cho trẻ em và người già như: “Chồng chết con còn nhỏ, vợ tái giá mà bán điền sản của con (đ.377), cha mẹ còn sống mà bán trộm điền sản (đ.378), người trong họ tự tiện bán ruộng của đứa cháu mồ côi (đ.379) đều bị xử phạt”. * Bênh vực và bảo vệ quyền lợi phụ nữ Triều Lê là một triều đại trọng Nho giáo, tức là những quy định khắt khe của Nho giáo với người phụ nữ như “tam tòng tứ đức” được coi trọng. Tuy nhiên trong bộ luật đương thời của triều đình cũng có một số đIũu luật được coi là cách tân bảo vệ quyền lợi người phụ nữ. Một số đIều luật quy định: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ năm tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và quan xã làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì hạn một năm. Vì việc quan đi xa thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ củamình thì phải tội biếm (đ.308)”. Cùng với mục đích bênh vực phụ nữ, trong Bộ luật Hồng Đức còn có điều quy định rằng: “Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn nếu người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán gia sản thì cho phép người con gái kêu quan mà trả lại đồ lễ. Nếu người con gái bị ác tật hay phạm tội thì không phải trả lại đồ lễ, trái luật bị phạt 80 trượng (đ.322)” hoặc: “Những nhà quyền thế mà ức hiếp để mà lấy con gái nhà lương dân, thì xử tội phạt biếm, hay đồ (đ.338)”. * Khuyến khích nuôi dưỡng thuần phong mỹ tục Trong Bộ luật Hồng Đức còn có những điều đặt ra với mục đích để bảo vệ thuần phong mỹ tục. Ví dụ: Để khuyến khích tình thương yêu đồng loại, đồng tộc, đồng bào trong Bộ luật Hồng Đức có quy định các điều luật như: “Thôn, phường phải giúp đỡ kẻ ốm đau không nơi nương tựa, phải chôn cất những người chết đường (đ.294)”; “Phải chăm sóc người cô quả tàn tật không nơi nương tựa (đ.295), bắt được trẻ lạc phải báo quan (đ.604)”, có người chết đường, dân sở tại phải chôn cất (đ.607). * Chính sách hình sự nghiêm nhưng độ lượng Tính nghiêm minh trong chính sách hình sự ở Bộ luật Hồng Đức trước hết được thể hiện ở chỗ các tội ác nào được coi là tội nặng. Các tội được gọi là “tội ác” gồm có 10 loại: “Thập ác” bao gồm: 1. Mưu phản là các tội xâm phạm đến an ninh tổ quốc, đến vẹn toàn lãnh thổ quốc gia. 2. Mưu đại nghịch là các tội chống lại tính mạng, tài sản nhà vua. 3. Mưu chống đối là các tội làm gián điệp hoặc cấu kết với nước ngoài chống lại tổ quốc. 4. ác nghịch là các tội đánh giết ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em ruột thịt… 5. Bất đạo là các tội thể hiện tính đặc biệt man rợ, tàn ác như giết 3 người trở lên một lúc, giết xong rồi lại chặt nạn nhân thành từng mảnh, dùng thuốc độc giết người. 6. Đại bất kính là các tội ăn trộm đồ thờ cúng trong lăng miếu của nhà vua, làm giả ấn tín nhà vua, bất cẩn trong việc chăm nom thuốc thang, ăn uống và phục dịch các nhu cầu khác của nhà vua. 7. Bất hiếu là các tội tố cáo hoặc dùng lời lẽ để chửi mắng, bỏ đói, bỏ rét ông bà, cha mẹ, hoặc khi có tang ông bà cha mẹ lại không để tang mà nhởn nhơ vui chơi. 8. Bất mục là giết hoặc đem bán những người trong họ từ hàng phải để tang từ 3 tháng trở lên, đánh đập và tố cáo chồng. 9. Bất nghĩa là tội giết các quan chức trong hạt, học trò giết thầy học, chồng chết mà không cử ai (để tang – chú thích của tác giả) mà lại vui chơi, ăn mặc như thường. 10. Nổi loạn là các tội loạn luân. Như vậy theo chính sách hình sự của nhà vua Lê Thánh Tông đã được thể hiện trong Bộ luật Hồng Đức thì ngoài các tội xâm phạm đến an ninh quốc gia, xâm phạm đến quyền lợi của Nhà Vua, thì các loại tội xâm phạm đến thuần phong mỹ tục như: Bất đạo, bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân cũng được coi là những tội ác, thường bị xử phạt với hình thức cao nhất là tử hình.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!