Đề Xuất 2/2023 # Nhìn Lại Thực Hiện Dự Án 2 – Chương Trình 135 Thuộc Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Tỉnh Thái Nguyên # Top 7 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 2/2023 # Nhìn Lại Thực Hiện Dự Án 2 – Chương Trình 135 Thuộc Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Tỉnh Thái Nguyên # Top 7 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhìn Lại Thực Hiện Dự Án 2 – Chương Trình 135 Thuộc Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Tỉnh Thái Nguyên mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có diện tích tự nhiên 3.533 km2, dân số trên 1,2 triệu người, trong đó có trên 35% dân số ở vùng đô thị, gần 65% dân số ở vùng nông thôn; có 46 thành phần dân tộc, trong đó có 08 dân tộc có số dân trên 2.000 người là Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Mông, Hoa; dân tộc thiểu số (DTTS) có hơn 384 nghìn người, chiếm 29.87% dân số toàn tỉnh. Toàn tỉnh có 09 đơn vị hành chính cấp huyện (06 huyện, 02 thành phố, 01 thị xã, trong đó có 04 huyện miền núi, 01 huyện vùng cao); có 124 xã, thị trấn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 25 xã, phường, thị trấn khu vực I, 63 xã, thị trấn khu vực II, 36 xã khu vực III.

Ngày 02/9/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1722/QĐ-TTg  phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 có 05 dự án thành phần; trong đó Dự án 2 – Chương trình 135. Năm 2016, tỉnh Thái Nguyên có 70 xã và 46 xóm ĐBKK ở xã KV II hưởng Chương trình 135; từ năm 2017, có 63 xã và 94 xóm ĐBKK ở xã KV II hưởng Chương trình 135; đến năm 2020 có 44 xã và 19 xóm ĐBKK ở xã KV II hưởng Chương trình 135.

Về kết quả nổi bật trong việc triển khai Chương trình 135 giai đoạn 2016 – 2019 trên địa bàn tỉnh như sau:

Tổng vốn thực hiện Chương trình 135 là 444 tỷ đồng, trong đó: ngân sách trung ương là 416,2 tỷ đồng; ngân sách địa phương đối ứng thực hiện là 27,8 tỷ đồng.

– Tiểu dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo: Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế: trong 4 năm 2016-2019 đã xây dựng 382 dự án hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư sản xuất, mua sắm trang thiết bị công cụ chế biến bảo quản sản phẩm sau thu hoạch, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật… cho 34.877 lượt hộ, tạo điều kiện tích cực cho đồng bào các dân tộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước thay đổi tập quán sản xuất; Nhân rộng mô hình giảm nghèo: thực hiện 45 mô hình phát triển xuất xuất cho 680 hộ được hỗ trợ.

– Tiểu dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng: đã đầu tư xây dựng 368 công trình, trong đó: giao thông 238CT, thuỷ lợi 45CT, điện 18CT, trường học 28CT, trạm y tế 03CT, nhà văn hoá 33CT, nước sinh hoạt 03CT.

– Duy tu, bảo dưỡng các công trình sau đầu tư: đã thực hiện duy tu bảo dưỡng 145 công trình, hầu hết giao cho các xã làm chủ đầu tư thực hiện duy tu, bảo dưỡng.

– Tiểu dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ và cộng đồng: tổ chức 19 đoàn đi học tập, trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình 135, các chính sách dân tộc và mô hình phát triển kinh tế có hiệu quả  tại tỉnh bạn; tổ chức 80 lớp tập huấn với hơn 06 nghìn học viên tham gia tập huấn về công tác dân tộc, tôn giáo, chính sách dân tộc, kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, công tác lập kế hoạch, nghiệp vụ tài chính kế toán, nghiệp vụ giám sát đầu tư …

Các đại biểu người có uy tín dự tập huấn Chương trình 135 năm 2017

Thực hiện Quyết định số 03/2019/QĐ-TTg ngày 15/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chí xác định xã, thôn hoàn thành mục tiêu Dự án 2 (Chương trình 135) thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; Công văn số 146/UBDT-VP135 ngày 28/02/2019 của Ủy ban Dân tộc về việc thực hiện Quyết định số 03/2019/QĐ-TTg ngày 15/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ. Ban Dân tộc đã chủ trì rà soát, đánh giá, xét xã hoàn thành Chương trình 135 trên địa bàn tỉnh; sau khi tổng hợp kết quả rà soát của UBND cấp huyện và phối hợp với các sở ngành ở tỉnh thẩm định, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh trình Chính phủ và Ủy ban Dân tộc xem xét, quyết định; theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban Dân tộc, tỉnh Thái Nguyên có 19 xã/ 63 xã và 75 thôn bản/94 thôn bản  hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 (theo Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ công nhận danh sách xã hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn 2017-2020 và Quyết định số 958/QĐ-UBDT ngày 13/12/2019 của Ủy ban Dân tộc công nhận danh sách thôn đặc biệt khó khăn hoàn thành mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn 2017-2020).

Kết quả giảm nghèo giai đoạn 2016-2019: giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 5%/năm ở các xã hưởng CT135 – vượt mục tiêu đề ra của Chương trình 135 là giảm 4%, của tỉnh Thái Nguyên giảm 2%/năm hộ nghèo toàn tỉnh và các xã đặc biệt khó khăn giảm 3,5%/năm.

Đạt được những kết quả trên, là nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, HĐND, sự quản lý điều hành của UBND tỉnh, sự nhiệt tình phối hợp thực hiện của các cấp, các ngành trong tỉnh, các cấp chính quyền địa phương tổ chức thực hiện kịp thời, đảm bảo chính sách đúng quy định của chương trình. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình 135 tại các địa phương vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc như sau: Các bộ, ngành trung ương còn chậm ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn thực hiện, ảnh hưởng đến công tác chỉ đạo thực hiện CT135 ở cơ sở (Ngày 20/6/2017, Thủ tướng Chính phủ mới có Quyết định số 900/QĐ-TTg phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn 2017-2020; ngày 09/10/2017, Bộ Nông nghiệp và PTNT mới có Thông tư số 18/2017/TT-BNNPTNT ngày 09/10/2017 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn một số nội dung thực hiện hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020). Về cơ chế thực hiện: việc lồng ghép Chương trình 135 với các chương trình dự án khác trên địa bàn còn hạn chế vì mỗi chương trình, dự án có những cơ chế quản lý, qui định riêng; Về quy trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án hỗ trợ phát triển sản xuất còn rất phức tạp, khó khăn cho việc triển khai thực hiện ở cơ sở.

Thực hiện Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, đề nghị Chính phủ khẩn trương ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. Về cơ chế đầu tư: đề nghị Chính phủ có quy định thống nhất với quy định chung trong đầu tư xây dựng, tránh tình trạng cùng cấp xã làm chủ đầu tư nhưng mỗi chương trình, mỗi nguồn vốn lại yêu cầu cơ chế thực hiện, cơ chế tài chính, mức đối ứng đóng góp của nhân dân, thủ tục khác nhau … Có quy định, hướng dẫn cụ thể từ trung ương về việc lồng ghép các nguồn vốn cùng thực hiện trên địa bàn xã, hồ sơ thủ tục thanh quyết toán./.

Huyện Đam Rông: Nhìn Lại 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Về Chương Trình Hỗ Trợ Giảm Nghèo Nhanh Và Bền Vững

Trước khi huyện có Nghị quyết 30a, điều kiện kinh tế – xã hội của huyện hết sức khó khăn: cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn nhiều thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 73,19%, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 2,6 triệu đồng/người/năm, trình độ dân trí và trình độ canh tác lạc hậu; trong khi đó đội ngũ cán bộ về đảm nhận công tác được tập hợp từ nhiều nguồn, vừa thiếu, vừa chưa am hiểu hết tình hình thực tế tại địa phương, điều kiện làm việc và ăn ở hết sức khó khăn.

Từ khi thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về phát triển kinh tế – xã hội, gắn với thực hiện nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo cả nước. Nhờ đó, tình hình kinh tế – xã hội và diện mạo vùng đồng bào dân tộc huyện Đam Rông có sự thay đổi và phát triển đáng kể. Hàng năm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch dần theo hướng tích cực, kết cấu hạ tầng (điện – đường – trường – trạm) được đầu tư tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ; công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được những kết quả khả quan (tỷ lệ hộ nghèo chung toàn huyện đến nay giảm còn 27,47%,trong đó tỷ lệ hộ nghèo là người đồng bào dân tộc thiểu số giảm còn 89,79%); đời sống nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện rõ ( tỷ lệ hộ dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 90,06%, tỷ lệ hộ dùng điện đạt 98%, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế toàn dân đạt trên 96%…). Giáo dục và đào tạo ngày một phát triển, cơ sở trường lớp được đầu tư xây dựng khang trang đáp ứng nhu cầu dạy và học tập cho con em các dân tộc trên địa bàn; bản sắc văn hóa của các dân tộc được giữ gìn và phát huy. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân luôn được quan tâm chăm lo; đoàn kết giữa các tôn giáo và dân tộc được củng cố; hệ thống chính trị được chăm lo xây dựng; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững…

Với những hiệu quả thiết thực, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiệu quả đó đã được hiện hữu bằng sự thay đổi từng ngày diện mạo vùng nông thôn miền núi nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Đam Rông nói riêng.

Theo đánh giá của huyện Đam Rông, qua 10 năm ( 2008 – 2018) triển khai thực hiện Chương trình theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, công tác giảm nghèo của địa phương đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, mặc dù điều kiện xuất phát điểm thấp và gặp nhiều khó khăn thách thức nhưng Đảng bộ, Chính quyền, các cấp, các ngành và nhân dân trong huyện Đam Rông đã quyết tâm nỗ lực, phấn đấu không ngừng để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, và gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng.

Theo đó, sản xuất nông nghiệp phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân 24,67%/năm), đã từng bước có sự gắn kết giữa khâu thu hoạch và bảo quản, chế biến sản phẩm sau thu hoạch, góp phần nâng cao chất lượng, giá trị nông sản, từng bước tạo chuỗi liên kết trong sản xuất. Công tác giảm nghèo đạt được kết quả khả quan, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đói, nhà ở tạm bợ; hầu hết các chỉ tiêu đều đạt trên 80% so với Đề án được phê duyệt, triển khai đồng bộ, kịp thời các chính sách hỗ trợ đến đối tượng hưởng thụ. Việc tổ chức phân bổ, lồng ghép các nguồn vốn được kịp thời, theo hướng linh hoạt ưu tiên các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ trực tiếp đến người dân, đặc biệt là các đối tượng hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS góp phần tăng thu nhập của các hộ nông dân ngày càng được cải thiện, nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh theo đúng mục tiêu đề ra. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi cơ bản chuyển dịch đúng hướng, từng bước đi vào khai thác lợi thế từng vùng, từng địa phương; việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật được quan tâm thực hiện. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Kết quả giá trị sản xuất ngành nông – lâm – thủy chiếm 48,76%; công nghiệp – xây dựng chiếm 13,56%; thương mại – dịch vụ chiếm 37,68%.

Hệ thống giao thông các tuyến đường huyết mạch cơ bản đã được hoàn chỉnh và bê tông hóa, 8/8 xã có đường nhựa đến trung tâm xã, mở mới trên 50 km đường liên thôn, liên xã, nâng cấp trên 40 km đường giao thông nông thôn và xây 04 cây cầu dài hơn 03 km đảm bảo giao thông đi lại cả 02 mùa mưa và nắng; hệ thống thủy lợi được duy trì và mở rộng, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, trong đó có một số công trình nổi bật như: hồ chứa nước Đạ Chao, hồ chứa nước Đạ Nòng, hồ thủy lợi Phi Liêng, đập dâng nước Đạ Ral. Đồng thời, kiên cố hóa 25km kênh mương nội đồng nâng tổng số công trình thủy lợi của huyện lên 80 công trình với diện tích tưới đạt khoảng 2.025ha; hệ thống điện lưới quốc gia được xây dựng lắp đặt với 33 km đường dây 500KV, 112 km đường dây 22 KV, 158 km đường dây hạ thế, 01 trạm biến áp trung gian và 118 trạm biến áp phân phối, đảm bảo cung cấp đủ điện để phục vụ sản xuất và đời sống cho 98% số hộ dân.

Hệ thống mạng lưới trường lớp ở các cấp học, bậc học phát triển đồng bộ và từng bước kiên cố hoá đáp ứng nhu cầu dạy và học (năm học 2017-2018, toàn huyện có 37 trường với 501 phòng học) đặc biệt trên địa bàn huyện đã có trường Dân tộc nội trú, trường Dạy nghề và Trung tâm giáo dục thường xuyên được xây dựng đáp ứng nhu cầu dạy và học; cơ sở vật chất ngành Y tế được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp đến nay trên địa bàn huyện đã có 01 Trung tâm Y tế, 08 Trạm Y tế xã, 02 phòng khám khu vực (trong đó 6/8 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 100% trạm y tế có bác sỹ và nữ hộ sinh, có nhân viên y tế thôn bản) đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân); 8/8 xã có Nhà văn hóa, bưu điện xã được xây dựng khang trang…

Điểm nổi bật là trong giai đoạn 2009-2018, là thời gian trọng tâm huyện Đam Rông thực hiện đột phá, tăng tốc nhiệm vụ giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ của Chính phủ với các nội dung được triển khai đồng bộ và quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm đã giúp cho hộ nghèo, cận nghèo nhất là người đồng bào DTTS có thêm tư liệu về sản xuất và thông qua nguồn vốn được bố trí để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo là 578.692 triệu đồng (Trong đó, nguồn vốn xây dựng cơ bản: 333.863 triệu đồng, giải ngân đạt 97%; nguồn vốn sự nghiệp: 90.073 triệu đồng, giải ngân đạt 96; các Tập đoàn, doanh nghiệp hỗ trợ là 154.756 triệu đồng, giải ngân đạt 98%).

Mô hình trồng cà phê đem lại kinh tế cao góp phần giảm nghèo bền vững ở Đam Rông ( Lâm Đồng)

Thông qua các nguồn vốn này, huyện đã triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ giảm nghèo như: Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm thông qua việc giao đất trồng rừng và giao khoán quản lý bảo vệ rừng (bình quân mỗi hộ nhận giao khoán quản lý bảo vệ từ 10 – 14 ha và nhận từ 0,8 – 1,2 ha đất lâm nghiệp để trồng rừng). Trong đó, trồng rừng được 3.658,45 ha/2.635 hộ (đã khai thác được 446,92 ha/391 hộ); Giao khoán QLBVR được 38.555,28 ha/2.640 hộ; Khai hoang 60ha/65 hộ/500 triệu đồng, phục hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp 250 ha/539 hộ/700 triệu đồng, góp phân duy trì độ che phủ của rừng đạt 63,9%, đặc biệt đãnâng cao được tư duy, nhận thức của người dân trong sản xuất, trong làm ăn phát triển kinh tế hộ gia đình vươn lên thoát nghèo bền vững.

Đồng thời, tổ chức nhân rộng 108 mô hình giảm nghèo, với kinh phí 1.313,9 triệu đồng (2 mô hình cánh đồng lúa mẫu tại xã Đạ M’Rông, 2 mô hình trồng nấm mèo, 30 mô hình trồng bưởi da xanh, 47 mô hình trồng dâu nuôi tằm, 27 mô hình nuôi dê bách thảo) cho 321 hộ, các mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cao và hiện đang được nhân rộng để người dân học tập và ứng dụng rộng rãi. Hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi với kinh phí là 67.670 triệu đồng cho 41.349 lượt hộ nghèo, cận nghèo, hộ thoát nghèo nhằm tạo điều kiện, nguồn lực tốt để phát triển kinh tế gia đình, vươn lên thoát nghèo bền vững. Phần lớn hộ nghèo được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất như giống cây trồng, vật nuôi, chuồng trại, phân bón, thuốc trừ sâu,…

Từ các chương trình đầu tư hỗ trợ sản xuất, công tác khuyến nông, khuyến lâm, đến nay nhiều hộ đã biết áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào chăm sóc cây trồng vật nuôi; một số mô hình đã được thực hiện có hiệu quả (năng suất lúa tăng từ 35 tạ /ha lên 45,5 tạ/ha; ngô từ 36 tạ/ha lên 50 tạ/ha; mô hình nuôi gà (chu kỳ 03 tháng) cho thu nhập 8 triệu đồng – 10 triệu đồng/mô hình) bước đầu tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần ổn định kinh tế hộ gia đình.

Ngoài ra, từ nguồn vốn hỗ trợ 30a, huyện cũng đã bố trí xây dựng 38 công trình cơ sở, vật chất trường học, góp phần tạo môi trường học tập tốt cho học sinh. Tổ chức đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn được 78 lớp/2.382 học viên/2.244 triệu đồng, tập trung vào một số ngành nghề truyền thống của địa phương như: đan móc len, trồng rừng, trồng và chăm sóc cà phê,…Bên cạnh đó, tổ chức 62 lớp đào tạo bồi dưỡng chuyên môn về tin học, tiếng dân tộc, khen thưởng, tôn giáo,…cho 4.868 lượt cán bộ, công chức với kinh phí 1.902 triệu đồng. Đồg thời hỗ trợ xuất khẩu lao động cho 187 lao động chủ yếu đi làm việc ở thị trường Malayxia, ả rập… Có thể nói, nhờ có chương trình giảm nghèo 30a, phần lớn hộ nghèo đã được hỗ trợ trực tiếp trong sản xuất như hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, chuồng trại, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất; người dân đã biết làm chuồng trại, biết trồng cỏ, dự trữ thức ăn cho gia súc, gia cầm. Việc giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng bước đầu tạo điều kiện cho một bộ phận hộ nghèo có thêm việc làm, tăng thu nhập. Bên cạnh đó, hộ nghèo, hộ đồng bào DTTS đã chuyển biến rõ rệt trong nhận thức như: biết cách làm ăn, chi tiêu tiết kiệm, biết áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; xóa dần tư tưởng trông chờ ỷ lại, phấn đấu vươn lên thoát nghèo và làm giàu chính đáng.

Với nỗ lực đó, nhìn lại 10 năm thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ, Chương trình giảm nghèo ở Đam Rông đã đạt được nhiều kết quả khả quan, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh theo đúng mục tiêu đề ra, tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2017 còn 27,47% (hộ nghèo ĐBDTTS còn 3.141 hộ, tỷ lệ 89,79%); hộ cận nghèo 2.860 hộ, tỷ lệ 22,46% (giảm 7,74% so với cùng kỳ). Tỷ lệ hộ nghèo từ năm 2016 đến đầu năm 2018, bình quân mỗi năm giảm 3,21%.

Bên cạnh những kết quả đạt được công tác giảm nghèo của Đam Rông vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế như: Việc lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế – xã hội với Chương trình giảm nghèo ở huyện còn hạn chế về cơ chế chính sách chưa hiệu quả. Hiện người nghèo đang được hưởng thụ nhiều chính sách hỗ trợ, đặc biệt là các chính sách hỗ trực tiếp (chính sách BHTY, chính sách hỗ trợ giáo dục,…), dẫn đến vẫn còn mang nặng tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, chưa thực sự cố gắng vươn lên để thoát nghèo nên công tác rà soát, bình xét hộ nghèo hằng năm ở cở sở xã gặp nhiều khó khăn.

Kết quả giảm nghèo vẫn chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao, nhất là khi có thiên tai, dịch bệnh xảy ra, còn có tình trạng bỏ hoang đất, chưa chú trọng chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trong chăn nuôi khiến cho tỷ lệ rủi ro cao. Đa số hộ nghèo không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, hoặc nắm bắt khoa học kỹ thuật còn chậm; một số đồng bào dân tộc thiểu số còn lưu giữ và làm việc theo các phong tục tập quán lạc hậu, trình độ canh tác còn hạn chế, chưa biết vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất…Nguồn lực để thực hiện các mục tiêu thuộc Chương trình giảm nghèo còn hạn chế và việc huy động nguồn lực xã hội hoá đầu tư cho công tác giảm nghèo chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương.

Hoàng Cảnh

Nghị Quyết 32/2016/Qh14 Thực Hiện Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Xây Dựng Nông Thôn Mới 2022

VỀ TIẾP TỤC NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI GẮN VỚI CƠ CẤU LẠI NGÀNH NÔNG NGHIỆP

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Căn cứ Luật hoạt động giáCăn cứ Nghị quyết số 91/2015/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Quốc hội về Chương trình hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2016; Trên cơ sở xem xét Báo cáQUYẾT NGHỊ: Điều 1 44/BC-UBTVQH14 ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp, Báo cáo số 67/BC-UBTVQH14 ngày 22 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tiếp thu, giải trình ý kiến của các vị đại biể m sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13; Điều 2

Quốc hội tán thành Báo cáo giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội về kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân trong việc ban hành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (gọi tắt là Chương trình) giai đoạn 2010 – 2015 gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và các kiến nghị, đề xuất:

Qua 5 năm thực hiện Chương trình, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi tích cực, nhất là hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật; mô hình sản xuất tập trung bước đầu được hình thành; thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện; nhận thức của cán bộ, người dân về xây dựng nông thôn mới được nâng lên. Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp cả nước.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Chương trình còn những hạn chế, vướng mắc như: việc ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện còn chậm, chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ; một số tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế và đặc thù của mỗi vùng, miền, địa phương; công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, chất lượng chưa cao. Kết quả xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều, còn khoảng cách lớn giữa các địa phương và vùng, miền. Nhiều địa phương quá chú trọng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, chưa quan tâm đúng mức đến đời sống văn hóa, tinh thần, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của người dân; có địa phương còn huy động đóng góp quá mức so với thu nhập của người dân. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp còn chậm, chưa thực sự gắn với xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu. Cơ cấu kinh tế nông thôn chưa có sự thay đổi lớn; phát triển mô hình hợp tác xã theo Luật hợp tác xã, các mô hình liên doanh, liên kết và thu hút doanh nghiệp còn hạn chế; sự gắn kết giữa công nghiệp và dịch vụ với sản xuất nông nghiệp thiếu chặt chẽ, chưa bền vững; cơ chế, chính sách khuyến khích tích tụ ruộng đất tạo mô hình sản xuất hàng hóa tập trung chưa đủ mạnh, rõ ràng; mối liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, việc áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế; chưa tạo được những sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu quốc gia, giá trị gia tăng cao. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu; nợ đọng xây dựng cơ bản ở một số địa phương còn lớn; ô nhiễm môi trường nông thôn đang đặt ra nhiều thách thức. Vai trò chủ thể của người dân tại nhiều nơi chưa thực sự được phát huy.

Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc nêu trên, ngoài lý do điều kiện tự nhiên, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền; sự phối hợp thiếu chặt chẽ giữa các bộ, ngành trung ương; nhận thức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của một bộ phận cán bộ, nhất là ở cơ sở còn hạn chế, còn có trách nhiệm của các bộ, ngành trung ương trong việc chậm ban hành văn bản hướng dẫn đã ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả thực hiện Chương trình; trách nhiệm của một số địa phương, cơ sở không thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về đầu tư công gây nợ đọng xây dựng cơ bản lớn.

Để tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực hiện Chương trình trong giai đoạn tới, phấn đấu đến năm 2020 cả nước có khoảng 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, Quốc hội yêu cầu Chính phủ tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 – 2020 và tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

1. Nghiên cứu sửa đổi những tiêu chí chưa phù hợp của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020. Xây dựng các tiêu chí nâng cao để áp dụng cho các xã đã đạt chuẩn nông thôn mới. Ban hành kịp thời, đồng bộ các văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình; rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch không còn phù hợp.

2. Chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương rà soát, xác định chính xác số nợ đọng xây dựng cơ bản của Chương trình. Xây dựng kế hoạch, lộ trình xử lý dứt điểm trước năm 2019, không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản mới. Riêng các địa phương tự cân đối ngân sách (trừ tỉnh Quảng Ngãi theo Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 – 2020) phải chủ động bố trí ngân sách địa phương để cơ bản xử lý dứt điểm số nợ đọng trước tháng 6 năm 2018.

Kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm tổ chức và cá nhân người đứng đầu để xảy ra tình trạng huy động quá sức dân, nợ đọng xây dựng cơ bản sai quy định, có hành vi tham nhũng, trục lợi trong thực hiện Chương trình.

3. Việc triển khai Chương trình phải chú trọng đẩy mạnh sản xuất, đổi mới cơ cấu sản xuất, gắn kết chặt chẽ với quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm 2020, thu nhập bình quân khu vực nông thôn cả nước tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015; cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của người dân nông thôn như: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, vệ sinh môi trường.

Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, tạo môi trường thuận lợi cho các hợp tác xã nông nghiệp phát triển; phấn đấu đến năm 2020 có 15.000 hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả; thúc đẩy và nhân rộng các mô hình liên doanh, liên kết có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.

4. Nghiên cứu sửa đổi chính sách về đất đai để khuyến khích tích tụ ruộng đất, tiến hành cơ giới hóa, tạo điều kiện sản xuất hàng hóa lớn; có chính sách đột phá về khoa học và công nghệ để nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ mạnh hơn nữa để thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển nông thôn, nhất là các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp; tăng cường gắn kết 4 nhà (nhà nông, Nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học) trong sản xuất nông nghiệp tạo chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ sản phẩm; tăng sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế hướng tới một nền nông nghiệp hữu cơ, chất lượng và có giá trị kinh tế cao. Thực hiện hiệu quả việc chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 40%; nâng cao hiệu quả chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn.

5. Thực hiện phối hợp hiệu quả các nguồn vốn, ưu tiên tập trung cho đầu tư phát triển các mô hình sản xuất, nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm; gắn kết chặt chẽ giữa Chương trình với Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chương trình mục tiêu khác. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về huy động vốn, bảo đảm đầy đủ, kịp thời theo đúng cơ cấu; ngoài nguồn vốn đã được Quốc hội bố trí cần có giải pháp huy động thêm các nguồn lực hợp pháp khác; các địa phương phải có trách nhiệm bố trí đủ vốn ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật để thực hiện Chương trình. Ưu tiên nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách cho các xã đặc biệt khó khăn, các xã bãi ngang ven biển và hải đảo, xã nghèo, xã an toàn khu, vùng căn cứ cách mạng, xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

6. Ban hành chính sách bảo hiểm gắn với tái bảo hiểm sản phẩm nông nghiệp áp dụng cho các loại sản phẩm nông nghiệp chủ yếu.

Điều 3

7. Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới theo hướng chuyên nghiệp, chuyên trách nhưng không làm tăng biên chế; tăng cường đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ cộng đồng thôn, bản làm công tác xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản lý, các kỹ năng về thực hiện chương trình, lập, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện các dự án do cộng đồng dân cư tự thực hiện, tài chính, kế toán cho cán bộ thôn, xã làm công tác triển khai các dự án thuộc Chương trình.

8. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của các thành phần kinh tế và các tầng lớp nhân dân. Thường xuyên cập nhật, đưa tin phổ biến cách làm hay, các mô hình hiệu quả, gương điển hình tiên tiến về xây dựng nông thôn mới trên các phương tiện thông tin đại chúng. Kịp thời khuyến khích, động viên, khen thưởng tập thể, cá nhân điển hình trong phong trào xây dựng nông thôn mới.

Điều 4

9. Giữ vững mục tiêu bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội khu vực nông thôn, đồng thời có biện pháp hạn chế tiêu cực, tệ nạn xã hội, kiềm chế tai nạn giao thông, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao sức khỏe nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thị hóa nông thôn; giải quyết có hiệu quả, kịp thời các mâu thuẫn, tranh chấp trên địa bàn dân cư góp phần xây dựng đời sống văn hóa đoàn kết, dân chủ, văn minh; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của các vùng, miền. Sớm có giải pháp tích cực xử lý cơ bản vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn, làng nghề, tạo cảnh quan môi trường nông thôn mới xanh, sạch, đẹp và cải thiện điều kiện sống của dân cư.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2016.

10. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát và xử lý nghiêm đối với những vi phạm của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện Chương trình. Tiếp tục phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới. Hoàn thiện cơ chế để cộng đồng dân cư trực tiếp tham gia thực hiện, giám sát các dự án đầu tư nhằm nâng cao chất lượng dự án.

Giao Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện Nghị quyết này.

Hàng năm, Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện Nghị quyết này đồng thời với việc báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia tại Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Trang Thông Tin Chương Trình 135

Việt Nam chăm lo quyền lợi của các dân tộc thiểu số

Phiên họp lần thứ năm về vấn đề người thiểu số của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã diễn ra trong hai ngày 27 và 28/11 tại Geneva (Thụy Sĩ) với sự tham gia của các đại biểu từ nhiều quốc gia trên thế giới cùng đại diện các tổ…

Hơn 148 tỷ đồng đầu tư cho các huyện nghèo

Ngày 14.11, Đoàn kiểm của Trung ương gồm đại diện Bộ Quốc phòng, Kế hoạch & đầu tư, LĐ-TB&XH, Giao thông vận tải, do Đại tá Lương Văn Mạnh – Phó cục trưởng Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng) làm Trưởng đoàn đã có…

Hội nghị đánh giá thực hiện Chương trình 135; Dự án Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã, thôn đặc biệt khó khăn và Quyết định 102/2009/QĐ- TTg

Sáng 7/11, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị trực tuyến toàn tỉnh đánh giá thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, nguồn vốn 2011; Dự án Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã, thôn đặc biệt khó khăn năm 2012 và…

Tiếp tục đầu tư thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2012-2015

Ngày 29 tháng 10 năm 2012, Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội đã có văn bản số 258/UBTVQH13-TCNS do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký gửi Chính phủ về việc “mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian thực hiện và…

Nguy cơ tái nghèo và sự thiếu hụt chính sách cho hộ cận nghèo vùng đồng bào dân tộc và miền núi

Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội, năm 2011 cả nước ta còn trên 1,5 triệu hộ cận nghèo, trong đó tập trung chính ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Theo cách xác…

Nghị quyết 30a góp phần thay đổi diện mạo vùng Tây Bắc

Việc triển khai Nghị quyết 30a/CP của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trên cả nước, đã góp phần đẩy nhanh việc xóa đói giảm nghèo cho vùng…

27.509 tỷ đồng để giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015

Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phấn đấu đến hết năm 2015, 10% số huyện nghèo và 50% số xã…

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử gặp mặt, chúc Tết cán bộ, công chức, viên chức nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn 2012

Nhân dịp ngày làm việc đầu tiên xuân Nhâm Thìn 2012, sáng ngày 30/01/2012, tại Ủy ban Dân tộc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Giàng Seo Phử đã có buổi gặp mặt, chúc Tết cán bộ, công chức, viên chức toàn cơ quan. Dự buổi…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhìn Lại Thực Hiện Dự Án 2 – Chương Trình 135 Thuộc Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Tỉnh Thái Nguyên trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!