Đề Xuất 12/2022 # Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Thực Hiện Có Hiệu Quả Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Thực Hiện Có Hiệu Quả Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Thực Hiện Có Hiệu Quả Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

(Chinhphu.vn) – Ngày 5/11/2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

I- TÌNH HÌNH

1- Từ khi nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (năm 2007) đến nay, tiến trình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng hơn, đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực, nổi bật là:

– Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác; tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế từ Trung ương đến địa phương được nâng lên một bước; tổ chức, bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bước trưởng thành đáng kể.

– Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

2- Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn một số hạn chế, yếu kém:

– Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận phiến diện, ngắn hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với các thách thức.

– Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

– Hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với hội nhập trong các lĩnh vực khác. Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược, lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng. Việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.

3- Hiện nay, tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã có nhiều thay đổi, đang diễn biến phức tạp, khó lường. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế – xã hội, khả năng bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị – xã hội, giữ vững môi trường hoà bình, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.

Việc thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới sẽ tạo ra cơ hội mở rộng, đa dạng hoá thị trường với mức ưu đãi cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mạng lưới sản xuất toàn cầu; góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đồng bộ và toàn diện, khơi dậy tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao trình độ phát triển, giảm dần tỉ trọng gia công lắp ráp của nền kinh tế. Nước ta cũng có cơ hội tham gia chủ động và sâu hơn vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế có lợi cho ta và có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, lợi ích của các tổ chức, cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố và duy trì môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung có cơ hội để phát triển mạnh hơn, sáng tạo hơn và có sức cạnh tranh hơn. Người tiêu dùng có thêm cơ hội lựa chọn hàng hoá, dịch vụ chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường.

Tuy nhiên, việc khắc phục những hạn chế, yếu kém, tồn tại và triển khai thực hiện các cam kết quốc tế mới cũng sẽ đặt ra nhiều khó khăn, thách thức không chỉ về kinh tế mà còn cả về chính trị, xã hội. Sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều ngành, doanh nghiệp và sản phẩm của nước ta sẽ gặp khó khăn hơn. Việc thực hiện các cam kết sâu rộng và cao hơn, nhất là vấn đề lao động, việc làm, bảo vệ môi trường… đáp ứng yêu cầu nội luật hoá các cam kết nếu không được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ, có lộ trình, bước đi phù hợp, sẽ tác động tiêu cực đến quá trình đổi mới, hoàn thiện thể chế, giải quyết những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Việc thực hiện các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đặt ra những thách thức mới không chỉ đối với quản lý của Nhà nước mà còn có thể ảnh hưởng đến ổn định chính trị – xã hội, vai trò và hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Những cơ hội và thách thức nêu trên có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hoá lẫn nhau. Cơ hội có thể trở thành thách thức nếu không được tận dụng kịp thời. Thách thức có thể biến thành cơ hội nếu chúng ta chủ động ứng phó thành công.

II- MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1- Mục tiêu: Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

2- Quan điểm chỉ đạo

– Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

– Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu. Nhà nước cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế.

– Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.

III- MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN

1- Chủ trương, chính sách chung

– Xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế.

– Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới, bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Xác định gia tăng xuất khẩu, số lượng và chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế là các tiêu chí kinh tế trực tiếp để đánh giá kết quả hội nhập quốc tế về kinh tế.

– Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững; thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị trong tình hình mới và thực thi các cam kết quốc tế. Tập trung nghiên cứu, triển khai thực hiện các giải pháp mới có hiệu quả để phát huy sức mạnh tổng hợp và sự sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân; huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển.

– Trong 5 – 10 năm tới, tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các cơ chế, chính sách phòng vệ thương mại, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp quốc tế; có chính sách phù hợp hỗ trợ các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh thấp vươn lên; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, trình độ pháp luật quốc tế, xây dựng hàng rào kỹ thuật, biện pháp phòng vệ chủ động phù hợp.

2- Các chủ trương, chính sách cụ thể

2.1- Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức

– Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung. Nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội, đặc biệt là của doanh nghiệp, doanh nhân đối với các thoả thuận quốc tế, đặc biệt là cơ hội, thách thức và những yêu cầu phải đáp ứng khi tham gia và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới bằng các hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp và hiệu quả cho từng ngành hàng, hiệp hội, doanh nghiệp và cộng đồng.

– Chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chủ động, kịp thời phát hiện, đấu tranh với các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

2.2- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật

– Nâng cao nhận thức và năng lực pháp lý, đặc biệt là luật pháp quốc tế, thương mại quốc tế, trước hết là của cán bộ chủ chốt các ngành và chính quyền các cấp, doanh nghiệp, cán bộ làm công tác tố tụng, đội ngũ luật sư và những người trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế.

– Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển doanh nghiệp; đặc biệt là hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng với khuyến khích khởi nghiệp, sáng tạo. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động mua bán – sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam, trên cơ sở phát huy nội lực, bảo đảm tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế, phù hợp với các cam kết quốc tế.

– Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế và các ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực chính trị – quốc phòng – an ninh, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hoá – xã hội, giáo dục, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế.

2.3- Nâng cao năng lực cạnh tranh

– Nghiêm túc quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung ưu tiên đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Tiếp tục ổn định và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh kinh tế.

– Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại; chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

– Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng vùng, địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Tập trung ưu tiên cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng; đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập; cơ cấu lại nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ… Đồng thời, đổi mới phương thức thực hiện liên kết, phối hợp trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá.

– Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế để khu vực kinh tế này thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, một lực lượng nòng cốt trong hội nhập kinh tế quốc tế.

– Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực. Tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; đẩy nhanh phổ cập ngoại ngữ, trọng tâm là tiếng Anh trong giáo dục các cấp. Đẩy mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp; tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất kinh doanh.

– Giám sát thường xuyên, tăng cường công tác dự báo về tăng trưởng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, năng suất lao động, xuất khẩu lao động, xác định cơ cấu trong mỗi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế để có cơ sở đánh giá hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế và kịp thời điều chỉnh chính sách, biện pháp.

2.4- Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

– Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn. Chủ động ban hành và triển khai thực hiện chính sách đối với nông nghiệp và nông thôn, nhất là chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất gắn với cơ cấu lại lao động ở nông thôn nhằm khắc phục những điểm yếu của sản xuất nhỏ, manh mún, kết nối kém; khoa học – công nghệ trình độ thấp; kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn lạc hậu.

– Tập trung phát triển ngành nông nghiệp với các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường, nông nghiệp hữu cơ, có năng suất cao, có giá trị lớn và có khả năng xuất khẩu phù hợp với biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái. Triển khai hiệu quả các nội dung “tam nông”, mô hình “liên kết bốn nhà”. Khuyến khích phát triển bền vững kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới với nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng; tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển góp phần hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu dùng và xuất khẩu.

– Hiện đại hoá, thương mại hoá nông nghiệp, chuyển mạnh sang phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, sản xuất lớn, dựa vào khoa học – công nghệ, có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao. Chuyển nền nông nghiệp từ sản xuất lương thực là chủ yếu sang phát triển nền nông nghiệp đa dạng phù hợp với lợi thế của từng vùng.

– Khẩn trương hình thành quy hoạch tổng thể phát triển những mặt hàng, sản phẩm Việt Nam có thế mạnh. Đồng thời, chuẩn bị những giải pháp ứng phó, hỗ trợ đối với những ngành hàng, mặt hàng chịu tác động lớn, trực tiếp từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu phức tạp hiện nay.

– Tranh thủ lộ trình chuyển đổi quy định trong các cam kết quốc tế để tập trung thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là các chính sách để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tổ chức nông dân sản xuất nông sản hàng hoá quy mô lớn, chất lượng bảo đảm gắn với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả trong hội nhập kinh tế quốc tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.

2.5- Tăng cường quốc phòng, an ninh

– Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, đặc biệt là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.

– Kết hợp tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế với tăng cường công tác giáo dục, nâng cao cảnh giác cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhận thức rõ âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng hội nhập quốc tế để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá đất nước ta.

– Chủ động, tỉnh táo, đấu tranh kịp thời với những âm mưu, ý đồ thông qua hội nhập kinh tế quốc tế để xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia, áp đặt về chính trị đối với nước ta.

– Đẩy mạnh việc phòng, chống tội phạm, kiên quyết triệt phá những băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, tội phạm kinh tế, khủng bố,… Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn. Tăng cường hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

– Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội; các dự án, công trình kinh tế trong các khu vực phòng thủ phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, có tính lưỡng dụng, nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Theo sát, nắm chắc tình hình, làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng hội nhập, gắn kết kinh tế để chống phá, gây mất ổn định chính trị – xã hội.

– Xây dựng kế hoạch, lộ trình và triển khai cơ cấu, sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp trong lực lượng vũ trang. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong lực lượng vũ trang chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh kết hợp với bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh.

2.6- Nâng cao và phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế

– Đẩy mạnh và chủ động làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển và an ninh của đất nước; chủ động, tích cực tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, đưa các khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào thực chất, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích lâu bền giữa nước ta với các đối tác, nhất là các đối tác lớn, quan trọng.

– Tạo dựng và nâng cao mức độ tin cậy, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác giữa ta và các đối tác, trước hết là các nước láng giềng, các nước lớn. Thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin, minh bạch hoá chính sách và thực hiện nghiêm túc, nhất quán các cam kết quốc tế. Gia tăng số lượng và mức độ hiệu quả của các cơ chế hợp tác giữa ta và các nước đối tác.

– Đẩy mạnh, nâng tầm công tác đối ngoại đa phương; chủ động, tích cực tham gia các định chế đa phương, góp phần vào quá trình định hình các cấu trúc khu vực và toàn cầu; tích cực tham gia vào những vấn đề quan trọng đối với an ninh và phát triển của đất nước.

– Phát huy vị thế quốc tế để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc khi triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Phát huy uy tín và vị thế quốc tế để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập; giữ vững thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các âm mưu và ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch.

– Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa ngoại giao nhà nước, đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân trong quá trình hội nhập để phát huy tốt vai trò và thế mạnh đặc thù của mỗi kênh đối ngoại.

2.7- Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc

– Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về văn hoá trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là trong bối cảnh có sự phát triển đột phá của công nghệ thông tin và truyền thông.

– Giữ vững và không ngừng phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Phát triển hài hoà giữa kinh tế và văn hoá, phát triển công nghiệp văn hoá đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường các sản phẩm văn hoá. Xây dựng văn hoá trong kinh tế; khai thác hiệu quả khía cạnh kinh tế của văn hoá, nâng cao giá trị văn hoá trong các sản phẩm mang đặc trưng, đặc sắc của mỗi địa phương.

– Đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương về văn hoá. Lồng ghép các hoạt động hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng và triển khai chiến lược bảo tồn, phát huy và quảng bá văn hoá. Chủ động nâng cao hiệu quả quản lý nội dung sản phẩm văn hoá, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn sự xâm nhập của những sản phẩm văn hoá không lành mạnh từ bên ngoài (đặc biệt là trên mạng Internet).

2.8- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội

– Sửa đổi, bổ sung, kiện toàn hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, phù hợp, các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm an toàn vệ sinh lao động, trợ cấp xã hội…; xây dựng và triển khai chương trình hợp tác về tương hỗ bảo hiểm xã hội với các nước. Hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt về quan hệ lao động và những vấn đề mới phát sinh từ quá trình thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

– Thực hiện có hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững theo phương pháp tiếp cận đa chiều; thu hẹp khoảng cách phát triển và khoảng cách giàu – nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc, bảo đảm công bằng xã hội. Chủ động xây dựng và thực hiện chính sách bảo đảm trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế hoặc dễ bị tổn thương của quá trình triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

– Bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, các dịch vụ xã hội cơ bản cho nhân dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo.

2.9- Giải quyết tốt các vấn đề môi trường

– Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Kiên quyết bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường. Thực hiện quy chuẩn, tiêu chuẩn phát thải theo lộ trình phù hợp với các cam kết quốc tế.

– Triển khai mạnh mẽ các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân. Kiểm soát chặt chẽ nguồn gây ô nhiễm. Hạn chế, tiến tới ngăn chặn hoàn toàn tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, lưu vực sông, khu công nghiệp, khu đô thị và bờ biển. Tập trung xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) quy mô lớn. Triển khai nhanh lộ trình kiểm soát khí thải đối với xe cơ giới, nhất là ở các đô thị lớn.

– Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường. Thúc đẩy xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường và bảo vệ môi trường. Mỗi người dân là một người thực hiện và giám sát thực tế bảo vệ môi trường để kịp thời ngăn chặn, thông báo, tố cáo những hành vi vi phạm, huỷ hoại môi trường.

Khai thác, sử dụng khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, hoàn thiện quy hoạch và tăng cường quản lý, giám sát, sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khai thác và sử dụng bền vững nguồn nước; chủ động hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ, quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước xuyên quốc gia, nhất là nguồn nước sông Mê Công. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

2.10- Đổi mới tổ chức, hoạt động của tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp

– Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là tổ chức công đoàn trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; tạo điều kiện về nguồn lực đủ mạnh để bảo đảm hiệu quả các hoạt động đại diện, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, thu hút người lao động và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tham gia Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức của người lao động nằm ngoài hệ thống của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

– Ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước để đổi mới, tăng cường quản lý có hiệu quả sự ra đời và hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh ổn định, thành công.

– Bảo đảm sự ra đời, hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phù hợp với quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, kiện toàn các công cụ, biện pháp quản lý nhằm tạo điều kiện để tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), đồng thời giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

– Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Hội nhập quốc tế, các ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế xây dựng và chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết.

– Các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung ương và đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương quán triệt Nghị quyết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.

– Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn việc học tập, quán triệt Nghị quyết, chỉ đạo công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng trong toàn bộ hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân, tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

– Đảng đoàn Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam xây dựng Đề án “Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn trong tình hình mới”.

– Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Từ khóa: Nghị quyết 06-NQ/TW , hội nhập kinh tế , hiệp định thương mại tự do , FTA , Nghị quyết Trung ương 4

Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) / 2023

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) không chỉ đề cập đến một vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, mà còn trực tiếp quyết định đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Nhìn lại lịch sử hơn 87 năm qua kể từ ngày được thành lập, Đảng ta đặc biệt quan tâm và luôn chú trọng đến công tác xây dựng Đảng. Công tác xây dựng Đảng luôn đi đôi với nhiệm vụ chỉnh đốn Đảng. Theo đó, chỉnh đốn Đảng là một bộ phận không tách rời công tác xây dựng Đảng. Xây dựng gắn liền với chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan, là việc làm thường xuyên của một chính đảng cách mạng và được thực hiện trong mọi giai đoạn lịch sử. Bởi vậy, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức một cách đầy đủ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để từ đó chủ động học tập, nghiên cứu, nắm chắc nội dung cốt lõi của nghị quyết, triển khai linh hoạt, sáng tạo trong thực tiễn ở cấp ủy, tổ chức đảng, ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Nhận thức đúng yêu cầu về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng giúp cho từng cán bộ, đảng viên đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch lợi dụng việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) để chống phá Đảng, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điểm mới và cũng là những vấn đề trọng tâm của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là đã chỉ ra một cách có hệ thống 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết cũng nhấn mạnh tính chất nguy hiểm và hậu quả khôn lường của các biểu hiện nêu trên không chỉ đối với công tác xây dựng Đảng, mà nếu không sớm được khắc phục, sửa chữa, ngăn chặn còn là rào cản trong tiến trình phát triển của đất nước và dân tộc.

Không chỉ nêu rõ 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) còn chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng; trong đó tập trung vào 16 nguyên nhân chủ quan. Nghị quyết cũng xác định rất đầy đủ 4 nhóm giải pháp trong triển khai thực hiện. 4 nhóm giải pháp được Trung ương xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) vừa có tính kế thừa kết quả, kinh nghiệm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, vừa có bước phát triển phù hợp với yêu cầu sự nghiệp cách mạng của Đảng ta và dân tộc ta trong giai đoạn mới; trong đó tập trung ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong suy nghĩ và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên; trong nội bộ của mỗi cấp ủy, tổ chức đảng. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân; thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân.

Với quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt, tuy thời gian triển khai thực hiện nghị quyết chưa nhiều, nhưng thực sự đã có những tác động tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nhiều vấn đề bức xúc của xã hội, của nhân dân đã được các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị tập trung sức lãnh đạo, chỉ đạo; nhiều vụ án, vụ việc tiêu cực được điều tra, truy tố, xét xử theo đúng quy định của pháp luật.

Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), trước hết, từng cấp ủy, tổ chức đảng phải chủ động nghiên cứu, đánh giá, phân tích sát thực, cụ thể tình hình; trên cơ sở những nội dung của nghị quyết để có những giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả. Theo đó, cùng với việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức học tập, nghiên cứu, từng cấp ủy, tổ chức đảng phải đặc biệt coi trọng việc tiến hành kiểm điểm tự phê bình và phê bình. Làm tốt việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình là giải pháp quan trọng hàng đầu để từng cấp ủy, tổ chức đảng nhận diện đúng, đánh giá sát thực tình hình, từ đó có cách sửa chữa, khắc phục hiệu quả. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Một đảng mà không tự nhận thấy khuyết điểm, yếu kém của mình và không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm là “một đảng hỏng”. Vì vậy, nhận thức, thấy rõ khuyết điểm, thấy rõ những hạn chế yếu kém trong nội bộ từng cấp ủy, tổ chức đảng và có quyết tâm, giải pháp sửa chữa khuyết điểm sẽ không làm cho Đảng yếu đi, mà làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, trong sinh hoạt kiểm điểm tự phê bình và phê bình phải được thực hiện đúng theo phương châm: Nói thẳng, nói hết, trên tinh thần đồng chí, đồng đội, tất cả vì nhiệm vụ chung, vì sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Kiên quyết khắc phục tình trạng lợi dụng kiểm điểm tự phê bình và phê bình để hạ thấp uy tín cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ, bè cánh. Nếu mục đích, động cơ việc tổ chức kiểm điểm không trong sáng, không vì sự nghiệp phát triển chung của dân tộc, của đất nước sẽ là rất nguy hại, ảnh hưởng đến chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Một vấn đề nữa cũng cần nhấn mạnh trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) là từng cấp ủy, tổ chức đảng phải dựa chắc vào quần chúng nhân dân. Vì vậy, triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), cùng với việc xây dựng kế hoạch, xác định cụ thể nội dung, biện pháp thực hiện, từng cấp ủy, tổ chức đảng phải phát huy tốt vai trò của quần chúng nhân dân trong tham gia ý kiến để mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ những hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Hơn nữa, từng cấp ủy, tổ chức đảng công khai các chủ trương, biện pháp trong tổ chức thực hiện để quần chúng nhân dân giám sát kết quả thực hiện. Thực tiễn lịch sử hơn 87 năm qua, nhờ phát huy tốt sức mạnh của nhân dân, biết dựa vào dân nên công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) phải được xác định là công việc thường xuyên, hằng ngày của từng cấp ủy, tổ chức đảng, của mỗi cán bộ, đảng viên. Theo đó, từng cấp ủy, tổ chức đảng cần coi trọng việc sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện; nhân rộng những cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả trong thực tiễn; tuyệt đối tránh tình trạng: Nói thì hay, làm thì kém hiệu quả; hoặc chỉ nói mà không làm, hoặc làm cho xong chuyện. Bởi trên thực tế, việc nói nhiều, làm ít là một thực trạng rất đáng bàn trong triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng thời gian qua. Nghị quyết của Đảng rất đúng, rất trúng, rất sát thực với tình hình của đất nước, nhưng chậm đi vào cuộc sống, hoặc chưa phát huy hết hiệu quả, một phần quan trọng xuất phát từ nguyên nhân: Nói nhiều, làm ít của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên.

Theo LÊ LONG KHÁNH/qdnd.vn

Nhiều Cách Làm Hiệu Quả Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii / 2023

Sau gần 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã tạo chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn tỉnh.

Các đại biểu dự Đại hội Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh bỏ phiếu bầu Ban chấp hành Đảng bộ Khối nhiệm kỳ 2020-2025. Ảnh: H. Anh

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hằng năm số tổ chức Đảng và đảng viên của Đảng bộ tỉnh được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ đều tăng; tỷ lệ đảng viên vi phạm giảm; ý thức tự giác, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên được nâng cao so với trước đây.

* Đánh giá thực chất tổ chức Đảng và đảng viên

Phó bí thư thường trực Huyện ủy Long Thành Ngô Thế Ân cho biết, trong những năm qua, Ban thường vụ Huyện ủy Long Thành đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, bước đầu đạt hiệu quả. Trong đó, Ban thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo việc đánh giá xếp loại tập thể, cá nhân hàng năm phải nghiêm túc, đúng thực chất; chỉ ra được những hạn chế, thiếu sót, khẳng định rõ từng cấp ủy, địa phương, đơn vị, tập thể, cá nhân có hay không những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sau kiểm điểm, các tập thể và cá nhân có hạn chế, thiếu sót phải xây dựng kế hoạch, đề ra giải pháp, lộ trình khắc phục; định kỳ báo cáo kết quả khắc phục hạn chế, thiếu sót.

Qua các đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Ban thường vụ Huyện ủy Long Thành đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy chủ động sáng tạo của tập thể, cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy Đảng, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện các chỉ tiêu hàng năm, phấn đấu đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015-2020. Khai thác lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế của huyện nhằm huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là hạ tầng đô thị và nông thôn, trường học, các công trình cấp nước sạch. Thực hiện tốt công tác bồi thường, thu hồi đất, tái định cư cho người dân để thực hiện các dự án trọng điểm trên địa bàn huyện, nhất là dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

Với những kết quả tích cực từ thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII trên địa bàn tỉnh trong nhiệm kỳ qua cho thấy, đây không chỉ là giải pháp căn bản về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn góp phần phát triển kinh tế – xã hội địa phương và giữ vững ổn định tình hình trong giai đoạn hiện nay.

“Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tích cực trong thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ qua. Hầu hết các chỉ tiêu nghị quyết đại hội đề ra đều thực hiện đạt và vượt. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao; tin tưởng, đồng thuận với thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng của địa phương; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên được nâng cao” – đồng chí Ngô Thế Ân nhấn mạnh.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Ban thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã ban hành hướng dẫn đánh giá, phân loại tổ chức Đảng và đảng viên hằng năm; trong đó yêu cầu kiểm điểm sâu các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình cuối năm, nhiều tổ chức Đảng và đảng viên đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế thiếu sót, tự đề ra các giải pháp và cam kết khắc phục hạn chế, khuyết điểm.

Cụ thể, khi kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, Ban thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã nhìn nhận trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban thường vụ Đảng ủy Khối có lúc chưa toàn diện, chưa phối hợp thường xuyên với lãnh đạo các cơ quan, đơn vị nắm bắt tình hình hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của cơ quan, đơn vị. Chưa có giải pháp kịp thời để giải quyết các vấn đề phát sinh về tư tưởng của cán bộ, đảng viên, công chức, người lao động ở một số cơ sở trực thuộc. Việc theo dõi, giám sát các cơ sở học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng có lúc còn chậm. Việc thực hiện quy chế dân chủ trong Đảng bộ có lúc chưa sâu sát, có đơn vị chưa thực hiện tốt việc công khai, phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, trong xây dựng và thực hiện các quy định, quy chế của cơ quan…

Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Hoàng Thị Bích Hằng cho biết, từ những hạn chế, khuyết điểm, Ban thường vụ Đảng ủy Khối đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng và giáo dục chính trị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong Đảng bộ Khối; tăng cường công tác quản lý đảng viên; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ. Thực hiện tốt công tác Dân vận và quy chế dân chủ trong các cơ quan. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát; giải quyết các vụ việc phức tạp. Đồng thời, phân công các đồng chí trong Ban chấp hành, Ban thường vụ, lãnh đạo và chuyên viên các ban Đảng, đoàn thể khối dự sinh hoạt chi bộ cơ sở, kịp thời chấn chỉnh những hạn chế, thiếu sót, giúp cơ sở tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

* Phát huy tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên

Tại Đảng bộ TP.Biên Hòa, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã được gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Theo đồng chí Huỳnh Tấn Đạt, Phó bí thư thường trực Thành ủy Biên Hòa, hằng năm cán bộ, đảng viên của Đảng bộ thành phố đều thực hiện đăng ký những việc làm cụ thể về Chỉ thị 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4, phù hợp với công việc chuyên môn của bản thân và đơn vị; có sự giám sát của cấp ủy và đánh giá nhận xét theo quy định.

Kết quả, hằng năm ở Biên Hòa có từ 10,56-13,88% đảng viên được đánh giá là tấm gương xuất sắc, tiêu biểu; 76,38-78,64% là tấm gương tốt; 7,15-12,69% đảng viên thể hiện được tính tiền phong gương mẫu.

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Ban thường vụ Thành ủy Biên Hòa còn chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên, giúp cán bộ, đảng viên hiểu rõ thời cơ, thấy rõ nguy cơ và thách thức của cách mạng Việt Nam trong tình hình mới để luôn phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, vượt qua những khó khăn, thúc đẩy phát triển công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta.

Bên cạnh đó, Ban thường vụ Thành ủy đã chú trọng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, làm cho các cấp ủy, tổ chức Đảng thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, góp phần tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương và xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh. Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Ban thường vụ Thành ủy đã tiến hành kiểm tra 160 lượt tổ chức Đảng và 12 đồng chí bí thư cấp ủy trực thuộc; giám sát 29 lượt tổ chức Đảng và 16 bí thư cấp ủy trực thuộc trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Qua kiểm tra, giám sát đã giúp tổ chức Đảng và đảng viên thấy được ưu điểm để phát huy; khắc phục hạn chế, tồn tại để đề ra giải pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn trong thời gian tới.

Đồng chí Phạm Văn Ru, Ủy viên Ban TVTU, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy nhận xét, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã được các cấp ủy trên địa bàn tỉnh triển khai với tinh thần quyết tâm cao. Các cấp ủy, tổ chức Đảng đều nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình, đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tiêu cực. Kết quả trong nhiệm kỳ 2015-2020, số đảng viên bị thi hành kỷ luật đã giảm 0,08% so với nhiệm kỳ trước. Số tổ chức Đảng được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ tăng 9,5% và đảng viên được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên tăng 17%. Ý thức tự giác giữ gìn, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên được nâng cao hơn một bước so với trước, góp phần tích cực xây dựng Đảng bộ tỉnh ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Phương Hằng

Từ Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xi Đến Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xii / 2023

Đại hội XII của Đảng xác định rõ 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ, với nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tin tưởng rằng, việc thực hiện nghiêm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII với quyết tâm cao sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

1– Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã ban hành Nghị quyết ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay ” (Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012). Sau 4 năm triển khai thực hiện, Đại hội XII của Đảng đã tổng kết và đánh giá: Nhìn chung, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 với quyết tâm chính trị cao và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, tạo chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, phòng ngừa sai phạm. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 ở các cấp đã từng bước đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi được một số biểu hiện tiêu cực, suy thoái trong Đảng; khắc phục được một số khuyết điểm trong công tác cán bộ và thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách… Nhiều vụ, việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được chỉ đạo tiến hành điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh theo quy định của pháp luật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao…

Trung ương đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới một số quy định, quy chế nhằm tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, như: Quy chế Bầu cử trong Đảng; Quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định về việc chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng; Quy chế Giám sát cán bộ, đảng viên diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quy định việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động và luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp được đẩy mạnh hơn, nhất là việc triển khai xây dựng, thực hiện có hiệu quả Đề án Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016 – 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo, góp phần quan trọng vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đại hội XII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021.

Bên cạnh những ưu điểm và kết quả quan trọng đã đạt được, Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ một số hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, vẫn còn một số việc chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu Nghị quyết đề ra. Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn khá phổ biến ở các cấp… Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ được thực chất, mức độ nghiêm trọng của tình hình; chưa chỉ ra được địa chỉ cụ thể và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, như tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; việc chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; thậm chí có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn diễn ra nghiêm trọng và xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành nhưng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là một số cán bộ có chức, có quyền, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Việc Trung ương ban hành Nghị quyết này nhằm thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp lớn về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra; vừa tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, nhất là những việc Nghị quyết đề ra nhưng chưa được thực hiện và thực hiện chưa tốt; đồng thời có bổ sung nội dung mới là, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là những nội dung cơ bản cần thực hiện đồng bộ, toàn diện mà trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đáp ứng lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII có phạm vi và nội dung rộng hơn so với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. Quan điểm là, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật để đánh giá tình hình; kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, lấy “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trước mắt. Mục tiêu mà Nghị quyết đề ra là: Nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về nguy cơ và đề ra các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, biết đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân; củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã xác định, nhận diện cụ thể và đưa ra một hệ thống các biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cụ thể như sau:

Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị: 1- Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 2- Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 3- Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 4- Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. 5- Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. 6- Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu. 7- Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. 8- Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. 9- Vướng vào “Tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là: 1- Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. 2- Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. 3- Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. 4- Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. 5- Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. 6- Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. 7- Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước. 8- Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. 9- Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

3– Để đấu tranh ngăn chặn sự suy thoái trong Đảng, Nghị quyết số 04-NQ/TW đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ để thực hiện là: Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội.

Trong các nhóm nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 04-NQ/TW đề ra, có một số giải pháp mới, mạnh mẽ, như tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bắt buộc hằng năm mỗi cán bộ, đảng viên phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị; coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức cho cán bộ, đảng viên, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị một cách thiết thực, hiệu quả. Hằng năm, mỗi cán bộ, đảng viên có bản cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, không có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” báo cáo với chi bộ và thủ trưởng cơ quan, đơn vị để làm cơ sở cho kiểm điểm, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên cuối năm. Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình tiến hành đồng thời ở các cấp và mỗi cấp đều xác định những trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo, với phương châm làm đến đâu chắc đến đó. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình với tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên và đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện ký hợp đồng lao động có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Tập trung kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền; bảo đảm quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó; kiên quyết sắp xếp lại những cá nhân không đủ năng lực, điều kiện… mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác; xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm hoặc không chấp hành nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Thực hiện ngay việc kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố và xử lý nghiêm minh những vụ, việc, vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phức tạp, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và những vấn đề về công tác cán bộ mà dư luận xã hội quan tâm, nhân dân bức xúc, đồng thời công khai kết quả xử lý để nhân dân biết. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cũng nhấn mạnh, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị rất cao và nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; của cả hệ thống chính trị, trước hết là đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp ủy các cấp./.

(Theo tapchicongsan.org.vn)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Thực Hiện Có Hiệu Quả Tiến Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!