Đề Xuất 12/2022 # Nhiều Kết Quả Tích Cực Sau 03 Năm Thực Hiện… / 2023 # Top 18 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Nhiều Kết Quả Tích Cực Sau 03 Năm Thực Hiện… / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nhiều Kết Quả Tích Cực Sau 03 Năm Thực Hiện… / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chủ trì hội nghị đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, đồng chí Đào Việt Ánh, Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đồng chí Đinh Thị Mai, Vụ trưởng vụ Tuyên truyền, Ban Tuyên giáo Trung ương, đồng chí Nguyễn Ngọc Tâm, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ cùng đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, lãnh đạo Bảo hiểm xã hội các tỉnh phía Nam.

Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH được ban hành là dấu ấn quan trọng trong lĩnh vực BHXH. Nghị quyết số 28-NQ/TW đã được các chuyên gia trong nước, các chuyên gia của tổ chức lao động quốc tế (ILO) đánh giá là có những nội dung cải cách chính sách BHXH tiến bộ, tiệm cận với các tiêu chuẩn về an sinh xã hội trong các Công ước và Khuyến nghị của ILO.

Gần 03 năm qua, công tác tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chúc chính trị – xã hội và Nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của bảo hiểm xã hội; các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát và mục tiêu từng giai đoạn 2021, 2025, 2030, nội dung cải cách và giải pháp nêu trong Nghị quyết số 28-NQ/TW nâng lên rõ rệt. Các tầng lớp Nhân dân nhận thức được quyền và lợi ích khi tham gia bảo hiểm, hiểu rõ những hành vi nào là vi phạm chính sách, pháp luật; tự nguyện và tích cực tham gia bảo hiểm xã hội, góp phần quan trọng đạt những mục tiêu, chỉ tiêu của Chính phủ đề ra.

Thực hiện sự chỉ đạo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số người tham gia BHXH tự nguyện có gia tăng nhanh chóng. Đặc biệt, số người tham gia BHXH tự nguyện tăng mới trong năm 2019 đã bằng tổng số người số người tham gia BHXH tự nguyện phát triển được của cả 11 năm trước cộng lại.

Năm 2020, mặc dù bị ảnh hưởng đại dịch COVID-19 nhưng nhiều địa phương vẫn bảo đảm phát triển các chỉ tiêu cơ bản như: Kiên Giang, An Giang, Đà Nẵng, Bạc Liêu, Hậu Giang, Lâm Đồng, Khánh Hòa… Tỷ lệ nông dân và lao động phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số tỉnh tăng lên. Công tác cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ, tạo điều kiện tốt nhất cho người dân, mang lại sự hài lòng cho Nhân dân có chuyển biến tích cực.

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị trong thời gian tới cần chú trọng một số nội dung sau: Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy cần tham mưu quán triệt Nghị quyết số 28-NQ/TW có hiệu quả hơn; công tác tuyên truyền BHXH, BHYT thường xuyên, liên tục gắn với công tác an sinh xã hội ở địa phương; tiếp tục nghiên cứu nội dung tuyên truyền phù hợp, hiệu quả đối với từng đối tượng, kịp thời biểu dương khen thưởng đối với các địa phương, đơn vị có mô hình hay đồng thời phê phán những biểu hiện tiêu cực, sai trái, thiếu trách nhiệm trong triển khai chính sách; thường xuyên khảo sát, đánh giá công tác tuyên truyền và kiểm tra giám sát việc thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW tại địa phương, đơn vị nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; cần có chính sách và đãi ngộ đối với đội ngũ tham gia công tác tuyên truyền BHXH, BHYT.

TRÚC LINH

Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng: Đạt Kết Quả Tích Cực, Đáng Phấn Khởi / 2023

Đời sống vật chất, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện. Đa số cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân có cuộc sống vật chất, thu nhập “tốt hơn” so với giai đoạn trước năm 2016.

Đó là kết quả cuộc điều tra dư luận xã hội về “Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng” do Viện Dư luận xã hội triển khai vào cuối tháng 11 năm 2020. Mục đích cuộc điều tra nhằm tìm hiểu các ý kiến đánh giá của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Theo kết quả điều tra, đáng chú ý, nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước trên các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại, xây dựng Đảng, được đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá đã “đạt được kết quả tích cực, đáng phấn khởi”.

Trong đó, 11 nhiệm vụ có tỷ lệ cao (đạt từ 70% trở lên) cho rằng, đã đạt được kết quả đáng phấn khởi, cụ thể là:

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ (86%); phòng chống dịch bệnh (85%); giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội (81%); thể hiện ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước (80%); củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc (79%); phát huy quyền làm chủ của nhân dân, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc (79%); thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới (76%); thực hiện tốt chủ trương, chính sách đối với đồng bào dân tộc, tôn giáo (73%); cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng chính sách nông thôn mới (72%); bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, thực hiện tốt chính sách với người có công (72%); phòng, chống tham nhũng (71%).

Nhiều hiện tượng xấu, tiêu cực được đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá “đã giảm đi” như: hiện tượng mâu thuẫn, mất đoàn kết trong nhân dân; hiện tượng mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa tổ chức nhân dân với chính quyền; hiện tượng mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa tổ chức tôn giáo với chính quyền; hiện tượng mâu thuẫn, mất đoàn kết trong chi bộ, đảng bộ, cấp ủy đảng; tham nhũng, tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và toàn xã hội; kỷ cương, phép nước không nghiêm; mê tín dị đoan; quan liêu, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức; tệ nạn xã hội; sự cửa quyền, sách nhiễu của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan công quyền…

Hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở được dư luận đánh giá “tốt hơn” so với giai đoạn trước năm 2016.

Phần lớn cán bộ, đảng viên và nhân dân tin tưởng ý kiến góp ý của mình sẽ được lắng nghe, tiếp thu sửa đổi khi góp ý với tổ chức đảng, chính quyền ở cơ sở

Theo kết quả điều tra, có 16 nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XII được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân có tỷ lệ só người ghi nhận “đã đạt kết quả tích cực, đáng phấn khởi” cao hơn khi so sánh với kết quả cuộc điều tra 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

Đối tượng điều tra là cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân (từ 18 tuổi trở lên). Mẫu điều tra được chọn theo cách lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Địa bàn triển khai điều tra gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hà Giang, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Gia Lai, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bạc Liêu và một số cơ quan Trung ương.

Tổng số mẫu điều tra là 3.100 người.

Thu Hằng

Kết Quả Sau 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 06 / 2023

Sau gần 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU, ngày 14/12/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về “phát triển khoa hoạc và công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” (gọi tắt là Nghị quyết số 06-NQ/TU), trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động. Các địa phương, đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chỉ tiêu nghị quyết đã đề ra như:

Yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 34,9% (Nghị quyết đề ra đến năm 2020 đạt 35%); tốc độ đổi mới công nghệ/thiết bị đạt 15% công nghệ sản xuất các sản phẩm chủ yếu của tỉnh được đầu tư, đổi mới công nghệ tiên tiến, hiện đại; giá trị sản phẩm công nghệ cao và ứng dụng công nghệ cao đạt 20%. Đã xây dựng được các sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao, khối lượng lớn và thương hiệu mạnh như: Cam Vinh, trà hoa vàng, chanh leo, lúa Japonica, chè Nghệ An, trám đen Thanh Chương, rau hữu cơ, lạc Nghệ An, mía đường, gạo Nghệ An, bưởi hồng Quang Tiến, cá thu, nước mắm Vạn Phần…

Chỉ tiêu 100% sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 được chứng nhận và công bố hợp quy đạt kết quả tốt. Ngân sách đầu tư cho hoạt động KH&CN ngày càng được chú trọng. Việc phát triển các tổ chức và đội ngũ cán bộ KH&CN cơ bản đáp ứng yêu cầu. Hiện nay, trên toàn tỉnh có tổng số 71 đơn vị là các tổ chức KH&CN tham gia hoạt động nghiên cứu triển khai, ứng dụng KH&CN. Sàn giao dịch công nghệ đi vào hoạt động bước đầu đã có tầm ảnh hưởng đến các tỉnh bạn; nhân lực KH&CN ngày một nâng cao về số lượng và chất lượng.

Việc triển khai, thực hiện 4 nhiệm vụ của Nghị quyết từng bước đạt được những kết quả nhất định: Hoạt động nghiên cứu KH&CN gắn với ứng dụng được đẩy mạnh, đồng thời chuyển hướng khắc phục sự dàn trải thông qua xác định 6 lĩnh vực ưu tiên đầu tư KH&CN, gồm: Nông nghiệp công nghệ cao; y dược; khoa học, xã hội và nhân văn; KH&CN phục vụ phát triển kinh tế – xã hội các huyện, thị, thành; công nghệ thông tin; môi trường.

Sản xuất nông, lâm nghiệp được quan tâm đầu tư và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới. Từng bước bảo tồn, khai thác và phát triển đa dạng sinh học, quỹ gen quý hiếm nhằm phát huy giá trị khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An, nhất là các loại dược liệu như cây sâm dây (đẳng sâm), lan bản địa; bảo tồn và nhân giống các cây dược liệu trà hoa vàng, cây Bonbo, trà dược liệu mướp đắng, cà gai leo, giảo cổ lam. Triển khai thực hiện tốt chương trình 100 sản phẩm, trên cơ sở lựa chọn các cây, con đặc sản, đặc thù của tỉnh có tác động KH&CN nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường.

Những giải pháp của Nghị quyết từng bước được cụ thể hóa và trên đà triển khai thực hiện có hiệu quả. Công tác lãnh đạo, quản lý nhằm nâng cao nhận thức, tạo chuyển biến về hành động đối với KH&CN của cấp ủy, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội được quan tâm. Tích cực, chủ động đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp; coi phát triển KH&CN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp.

Công tác đầu tư cho KH&CN tiếp tục được tăng cường, chú trọng ưu tiên, bố trí nguồn ngân sách sự nghiệp KH&CN và nguồn sự nghiệp kinh tế cho việc phát triển, ứng dụng KH&CN và xây dựng, phát triển thương hiệu sản vật địa phương. Ngân sách của tỉnh đầu tư cho KH&CN ngày một tăng. Cơ chế chính sách phát triển KH&CN được cấp ủy, chính quyền các cấp ngày một chú trọng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động KH&CN; khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức KH&CN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Đoàn kiểm tra Tỉnh ủy (Theo Quyết định số 2809-QĐ/TU) do đồng chí Nguyễn Thị Thu Hường, UVBTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy làm Phó đoàn, khảo sát cơ sở sản xuất Trám tại Thanh Chương

Thường xuyên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy KH&CN được kiện toàn, đổi mới. Tổ tư vấn cao cấp về kinh tế – xã hội của tỉnh được phát huy, vai trò của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật và các hội thành viên trong hoạt động tư vấn, phản biện, giám định xã hội làm cơ sở khoa học trong xây dựng các cơ chế, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền về phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, xây dựng pháp luật, xây dựng đội ngũ trí thức được đề cao.

Công tác hợp tác trong và ngoài nước được thúc đẩy, Chủ động, tích cực phối hợp, kết nối với các viện, trường và các sở, ngành để tăng cường hợp tác trong, ngoài nước và huy động nguồn lực KH&CN tham gia vào các hội đồng nghiệm thu, tuyển chọn các đề tài, dự án.

Tuy nhiên, việc triển khai Nghị quyết số 06 -NQ/TU còn có một số tồn tại, hạn chế: Nguồn lực đầu tư cho phát triển KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu, nguồn huy động xã hội hóa vào công tác nghiên cứu, ứng dụng KH&CN từ các đơn vị, doanh nghiệp và người nông dân đã tăng lên cao hơn so với bình quân chung của cả nước (60%) nhưng tổng nguồn lực đầu tư cũng mới chỉ đáp ứng được con số rất nhỏ.

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chưa quyết liệt, chưa chủ động trong triển khai thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 06-NQ/TU và các chương trình, đề án, nhiệm vụ đề ra. Trong quản lý hoạt động KH&CN còn thiếu các chính sách, giải pháp mạnh mẽ để tạo đột phá. Kinh phí đầu tư cho KH&CN còn hạn hẹp, chưa có cơ chế phù hợp để huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho KH&CN.

Đội ngũ trí thức KH&CN của Nghệ An thiếu cân đối; thiếu cán bộ giỏi về quản lý kinh tế, sâu về chuyên môn, am hiểu về công nghệ cao như công nghệ chế biến, công nghệ sinh học…Việc ứng dụng KH&CN vào nông nghiệp công nghệ cao còn mang tính nhỏ lẻ, chưa đồng bộ và phát triển ở diện rộng, quy mô lớn theo vùng, miền. Sản phẩm hình thành chuỗi giá trị để tạo ra hàng hóa thật sự, có quy mô lớn chưa nhiều. Hợp tác và phát triển KH&CN ngoài nước còn hạn chế.

Để tiếp tục đưa Nghị quyết vào cuộc sống các cấp, các ngành cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp:

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06-NQ/TU, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết tại các địa phương, đơn vị. Tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện về chủ trương, cơ chế, chính sách và nguồn lực cho đầu tư và phát triển KH&CN. Tiếp tục đưa các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển và ứng dụng KH&CN vào các văn kiện đại hội đảng các cấp.

Tiếp tục chỉ đạo các ban, sở, ngành rà soát, tổ chức đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, đề án, nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết trong chương trình hành động đề ra; xây dựng phương hướng, nhiệm vụ và lộ trình tiếp tục thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp, nhất là đối với các mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt.

Các huyện, thành, thị ủy, đảng ủy trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức trong cấp ủy, chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ứng dụng và phát triển KH&CN vào phát triển kinh tế – xã hội địa phương. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân phát triển và nhân rộng các mô hình ứng dụng KH&CN. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội; rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU tại địa phương, đơn vị; đề ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả thời gian tới.

Phạm Công Tứ Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An

Kết Quả Sau 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 33 / 2023

Sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được đầu tư và phát triển. Phong tục, tập quán tốt đẹp của đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện được quan tâm giữ gìn. Phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến trong xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, tích cực lao động sản xuất để thoát nghèo và vươn lên làm giàu, các phong tục, tập quán lạc hậu từng bước được xóa bỏ, thay vào đó là thực hiện lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh. Môi trường văn hóa được cải thiện, thiết chế văn hóa được quan tâm đầu tư gắn với xây dựng nông thôn mới… Ngay sau khi Nghị quyết số số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chương trình hành động số 75-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành, Ban Thường vụ Huyện ủy đã chủ động xây dựng và ban hành Chương trình hành động số 72-CTr/HU đồng thời chỉ đạo UBND huyện xây dựng các đề án, kế hoạch triển khai phù hợp với điều kiện thực tiễn của huyện. Tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt, triển khai các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) cho cán bộ chủ chốt của huyện, trong đó có Nghị quyết số 33-NQ/TW cho 278 đ/c, tỷ lệ tham gia học tập đạt 97,4%. Chỉ đạo Ban Tuyên giáo Huyện ủy, các cơ quan trong khối tuyên truyền, Cổng thông tin điện tử của huyện tăng cường thời lượng tuyên truyền về các di sản văn hóa; xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở. Sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW việc thực hiện 06 nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết đạt kết quả thiết thực cụ thể như: Về xây dựng con người Yên Thế phát triển toàn diện được Ban Thường vụ Huyện ủy thường xuyên quan tâm, chỉ đạo. Đến nay, toàn huyện có số người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên là 35%; 100% trường học trên địa bàn huyện đảm bảo việc thực hiện giáo dục thể chất; toàn huyện có 145 CLB TDTT ở các loại hình: cầu lông, bóng chuyền hơi, dưỡng sinh, bóng đá… Thường xuyên thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, phù hợp với phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.  Phong trào xây dựng gia đình văn hóa là nội dung có vị trí hết sức quan trọng trong việc xây dựng thôn, bản, phố văn hóa, chính vì vậy phong trào đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng và tham gia thực hiện, đa số các gia đình tham gia phong trào đều thực hiện tốt các tiêu chí xây dựng GĐVH, có ý thức tự giác trong việc chấp hành các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước (năm 2014 toàn huyện có 24.277/28.814 hộ GĐVH, đạt 84,3%; năm 2018 có 25.689/29.760 hộ đạt danh hiệu văn hóa, đạt 86,3%). Phong trào xây dựng “cơ quan văn hoá” đã được các cơ quan, đơn vị trong toàn huyện hưởng ứng tích cực. Năm 2014 toàn huyện có 151/182 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa, đạt 83%; năm 2018 toàn huyện có 153/176 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa, đạt 86,9%. Phong trào xây dựng thôn, bản, phố văn hóa có vị trí hết sức quan trọng trong việc ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội, chính vì vậy phong trào đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng và tham gia thực hiện. Phong trào xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, đô thị văn minh luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở; thể hiện ở việc năm 2014 toàn huyện không có xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, đến nay toàn huyện đã có 4 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (Đồng Tâm, An Thượng, Phồn Xương, Hương Vĩ), 01 thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị (thị trấn Cầu Gồ). Công tác xây dựng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống lành mạnh tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện. Việc bảo tồn di tích lịch sử văn hóa; gắn phát triển du lịch được Ban Thường vụ chỉ đạo sát sao, kịp thời. Toàn huyện có 44 di tích lịch sử được xếp hạng (trong đó có 9 điểm di tích quốc gia đặc biệt, 6 di tích cấp bộ, 29 di tích cấp tỉnh). Trong gần 5 năm qua đã có 14 di tích lịch sử được quan tâm đầu tư, tu bổ với tổng số kinh phí trên 35 tỷ đồng (tiêu biểu như: Đầu tư xây dựng một số hạng mục công trình tại đền Thề, đồn Phồn Xương và nâng cấp tượng đài Hoàng Hoa Thám với tổng số kinh phí 19 tỷ đồng; tu bổ đền Cầu Khoai, xã Tam Hiệp với tổng số kinh phí 5 tỷ đồng; tu bổ Nhà mẫu đền Thượng, xã Đông Sơn với tổng số kinh phí 2,1 tỷ đồng…). Việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng, sản phẩm văn hóa tiếp tục được quan tâm. Huyện ủy đã chỉ đạo UBND huyện xây dựng Kế hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2030. Qua đó, hiện nay toàn huyện toàn huyện có 17/21 nhà văn hóa xã, 205/212 nhà văn hóa thôn, bản, phố (từ năm 2016 đến nay có 3 nhà văn hóa xã xây mới, 49 nhà văn hóa thôn, bản, phố được nâng cấp và xây dựng, với tổng số kinh phí trên 20 tỷ đồng). Ngoài ra đã đề nghị Sở VHTT&DL tỉnh hỗ trợ 23 bộ tăng âm, loa đài cho nhà văn hóa thôn, bản, phố, với tổng số kinh phí trên 640 triệu đồng. Quan tâm đầu tư xây dựng Khu liên hiệp văn hóa, thể thao huyện, dự kiến hoàn thành trong năm 2020. Bên cạnh đó, để làm giàu và phong phú thêm kho tàng văn hóa, di sản văn hóa của huyện, đồng thời mở rộng giao lưu, quảng bá giới thiệu truyền thống, bản sắc văn hóa của huyện đến các địa phương khác trong cả nước thông qua Hội nghị xúc tiến đầu tư gà đồi Yên Thế, tổ chức các lễ hội đầu xuân, tổ chức Hội chợ Thương mại Du lịch huyện Yên Thế, tham gia giới thiệu các sản phẩm ẩm thực của địa phương tại các huyện Cát Bà, Hải Phòng… Việc thực hiện 04 giải pháp nêu trong Nghị quyết như việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa được Ban Thường vụ quan tâm chỉ đạo. Hiện nay, cấp huyện có 29 cán bộ, công chức, viên chức làm công tác văn hóa; cấp xã bố trí đầy đủ 21/21 cán bộ làm công tác văn hóa. Nhìn chung cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện, cấp xã có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, được đào tạo đúng chuyên ngành chiếm khoảng 65%, còn lại là chuyên ngành khác; về cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ về công tác chuyên môn.  Về tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa được quan tâm đầu tư. Từ khi thực hiện Nghị quyết đến nay đã huy động mọi nguồn lực để xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa với tổng số kinh phí trên 20 tỷ đồng; đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích 35 tỷ đồng. Ngoài ra Hội đồng nhân dân huyện còn ban hành Nghị quyết về quy định mức hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà văn hóa thôn, bản, phố (mức hỗ trợ 20%/nhà văn hóa nhân với tổng giá trị xây dựng, nhưng không quá 150 triệu đồng), Nghị quyết hỗ trợ hộ gia đình thực hiện hỏa táng (3 triệu đồng/trường hợp). Hiện nay toàn huyện có 23 nhà thi đấu thuộc các cơ quan, đơn vị, thôn, bản, phố; 17/21 nhà văn hóa xã, 205/212 nhà văn hóa thôn, bản, phố. Nhìn chung các nhà văn hóa xã, thôn, bản, phố có đầy đủ các trang thiết bị, cơ sở vật chất, sân bãi đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, thể thao cho nhân dân. Trong thời gian tới để việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW và Chương trình hành động số 75-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tiếp tục phát huy hiệu quả; Ban Thường vụ Huyện ủy để ra một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như: Một là, tiếp tục quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương (khoá XI), Chương trình hành động số 75-CTr/TU của Tỉnh ủy. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay; cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa, ban hành các văn bản phù hợp với điều kiện và thực tiễn của địa phương. Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa. Ba là, coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ làm công tác văn hóa; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa của huyện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Bốn là, Huyện ủy, UBND huyện và các xã, thị trấn tiếp tục đầu tư đúng mức cho lĩnh vực văn hóa, tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên một số nét văn hóa truyền thống cần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Năm là, đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa và phát triển con người. Tăng cường đầu tư, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nâng cao khả năng dự báo và định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người tại địa phương. Sáu là, tăng cường hiệu quả hoạt động, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cấp huyện và cơ sở, trong công tác chỉ đạo thực hiện phát triển văn hóa. Bảy là, quan tâm đầu tư các thiết chế văn hóa cho nhân dân, duy trì hoạt động hiệu quả của các CLB văn hóa, thể dục thể thao; tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thiết thực, thu hút đông đảo người dân tham gia. Tám là, tiếp tục đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, gắn với triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ./.

Nông Văn Tuyển

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nhiều Kết Quả Tích Cực Sau 03 Năm Thực Hiện… / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!