Đề Xuất 11/2022 # Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lần Thứ Xiv / 2023 # Top 19 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lần Thứ Xiv / 2023 # Top 19 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lần Thứ Xiv / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ

Tin tức – Sự kiện

Văn kiện – Tư liệu

Văn kiện đại hội

Lượt xem: 5508

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIV

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai khoá XIV, nhiệm kỳ 2011-2015 tiến hành từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 10 năm 2010 tại thành phố Lào Cai, Đại hội đã thông qua những nội dung sau:

I- Thông qua Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV với những nội dung cơ bản như sau:

Phần thứ nhất 

KIỂM ĐIỂM, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XIII

  1.- Kết quả thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII

Năm năm qua (2006 – 2010), dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, sự chỉ đạo, điều hành năng động, sáng tạo của chính quyền các cấp cùng với sự đoàn kết thống nhất cao trong toàn Đảng bộ, sự đồng thuận và nỗ lực phấn đấu của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tính đến hết năm 2010: Các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra đều hoàn thành, nhiều chỉ tiêu vượt mục tiêu đã đề ra ở mức cao. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức bình quân 5 năm đạt 13% và có bước phát triển vượt bậc so với giai đoạn trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP giảm dần từ 35,4% ở đầu nhiệm kỳ xuống còn 27,9% vào năm 2010; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng tăng dần từ 26,5% lên 34,2%. Sản xuất lương thực liên tục được mùa. Tiềm năng, lợi thế về cửa khẩu, công nghiệp, dịch vụ, du lịch được khai thác hiệu quả, đã và đang tạo đà phát triển mạnh mẽ cho Lào Cai. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng cường đầu tư xây dựng, diện mạo đô thị, nông thôn và vùng cao ngày càng đổi mới, đã góp phần tích cực thúc đẩy phát triển sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa bàn. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng mạnh với mức bình quân 5 năm tăng 20,5%. Các lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ. Giáo dục – đào tạo có bước phát triển vượt bậc ở tất cả các cấp học và ngành nghề đào tạo; đội ngũ cán bộ, công chức được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc được giữ gìn, bảo tồn và phát huy. Khoa học kỹ thuật từng bước gắn với sản xuất và đời sống. An sinh xã hội được bảo đảm; công tác xóa đói, giảm nghèo thu được nhiều kết quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, bình quân hằng năm giảm 5%; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Quốc phòng – an ninh được tăng cường và giữ vững, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững mạnh, đã triển khai tốt và hoàn thành kế hoạch phân giới cắm mốc làm tiền đề cho việc quản lý và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội được chú trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Tinh thần cảnh giác đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch luôn được đề cao. Quan hệ đối ngoại, hợp tác giữa tỉnh Lào Cai với một số nước và tổ chức quốc tế, đặc biệt là quan hệ với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) được đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực và đi vào chiều sâu. Công tác xây dựng Đảng có sự chuyển biến tích cực trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức. Phương pháp công tác và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ được đổi mới. Năng lực chỉ đạo, điều hành và quản lý của chính quyền các cấp có nhiều tiến bộ, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Cải cách thủ tục hành chính bước đầu có chuyển biến tích cực. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể quần chúng tiếp túc được đổi mới về nội dung và phương thức, bảo đảm thiết thực và hiệu quả hơn. Nội bộ cấp uỷ đoàn kết, thống nhất, sự đồng thuận trong Đảng, trong nhân dân ngày càng tăng. Sức mạnh khối đoàn kết các dân tộc trong tỉnh được phát huy, tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên thành công của nhiệm kỳ 2005-2010.

 Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, vẫn còn một số hạn chế, yếu kém cần được khắc phục như sau: Lào Cai vẫn là tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng 2/3 mức bình quân của cả nước, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém. Quy mô nền kinh tế nhỏ, chất lượng tăng trưởng thấp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh và trong từng ngành, lĩnh vực còn chậm. Công tác xoá đói, giảm nghèo chưa bền vững, đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chất lượng giáo dục – đào tạo, y tế và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc cải tạo phong tục, tập quán lạc hậu chuyển biến chậm. Thiết chế văn hoá cơ sở vẫn nghèo nàn. Tình hình an ninh ở một số địa bàn, tai nạn và tệ nạn xã hội như: di cư tự do, lợi dụng tôn giáo, buôn lậu, ma tuý… diễn biến phức tạp. Ở một số cơ sở, hoạt động lãnh đạo, điều hành, quản lý, nhất là năng lực cụ thể hoá và tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu, đội ngũ cán bộ chưa ngang tầm nhiệm vụ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng và chất lượng một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế.

2.- Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế, yếu kém

2.1. Nguyên nhân đạt được những kết quả

Đảng bộ tỉnh đã vận dụng sáng tạo nghị quyết của Đảng vào thực tiễn của địa phương. Xác định đúng những lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, những tiềm năng, thế mạnh, những khâu đột phá và có bước đi phù hợp. Sớm ban hành được nhiều nghị quyết, cơ chế, chính sách thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển.

Phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất cao, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy được sức mạnh đoàn kết của nhân dân các dân tộc, các lực lượng xã hội.

Cấp ủy, chính quyền các cấp không ngừng đổi mới phương pháp công tác và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; quan tâm, sâu sát cơ sở, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực và tính chủ động công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Thường xuyên phát động các phong trào thi đua yêu nước và phát huy có hiệu quả công tác thi đua – khen thưởng, tạo ra động lực mạnh mẽ huy động cán bộ, nhân dân tích cực lao động sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nâng cao chất lượng công tác.

2.2. Nguyên nhân của hạn chế

a- Về khách quan:

Xuất phát điểm nền kinh tế của tỉnh thấp so với mặt bằng chung cả nước; nhận thức của nhân dân về sản xuất hàng hóa còn hạn chế, thiếu vốn; một số cơ chế, chính sách chưa thực sự thích hợp với điều kiện tỉnh vùng cao, biên giới.

Thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra trên địa bàn, gây thiệt hại lớn cho sản xuất, về người và tài sản nhân dân; tác động khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu đưa đến tình trạng suy giảm kinh tế và lạm phát ở nước ta, đã làm cho sản xuất, đời sống của một bộ phận đồng bào càng thêm khó khăn. Hệ thống kết cấu hạ tầng yếu kém; nhất là hệ thống giao thông chậm được cải tạo, nâng cấp.

Các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đã gây những phức tạp trên địa bàn tỉnh, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh ở cơ sở, nhất là an ninh nông thôn ở một số địa bàn dân cư.

b- Về chủ quan:

Quy mô sản xuất hàng hoá còn nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu. Hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại hạn chế; nhiều sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh thấp.

Trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, nhất là ở cơ sở. Thiếu đội ngũ chuyên gia đầu đàn trong các lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật. Chất lượng lao động và nguồn nhân lực chưa đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhận thức pháp luật trong một bộ phận dân cư còn hạn chế.

Việc cụ thể hóa nghị quyết ở một số cơ sở còn lúng túng, nhất là trong lãnh đạo, quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội. Một số mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch và của một số đề án, dự án thuộc 29 đề án của tỉnh chưa sát thực tiễn; một số đề án, dự án đã đầu tư hiệu quả chưa cao, tiến độ một số dự án đầu tư thực hiện chậm. Hoạt động hệ thống chính quyền các cấp có lúc chưa đồng bộ, thông suốt, đã hạn chế hiệu quả thực hiện nghị quyết của cấp ủy. 

Phần thứ hai 

PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ 

VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU, GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 

 1- Tư tưởng chỉ đạo

Phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Coi phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới là trọng tâm, phát triển công nghiệp là đột phá, phát triển thương mại – du lịch, dịch vụ là mũi nhọn. Tiếp tục tập trung nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, gắn với xây dựng nông thôn mới và đào tạo nghề cho nông dân, xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhanh chóng tạo ra các yếu tố nội lực vững mạnh. Phát triển công nghiệp làm động lực tăng trưởng. Phát triển thương mại – dịch vụ, du lịch để khai thác hiệu quả lợi thế. Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Lấy văn hóa, giáo dục làm nền tảng và động lực phát triển kinh tế, xã hội. Coi trọng phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững. Tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, mở rộng đối ngoại, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

2.- Mục tiêu tổng quát

Kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh, bền vững, gắn với ổn định, phát triển xã hội, để đến năm 2015, xây dựng Lào Cai trở thành tỉnh phát triển của vùng trung du và miền núi phía Bắc, là địa bàn quan trọng về hợp tác và giao lưu quốc tế của vùng và cả nước. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao. Cải thiện đời sống nhân dân đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm và bảo đảm an sinh xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng – an ninh, giữ gìn biên giới ổn định, hoà bình, hữu nghị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh… tạo tiền đề vững chắc để đến năm 2020, Lào Cai trở thành tỉnh phát triển của cả nước.

3.- Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2015

– Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân hằng năm: 14%; trong đó, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 6%; công nghiệp – xây dựng tăng 18,6% và dịch vụ tăng 14%. GDP bình quân đầu người: 38,4 triệu đồng (tương đương khoảng 1.900 – 2.000 USD). Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 24,8%; công nghiệp – xây dựng 41,1%; dịch vụ 34,1%.

Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 245 nghìn tấn. Xây dựng nông thôn đạt chuẩn Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới: 35 xã. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 5.100 tỷ đồng. Giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu trên địa bàn đạt khoảng 1,78 tỷ USD. Tổng lượng khách du lịch đến địa bàn: 1.200 nghìn lượt người. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 3.500 tỷ đồng.

– Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục. Đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi vào năm 2015. Tạo việc làm mới cho 50.000 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 53,2%. Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới từ 3 – 5%/năm. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,3%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn

– Tỷ lệ che phủ rừng: 53%. Cơ bản dân cư thành thị đều được sử dụng nước sạch và 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch và sinh hoạt hợp vệ sinh. Cơ bản các khu, cụm công nghiệp, tiểu-thủ công nghiệp có hệ thống xử lý chất thải, nước thải.

– 75% số thôn, bản có chi bộ độc lập; Cơ bản các đầu mối cơ sở (thôn, bản, tổ dân phố, trường học, trạm y tế) có đảng viên; 80% số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh; trong đó, 15% đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; 80 % trở lên số đảng bộ trực thuộc tỉnh đạt trong sạch, vững mạnh; 80% số tổ chức chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cơ sở đạt vững mạnh trở lên.

4.- Các nhiệm vụ chủ yếu

4.1. Khai thác tiềm năng, phát huy lợi thế, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và bền vững

Đẩy mạnh khai thác lợi thế, tiềm năng trên địa bàn. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế của tỉnh và của từng lĩnh vực, đi đôi với giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho ngành nghề, sản phẩm có thế mạnh và phù hợp.

Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, gắn với chế biến và thị trường; hình thành các vùng sản xuất tập trung cho sản phẩm hàng hoá lớn; tăng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác; bảo đảm an ninh lương thực trên địa bàn. Triển khai tích cực và có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Ưu tiên phát triển công nghiệp khai thác – chế biến khoáng sản theo hướng tập trung, hiệu quả, hình thành các tổ hợp sản xuất và phân phối. Chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ và tiểu-thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến nông lâm, sản.

Tập trung đầu tư khai thác lợi thế vị trí “cầu nối” và điều kiện tự nhiên, nâng cao chất lượng, hiệu quả các loại hình thương mại, dịch vụ; đưa khu kinh tế cửa khẩu thành vùng kinh tế động lực và dịch vụ, du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại, phát huy nội lực; đồng thời, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để khai thác nguồn lực và thị trường bên ngoài. Nâng cao hiệu quả các dự án thu hút đầu tư, góp phần vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân.

Nâng cao hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước đi đôi với tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho phát triển các thành phần kinh tế.

Huy động mọi nguồn lực xã hội tập trung đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nhất là hệ thống giao thông; ưu tiên đầu tư cho các vùng nông thôn, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền.

4.2. Phát triển văn hoá – xã hội đồng bộ, bảo đảm an sinh xã hội và xoá đói, giảm nghèo bền vững

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp; đặc biệt, ở vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa các hoạt động y tế, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể thao.

Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, huy động, lồng ghép các nguồn vốn, tranh thủ sự hỗ trợ và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư cho các chính sách, dự án giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.

Xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển nguồn nhân lực để từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tạo bước đột phá về chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt là lực lượng lao động có trình độ cao. Thực hiện chính sách thu hút cán bộ quản lý giỏi, công nhân kỹ thuật lành nghề về công tác tại tỉnh.

4.3. Củng cố quốc phòng – an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại

Củng cố quốc phòng – an ninh, tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng – an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, thực hiện tốt công tác quân sự địa phương; giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm cho phát triển.

Mở rộng, phát triển quan hệ đối ngoại với các nước, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, địa phương trong và ngoài nước; trong đó, chú trọng nâng cao hiệu quả hợp tác với các nước, vùng lãnh thổ, tổ chức, địa phương đã có quan hệ truyền thống. 

4.4. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả

Tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây dựng và củng cố các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh.

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống gắn với tiếp tục thực hiện sâu rộng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, nghiên cứu, quán triệt, học tập và triển khai nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.

Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng, chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Xây dựng, củng cố, đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng sát hợp với chức năng, nhiệm cụ của từng đơn vị cơ sở. Phát huy vai trò và nâng cao trách nhiệm của bí thư cấp uỷ. Không ngừng đổi mới cách ra nghị quyết và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ. Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển, có cơ cấu hài hoà, hợp lý.

Tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng và hệ thống chính trị. Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng trên các lĩnh vực, nhất là việc chấp hành quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện dân chủ trong Đảng, đoàn kết nội bộ, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thực hành tiết kiệm…

Tổ chức thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị trong thời kỳ mới. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Nhân rộng điển hình “Dân vận khéo”, phối hợp với phát động thực hiện mạnh mẽ các phong trào thi đua yêu nước.

Tăng cường công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giản biên chế; nâng cao hiệu quả điều hành của bộ máy quản lý nhà nước các cấp, vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội đối với cán bộ, đảng viên, công chức trên địa bàn.

   5.- Giải pháp chủ yếu

   5.1.- Chỉ đạo tổ chức cụ thể hoá nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp trên các lĩnh vực ngay sau đại hội

Kế thừa, tiếp thu 7 chương trình công tác trọng tâm toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIII với 29 đề án, nghị quyết chuyên đề, tập trung chỉ đạo lựa chọn những nội dung cần tiếp tục thực hiện để bổ sung, hoàn chỉnh, toàn diện hơn trên các lĩnh vực có tính bứt phá; lựa chọn xây dựng các chương trình, đề án trọng tâm giai đoạn 2011 – 2015 để lãnh đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ ngay từ đầu nhiệm kỳ ở các lĩnh vực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và cấp uỷ các cấp; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính.

5.2.- Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực

Phát huy cao độ nguồn nội lực, tranh thủ tối đa nguồn ngoại lực cho đầu tư phát triển. Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước hằng năm tập trung vào các vùng, các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Khai thác tối đa các nguồn vốn trong nhân dân, tổ chức kinh tế và doanh nghiệp dưới nhiều hình thức. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.

5.3.- Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng

Xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh, trong đó xác định rõ cơ cấu ngành nghề, tỷ trọng trong các lĩnh vực và cấp bậc đào tạo.

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá về giáo dục, huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đào tạo.

5.4.- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên

Không ngừng củng cố, xây dựng Đảng vững mạnh toàn diện; trong đó, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như: Tăng cường giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tập trung xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên. Thực hiện tốt công tác phát triển đảng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ và tổ chức đảng.

Thường xuyên tổng kết, kiểm điểm kết quả thực hiện nghị quyết, chỉ thị, chương trình, kế hoạch của cấp uỷ các cấp, đề ra giải pháp khắc phục yếu kém. Đổi mới việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết.

5.5.- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền các cấp

Tăng cường vai trò, trách nhiệm, năng lực và chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; đặc biệt là cấp cơ sở.

Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trong giải quyết công việc.

5.6.- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân 

Phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất của Đảng bộ, là hạt nhân, là cơ sở vững chắc xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn thể nhân dân. Đổi mới phương thức lãnh đạo, sâu sát cơ sở, phát huy dân chủ trong Đảng, trong nhân dân.

Tăng cường khối đoàn kết thống nhất giữa cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh xuống cơ sở.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2010 – 2015, phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, lãnh đạo Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ Đại hội XIV đề ra.

V- Giao cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2010 – 2015 căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, xây dựng chương trình và kế hoạch cụ thể, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2011 – 2015, nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội vào thực tiễn cuộc sống.

***

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XIV kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, nêu cao truyền thống đoàn kết, thống nhất, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường, tranh thủ lợi thế, nắm bắt thời cơ, khắc phục khó khăn và vượt qua thách thức, khai thác mọi nguồn lực, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu Nghị quyết Đại hội đã đề ra, xây dựng Lào Cai phát triển nhanh và bền vững, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng./.

Tweet

Tin khác

Tiếp thu ý kiến đóng góp, hoàn thiện các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng

(208 Lượt xem )

Thường trực Tỉnh ủy làm việc với Tiểu ban văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XVI

(283 Lượt xem )

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đạt hiệu quả cao trong công tác chữ thập đỏ

(2138 Lượt xem )

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đạt hiệu quả cao trong công tác chữ thập đỏ

(1943 Lượt xem )

Ban chỉ đạo 389 tỉnh họp đánh giá kết quả công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại 4 tháng đầu năm 2017

(2159 Lượt xem )

1

 2 

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Sóc Trăng Lần Thứ Xiv / 2023

Trong nhiệm kỳ 2015-2020, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã tập trung thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII; trong 24 chỉ tiêu chủ yếu, có 18 chỉ tiêu thực hiện đạt và vượt, 2 chỉ tiêu cơ bản đạt. Theo đó, công tác cải cách hành chính của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước được nâng lên; chỉ số cải cách hành chính tiếp tục tăng hạng qua các năm. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực được quan tâm thực hiện; kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh…

Kinh tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6,15%/năm; GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 2.110 USD. Trong nhiệm kỳ 2020-2025, mục tiêu tổng quát của Sóc Trăng là xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, đưa tỉnh Sóc Trăng phát triển nhanh, bền vững…

Đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương phát biểu chỉ đạo đại hội.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đồng chí Phạm Minh Chính biểu dương và đánh giá cao kết quả đạt được của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sóc Trăng trong nhiệm kỳ qua. Đồng chí Phạm Minh Chính cũng cho rằng tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng Sóc Trăng vẫn còn một số hạn chế cần được phân tích, phát hiện và nhanh chóng khắc phục, như: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế. Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số một số nơi chưa bảo đảm, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trên một số mặt còn hạn chế, bất cập, nhất là giải quyết thủ tục hành chính. Lợi thế, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh chưa được phát huy hiệu quả…

Trong nhiệm kỳ tới, đồng chí Phạm Minh Chính đề nghị Đảng bộ và nhân dân tỉnh Sóc Trăng cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung như: Tiếp tục giữ gìn, củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ và cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, tạo thành sức mạnh tổng hợp, đưa Sóc Trăng phát triển nhanh, bền vững. Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đặc biệt chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo bằng việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp; củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của UBND các cấp. Tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội; giữ gìn và phát triển văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy tối đa bản sắc văn hóa các dân tộc, nhất là ở khu vực nông thôn và đồng bào Khmer; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và gắn với thế trận lòng dân vững chắc, không để bị động, bất ngờ từ cơ sở; chủ động phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống những âm mưu, hành vi lợi dụng tôn giáo, dân tộc để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Tin, ảnh: HỒNG ĐĂNG

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Phường 6 Lần Thứ Xiv Nhiệm Kỳ 2022 / 2023

I. Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2020 – 2025 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội.

1. Về đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020

Trong năm năm qua có không ít khó khăn tác động, ảnh hưởng đến công tác lãnh đạo, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, nhưng với sự đoàn kết, quyết tâm, nỗ lực của Đảng bộ và cả hệ thống chính trị đã hoàn thành tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ phường lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020.

Tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội trên địa bàn phường tiếp tục có những chuyển biến tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng “Thương mại – Dịch vụ”. Thu ngân sách vượt chỉ tiêu hàng năm. Các công trình trọng điểm cơ bản hoàn thành; công tác quản lý chỉnh trang đô thị, tài nguyên, bảo vệ môi trường được chú trọng; các giải pháp về lĩnh vực giáo dục, văn hóa – thông tin – thể dục thể thao, y tế, an sinh xã hội, giảm nghèo được thực hiện có hiệu quả đã góp phần tích cực vào sự phát triển và làm bộ mặt đô thị phường ngày càng khang trang, sạch đẹp, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân được nâng lên. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước được đẩy mạnh. Hội đồng nhân dân (HĐND) từng bước phát huy tốt vai trò, chức năng là cơ quan quyền lực nhà nước, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn phường.

* Nguyên nhân của kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại

-Đối với kết quả đạt được:

Được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của Quận ủy – HĐND – UBND, sự hỗ trợ của các phòng, ban chuyên môn, mặt trận – đoàn thể quận; sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ; sự đồng thuận của nhân dân. Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, cải tiến lề lối, đổi mới phương pháp làm việc. Chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; kiểm tra, giám sát trong Đảng; công tác vận động nhân dân; sơ, tổng kết, biểu dương, khen thưởng; kịp thời phát hiện, giải quyết các vấn đề nảy sinh, không để tồn đọng, kéo dài. Xây dựng đội ngũ cán bộ trách nhiệm, tâm huyết, tích cực. Dân chủ, công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện các hoạt động, phong trào.

– Đối với hạn chế, tồn tại:

Tình hình dân số tăng nhanh, chủ yếu do nhập cư gây khó khăn cho công tác quản lý hành chính và đảm bảo an ninh trật tự. Sự phát triển của internet, mạng xã hội với nhiều nguồn thông tin không chính thống, xuyên tạc, thiếu chính xác, ảnh hưởng đến tâm lý, niềm tin của nhân dân, gây khó khăn cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy và chính quyền. Sự thay đổi khá nhiều về nhân sự do điều động, bổ nhiệm, luân chuyển ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều hành, triển khai, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Nhận thức về tín ngưỡng, tâm linh của người dân còn nặng nề; bên cạnh đó, việc cải táng, bốc mộ khá tốn kém, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình nên các hộ dân chưa đồng thuận cao; việc tiếp xúc với các gia đình hoặc đối tượng có tiếng nói quan trọng trong các gia tộc để vận động gặp rất nhiều khó khăn vì đa số không cư ngụ tại địa phương, những gia đình ở tại chỗ thường chỉ có nhiệm vụ trông coi khu mộ, do đó tỷ lệ vận động cải táng, bốc mộ đến nay khá thấp.

Đa số các trường học, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đều có tổ chức đảng, quần chúng đã trực tiếp tham gia tại nơi học tập, công tác; số đối tượng còn lại tại địa phương đa số không đảm bảo tiêu chuẩn về độ tuổi, lý lịch, trình độ; do đó, công tác phát triển đảng tại địa bàn dân cư, doanh nghiệp rất hạn chế.

Công tác nắm tình hình và phối hợp giữa bộ phận chức năng của UBND, mặt trận – đoàn thể, các chi, đảng bộ, khu phố, tổ dân phố, cảnh sát khu vực trong tuyên truyền, vận động, kiểm tra, xử lý chưa thực sự đồng bộ; bên cạnh đó, cán bộ được phân công phụ trách chưa quyết liệt đeo bám, tham mưu, xử lý công việc.

Các biện pháp đang áp dụng nhằm tăng cường chấn chỉnh trật tự kinh doanh lấn chiếm lòng, lề đường; vận động, chuyển hóa các cơ sở kinh doanh ngành nghề nhạy cảm còn hạn chế; chưa có sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất là tuyên truyền, vận động chủ nhà không kinh doanh hoặc cho thuê mặt bằng kinh doanh các ngành nghề tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tệ nạn xã hội cao, kinh doanh lấn chiếm lòng lề đường.

Trình độ năng lực tham mưu, ý thức trách nhiệm của một số ít cán bộ, công chức, chiến sỹ công an, quân sự có lúc chưa đáp ứng được yêu cầu công việc nên ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế – văn hoá – xã hội, quốc phòng – an ninh. Kinh nghiệm của một số cán bộ làm công tác dân vận chưa thực sự nhạy bén, kỹ năng chưa cao. Việc nắm tình hình, định hướng dư luận xã hội, tình hình nhân dân có lúc chưa kịp thời. Kỹ năng của lực lượng tuyên truyền viên còn hạn chế.

Giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển Đảng chưa linh hoạt. Các đoàn thể chưa thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức, thu hút sự tham gia của quần chúng, từ đó kịp thời phát hiện nguồn, giao nhiệm vụ, tạo điều kiện phấn đấu, bồi dưỡng giới thiệu cho Đảng.

Nguồn nhân sự cán bộ trẻ, cán bộ quy hoạch tuy có trình độ, kiến thức được đào tạo bài bản nhưng chưa vận dụng tốt vào thực hiện nhiệm vụ, chưa năng động và bản lĩnh trong xử lý công việc được giao phụ trách. Do đó, chưa đảm bảo tiêu chuẩn để giới thiệu bổ sung vào Ban Chấp hành Đảng bộ phường.

Một số tổ chức đoàn thể chưa phát huy được tiềm năng, sức mạnh của tổ chức; năng lực, trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cán bộ chưa chủ động thường xuyên bám sát cơ sở, nỗ lực đổi mới nội dung sinh hoạt gắn với nhu cầu thiết thực của đoàn viên, hội viên, do đó hoạt động thường đi vào lối mòn, không tạo được sức hấp dẫn, thu hút và sự quan tâm tham gia của đoàn viên, hội viên. Đoàn Thanh niên chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng và duy trì hoạt động của các chi đoàn doanh nghiệp.

* Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo trong 5 năm qua, rút ra một số kinh nghiệm

quan tâm công tác đào tạo trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ; rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức. Kiểm điểm, đánh giá cán bộ, đảng viên khách quan, thực chất. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, quy chế dân chủ trong cơ quan, chương trình kế hoạch công tác của từng bộ phận, từng cá nhân theo giai đoạn trong từng năm và cả nhiệm kỳ.

2. Về mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2020 – 2025

1. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn phường phấn đấu vượt dự toán quận giao 5%/năm; Đảm bảo tiết kiệm chi thường xuyên 10%/năm.

2. Phấn đấu 100% tuyến hẻm được duy tu, sửa chữa kịp thời khi xuống cấp.

3. 100% hộ dân và chủ nguồn thải ký hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; cam kết không xả rác ra đường và kênh rạch.

4. Đến năm 2025 có ít nhất 80% tổ chức, hộ gia đình thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đúng qui định.

5. Phấn đấu đến năm 2025 vận động trám, lấp ít nhất 500 giếng khoan hiện có.

6. Đến năm 2025 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thành phố dưới 0,5%/ tổng số hộ dân; thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng 1,3 lần so với năm 2020.

7. Tỷ lệ thất nghiệp đô thị dưới 2,21%.

8. Phấn đấu đến năm 2025 có 100% học sinh lớp 1, 80% học sinh tiểu học và 60% học sinh trung học cơ sở học 2 buổi/ngày.

9. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm dưới 1,05%.

10. Phấn đấu bảo hiểm y tế đạt chỉ tiêu quận giao.

11. Giữ vững Trạm y tế đạt Bộ tiêu chí Quốc gia.

12. Vận động hiến máu nhân đạo đạt 100% chỉ tiêu quận giao.

13. Phấn đấu phường được ghi nhận đạt chuẩn văn minh – đô thị hàng năm.

* Về quốc phòng – an ninh (02 chỉ tiêu)

14. Hoàn thành 100% chỉ tiêu nghĩa vụ quân sự và công an hàng năm, đảm bảo chất lượng chính trị và trình độ học vấn theo quy định.

15. Hàng năm, kiềm chế phạm pháp hình sự dưới 5 vụ/10.000 dân; Tỷ lệ điều tra, khám phá án đạt 75% trở lên.

* Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị (7 chỉ tiêu)

16. Hàng năm, 100% chi, đảng bộ và trên 98% đảng viên hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

17. Kết nạp 10 đảng viên/năm. Đến cuối nhiệm kỳ, tỷ lệ đảng viên trong giáo viên đạt ít nhất 25%; 100% tổ trưởng tổ dân phố là đảng viên.

18. Phấn đấu thành lập chi bộ, hoặc chi đoàn thanh niên, chi hội LHTN tại các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập (dưới 100 lao động) có đủ điều kiện.

19. 100% người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phường và các chi, đảng bộ, khu phố, tổ dân phố thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương theo quy định của Đảng.

20. Kiểm tra, giám sát 100% tổ chức Đảng và đảng viên về thực hiện thông báo, kết luận sau kiểm tra, giám sát của Đảng ủy và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy.

21. Hàng năm, Mặt trận và các đoàn thể được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Tăng 2% số lượng hội viên phụ nữ so với tổng số hội viên của năm trước liền kề; phấn đấu đến năm 2025 kết nạp 400 đoàn viên Đoàn TNCS HCM.

22. Tỷ lệ người dân hài lòng đối với tất cả các bộ phận tiếp dân đạt 95% trở lên.

1. Vận động đầu tư xây dựng công viên, khu vui chơi thiếu nhi tại Khu phố 1[2].

2. Vận động cải tạo mảng xanh và lắp đặt thiết bị thể thao công cộng tại Khu phố 5[3].

3. Vận động nâng cấp, trải nhựa đoạn cuối hẻm 187 đường số 28, Khu phố 1[4].

4. 100% các tuyến hẻm có gắn camera giám sát an ninh.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm xây dựng, bảo vệ và phát triển bền vững địa phương

2.4.1. Về quản lý và phát triển kinh tế: Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, môi trường kinh doanh, bảo đảm an ninh trật tự cho các thành phần kinh tế phát triển theo hướng thương mại – dịch vụ. Thực hiện đúng Luật ngân sách, công khai minh bạch, tiết kiệm chi tiêu, chống lãng phí; đảm bảo cân đối thu – chi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, giữ vững quốc phòng – an ninh.

2.4.3. Đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, chăm sóc sức khoẻ, phát triển giáo dục, văn hóa thông tin và nâng cao đời sống nhân dân: Đẩy mạnh các chương trình đảm bảo an sinh xã hội. Chăm lo tốt các hộ gia đình diện chính sách, hưởng phúc lợi xã hội đảm bảo đúng định mức, chế độ. Nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; giữ gìn phát huy các giá trị văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát triển các phong trào thể dục thể thao; đẩy mạnh công tác dân số, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Nâng chất phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

2.4.4. Về quốc phòng – an ninh và hoạt động tư pháp: Giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh. Xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; Đảm bảo chỉ tiêu giao quân nghĩa vụ hàng năm về số lượng và chất lượng chính trị. Nâng chất lượng phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” gắn với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Giải quyết các vụ việc đúng pháp luật, đúng hẹn, đáp ứng nhu cầu về tư pháp, hộ tịch của nhân dân.

2.4.5. Về xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, chất lượng đội ngũ đảng viên, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền.

2.4.6. Tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân: Lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội vững mạnh toàn diện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động và tỷ lệ tập hợp quần chúng, tích cực thực hiện nhiệm vụ chính trị địa phương, tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền. Chăm lo thiết thực đến đời sống vật chất, tinh thần của đoàn viên, hội viên, thật sự trở thành người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các giới quần chúng, vận động và tập hợp quần chúng cùng hưởng ứng, tham gia thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

II. Thông qua báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIII nhiệm kỳ 2015 – 2020. Từ kinh nghiệm của Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIII, Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIV cần tiếp tục phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác nhiệm kỳ 2020 – 2025.

V. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ phường khóa XIV căn cứ vào Nghị quyết Đại hội xây dựng chương trình hành động, các kế hoạch công tác để tổ chức thực hiện, nhanh chóng đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phong trào hành động cách mạng, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ phường khóa XIV đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Gò Vấp lần thứ XII nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Lần Thứ Xvi Đảng Bộ Tỉnh Kon Tum / 2023

25/09/2020 11:51

QUYẾT NGHỊ

I. Tán thành những nội dung đánh giá tình hình 5 năm 2015-2020 và mục tiêu chủ yếu, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp cơ bản 5 năm 2020-2025 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội:

1. Về đánh giá tình hình 5 năm 2015-2020, Đại hội khẳng định nhiệm kỳ qua, với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng. Kinh tế duy trì mức tăng trưởng khá (bình quân 9,13%/năm) với cơ cấu khá hợp lý. Chất lượng nguồn nhân lực và đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân từng bước được cải thiện. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; chính trị xã hội ổn định; hoạt động đối ngoại được tăng cường và mở rộng.

Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; qui mô kinh tế còn nhỏ; hàm lượng khoa học-công nghệ trong sản phẩm còn thấp. Công tác quản lý, bảo vệ rừng có lúc, có nơi chưa tốt. Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; công tác đào tạo nghề, bố trí việc làm sau đào tạo còn hạn chế. An ninh nông thôn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định; tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp, lấn chiếm đất đai và việc bồi thường, giải phóng mặt bằng có nơi, có vụ việc phức tạp. Công tác vận động quần chúng hiệu quả chưa cao.

2. Về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp giai đoạn 2020-2025, Đại hội nhất trí:

2.1. Mục tiêu

a. Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ và hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; củng cố niềm tin của Nhân dân và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tập trung phát triển dược liệu, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đầu tư phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ và tăng cường cải cách hành chính; bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mức sống của Nhân dân; bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Giữ vững ổn định quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, không để bị động bất ngờ. Đưa tỉnh Kon Tum phát triển nhanh và bền vững.

b. Các chỉ tiêu chủ yếu

Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2020-2025 từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2025, tỷ trọng nông-lâm-thuỷ sản 19-20%, công nghiệp-xây dựng 32-33%, thương mại-dịch vụ 42-43%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cả giai đoạn 2021-2025 đạt 118.000 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người 70 triệu đồng trở lên (tương đương trên 3.000 USD); Thu ngân sách Nhà nước tại địa bàn tăng bình quân 8,2%/năm và đạt trên 5.000 tỷ đồng vào năm 2025.

– Đến năm 2025: Quy mô dân số khoảng 620.000 người; trên 60% lao động qua đào tạo; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3-4%/năm; có 60 xã (70,5% số xã) trở lên đạt chuẩn nông thôn mới, 04 huyện và thành phố Kon Tum đạt chuẩn nông thôn mới hoặc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

– Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường 85%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 64%.

– Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hằng năm đạt trên 90%. Đến năm 2025, có trên 80% xã, phường, thị trấn mạnh về phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

– Đến năm 2025, kết nạp trên 5.000 đảng viên mới. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hằng năm đạt trên 75%. Trên 76% quần chúng được tập hợp vào các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội.

2.2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu Thực hiện tái cơ cấu đồng bộ kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

Xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tỉnh Kon Tum thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025.

Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao rõ rệt chỉ số quản trị hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số cải cách hành chính tỉnh (PAR INDEX), Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh (PCI). Chủ động, đổi mới hoạt động xúc tiến đầu tư; rà soát, chuẩn bị quỹ đất với quy mô phù hợp tại các huyện, thành phố để thu hút các nhà đầu tư chiến lược ở cả trong và ngoài nước đến tìm hiểu, đầu tư các dự án có quy mô lớn, công nghệ tiên tiến, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, thân thiện với môi trường. Tiếp tục rà soát, sắp xếp lại các công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp Nhà nước; đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp ngoài nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; phấn đấu đến năm 2025 thành lập mới 1.500 doanh nghiệp. Hỗ trợ phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã kiểu mới.

Rà soát, đẩy mạnh dồn đổi, tích tụ đất đai để phát triển một số vùng, khu sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, nông nghiệp hữu cơ, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ tại các huyện Đăk Hà, Kon Plông, Sa Thầy, Ia H’Drai, Kon Rẫy, thành phố Kon Tum và những địa bàn có điều kiện. Phấn đấu đến năm 2025, ổn định diện tích trồng sắn toàn tỉnh khoảng 34.100 ha; diện tích cà phê khoảng 25.000 ha, sản lượng khoảng 60.705 tấn, trong đó sản lượng chế biến sâu khoảng 350 tấn; ổn định diện tích cao su khoảng 70.000 ha, sản lượng mủ đạt 105.000 tấn. Đồng thời rà soát, chuyển đổi một số diện tích trồng cao su và các cây trồng khác kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả ở những nơi có điều kiện, phấn đấu nâng diện tích cây ăn quả lên khoảng 10.000 ha. Rà soát nguồn quỹ đất có khả năng trồng cây mắc ca để nghiên cứu, xác định mô hình sản xuất, liên kết tiêu thụ, hình thành một số vùng trồng cây mắc ca trên địa bàn tỉnh. Nâng cao hiệu quả Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), phấn đấu đến năm 2025 xây dựng được ít nhất 10 sản phẩm tham gia vào chuỗi giá trị các sản phẩm quốc gia.

Tập trung đầu tư phát triển các loại dược liệu phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Bố trí diện tích đất rừng và đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp phù hợp để phát triển vùng trồng dược liệu tập trung quy mô lớn. Phấn đấu phát triển vùng dược liệu tỉnh Kon Tum thành vùng dược liệu trọng điểm quốc gia và trở thành trung tâm sản xuất dược liệu lớn của cả nước vào năm 2025, với diện tích Sâm Ngọc Linh khoảng 4.500 ha, các cây dược liệu khác khoảng 10.000 ha; đa dạng hóa sản phẩm và quảng bá thương hiệu Sâm Ngọc Linh Kon Tum.

Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung ứng dụng công nghệ cao, liên kết chuỗi. Phát triển chăn nuôi đại gia súc (bò, dê) lấy thịt, lấy sữa tại các huyện Sa Thầy, Kon Plông và một số vùng có điều kiện; nuôi trồng thủy sản tại các huyện Ia H’Drai, Sa Thầy, Đăk Hà, Kon Plông và những nơi có diện tích mặt nước lớn.

Tập trung nguồn lực thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Thực hiện tốt công tác giao khoán quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và làm giàu từ rừng cho người dân, cộng đồng dân cư; gắn việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng với phát triển du lịch sinh thái; khuyến khích người dân nhận khoán và trồng rừng đối với các diện tích rừng nghèo. Tiến hành đánh giá mô hình trồng và phát triển rừng bền vững (FSC) của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô để nhân rộng. Rà soát diện tích đất lâm nghiệp còn trống, thu hồi diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và các dự án không hiệu quả để trồng lại rừng, trong đó, lựa chọn trồng các cây lấy gỗ có chu kỳ sinh trưởng nhanh, các loại cây gỗ quý, đẩy mạnh trồng rừng nguyên liệu theo quy hoạch gắn với thu hút phát triển nhà máy chế biến lâm sản, phấn đấu đến năm 2025 trồng thêm được 15.000 ha rừng.

Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản, dược liệu và năng lượng tái tạo. Nâng cao chất lượng xuất khẩu, phấn đấu đến năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 250 triệu USD.

2.2.2. Tập trung huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại 2.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc; bảo đảm an sinh xã hội.

Đẩy mạnh phát triển du lịch với nhiều hình thức, sản phẩm đa dạng, phong phú; tăng cường quảng bá, xây dựng Khu du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen thành điểm đến hấp dẫn, có thương hiệu trong khu vực, trong nước và quốc tế. Hình thành các tour du lịch cộng đồng tại các huyện Tu Mơ Rông, Đăk Glei, Kon Plông, Ngọc Hồi, Sa Thầy gắn với tour du lịch chinh phục núi Ngọc Linh, Cột mốc biên giới 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia, Vườn Quốc gia Chư Mom Ray; nâng lượng khách du lịch đến tỉnh đạt 2,5 triệu lượt người vào năm 2025.

Rà soát xác định lại các vùng kinh tế động lực của tỉnh để tập trung nguồn lực đầu tư, tạo sự lan tỏa cho các địa phương trên địa bàn tỉnh. Phát triển mạnh nguồn tài lực, vật lực của tỉnh. Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế để đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, chỉnh trang đô thị và phát triển đô thị mới. Thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, các công trình hạ tầng tại khu trung tâm hành chính của tỉnh, các dự án thương mại, dịch vụ. Rà soát, thu hồi một số diện tích trồng cao su, cà phê tại các vị trí thuận lợi đã hết chu kỳ khai thác để quy hoạch phát triển đô thị. Tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tiếp tục huy động vốn đầu tư kết cấu hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y, các dự án về lĩnh vực hạ tầng thương mại, dịch vụ, nhất là các dự án hậu cần xuất nhập khẩu (Logistics) tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh gắn với phát triển kinh tế cửa khẩu, kinh tế biên mậu. Phấn đấu xây dựng thành phố Kon Tum sớm đạt tiêu chuẩn đô thị loại II; huyện Ngọc Hồi sớm đạt tiêu chí đô thị loại IV; đến năm 2025, trung tâm huyện lỵ các huyện Kon Rẫy, Tu Mơ Rông, Ia H’Drai đạt tiêu chí đô thị loại V.

Tập trung phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phấn đấu đến cuối năm 2025 có trên 60% lao động qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề đạt 44%. Chú trọng đào tạo nghề cho lao động tại chỗ gắn với nhu cầu của thị trường lao động và các dự án đang triển khai trên địa bàn tỉnh. Tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức, nhà khoa học phát huy tốt năng lực; nâng cao chất lượng hoạt động của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Câu lạc bộ trí thức tỉnh.

Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phấn đấu trên 50% số trường mầm non, 70% số trường tiểu học, 50% số trường trung học cơ sở, 55% số trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng đào tạo từ bậc trung học cơ sở, phấn đấu nâng tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông chuyển sang học nghề lên 40%. Khuyến khích và tạo điều kiện, phấn đấu đến năm 2025 mỗi huyện có ít nhất 01 trường dân lập, tư thục chất lượng cao.

Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tập trung đầu tư nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh lên bệnh viện hạng I (750 giường bệnh); Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi (250 giường bệnh); Bệnh viện huyện Ia H’Drai (60 giường bệnh); Bệnh viện Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng (165 giường bệnh); Bệnh viện tâm thần quy mô 100 giường bệnh gắn với đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực y tế, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển các cơ sở y tế ngoài công lập chất lượng cao; nâng cao năng lực và thực hiện tốt công tác y tế dự phòng; tăng cường hợp tác, liên kết khám, chữa bệnh giữa các cơ sở y tế trong tỉnh với các bệnh viện có chất lượng cao trong nước. Quy hoạch phát triển Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2035. Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đến năm 2025, nâng tuổi thọ bình quân đạt 68 tuổi, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi còn dưới 34%. Triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế và thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, các di tích lịch sử cách mạng gắn với phát huy các tuyến, điểm du lịch. Đầu tư đồng bộ và sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở gắn với việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phấn đấu đến năm 2025, 60% xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa, 90% thôn, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa. Tập trung phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục, thể thao quần chúng; chú trọng đầu tư phát triển các môn thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao mà tỉnh có thế mạnh.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại

Rà soát, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm nghiên cứu, ứng dụng và dịch vụ khoa học, công nghệ tỉnh; hình thành một số trung tâm nghiên cứu chuyên sâu về dược liệu và các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; tăng cường hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm đặc thù, sản phẩm chủ lực của tỉnh. Triển khai chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước; xây dựng thành phố Kon Tum thành đô thị thông minh. Nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thông, xuất bản, báo chí; đa dạng hóa về nội dung và tăng cường thời lượng phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương trên các phương tiện truyền thông.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh; ưu tiên nguồn lực thực hiện chính sách dân tộc, nhất là giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, phấn đấu đến năm 2025, 100% hộ dân tộc thiểu số có đất ở, đất sản xuất, 20% trở lên hộ dân tộc thiểu số tham gia vào hợp tác xã; thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân.

Tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ

Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm. Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo và các nguyên liệu, vật liệu mới, thân thiện với môi trường; có chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường.

Nâng cao chất lượng công tác đánh giá, dự báo tình hình; chủ động đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch; tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh xóa bỏ triệt để tà đạo Hà Mòn. Quản lý chặt chẽ đất quốc phòng gắn với rà soát, chuyển một số diện tích đất quốc phòng không còn nhu cầu sử dụng cho địa phương quản lý để phát triển kinh tế, xã hội.

Chú trọng công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh văn hóa, tư tưởng, an ninh mạng. Tiếp tục triển khai có hiệu quả phong trào “toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; đẩy mạnh đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, không để hình thành tội phạm có tổ chức, băng nhóm. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp trong công tác phòng, chống tội phạm. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp.

Tiếp tục tăng cường quan hệ, hợp tác toàn diện với các tỉnh giáp biên của Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia. Phối hợp đề nghị xem xét, sớm mở cửa khẩu Hồ Le và những nơi đủ điều kiện, nâng cấp các cặp cửa khẩu Đăk Kôi – Kon Tuy Neak, Đăk Blô – Đăk Bar thành cửa khẩu chính. Nghiên cứu thiết lập quan hệ hợp tác với một số địa phương của Pháp và các nước Âu-Mỹ có thế mạnh về du lịch, quy hoạch và quản lý đô thị; thực hiện có hiệu quả nội dung hợp tác đã ký kết…

Tiếp tục đổi mới hình thức và nâng cao chất lượng công tác quán triệt, triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp có bản lĩnh, trình độ, có lý luận sắc bén, kỹ năng tham mưu xử lý khủng hoảng truyền thông, khả năng tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên mạng xã hội.

Tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả NQTW 4 khóa XII, gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các quy định của Đảng về nêu gương; đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, cán bộ, đảng viên trong triển khai thực hiện nhiệm vụ của địa phương, đơn vị.

Tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy gắn với tinh giản biên chế. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, năng lực, trách nhiệm, tâm huyết với nhiệm vụ được giao. Triển khai thực hiện tốt công tác nhận xét, đánh giá cán bộ và công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ hằng năm; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhất là đối với cấp cơ sở.

Thực hiện nghiêm túc, đúng thực chất việc tự phê bình và phê bình hằng năm. Tiếp tục đổi mới nội dung và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ. Thực hiện tốt công tác phát triển đảng viên gắn với rà soát, sàng lọc đảng viên, kiên quyết đưa những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đội ngũ thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố và chủ trương bố trí bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng, phấn đấu đến năm 2025, trên 90% thôn trưởng là đảng viên, 70% bí thư chi bộ kiêm thôn trưởng, tổ trưởng tổ dân phố.

Triển khai thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; trong đó, đẩy mạnh công tác tự kiểm tra của tổ chức đảng, tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm và trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy các cơ quan có chức năng tư pháp, quản lý, bảo vệ rừng, phòng, chống tham nhũng trong thực hiện nhiệm vụ. Tiếp tục rà soát, lồng ghép các chương trình thanh tra, kiểm tra, giám sát, tránh chồng chéo, trùng lắp.

Tăng cường, đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận của hệ thống chính trị; đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; nâng cao hiệu quả công tác dân vận của chính quyền. Thực hiện tốt Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa bí thư cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chính quyền các cấp với Nhân dân trên địa bàn tỉnh; quy định về trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục phát huy vai trò của Nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp; duy trì việc lồng ghép hội nghị tiếp xúc cử tri của đại biểu hội đồng nhân dân 3 cấp trên cùng một địa bàn; tăng cường hoạt động chất vấn tại các kỳ họp hội đồng nhân dân và các phiên giải trình của thường trực hội đồng nhân dân. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động giám sát; tập trung giám sát chuyên đề, giám sát việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của cơ quan hành chính. Đẩy mạnh cải cách hành chính; nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng hành chính cho công chức, viên chức; rà soát, cắt giảm mạnh các thủ tục hành chính; hình thành trung tâm hành chính công cấp huyện, xây dựng thành công chính quyền điện tử của tỉnh.

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; tăng cường vai trò giám sát, phản biện xã hội. Phát động và triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững”. Tăng cường công tác phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội với các cơ quan Nhà nước trong công tác giám sát, phản biện xã hội, vận động quần chúng; xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cốt cán, người có uy tín trong cộng đồng, trong các dân tộc, tôn giáo; xây dựng và thực hiện mô hình “Tổ nhân dân tự quản” tại trên 80% khu dân cư trên địa bàn tỉnh.

II. Thông qua Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV và thống nhất với những định hướng lớn trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVI cần phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác, bảo đảm lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đề ra.

IV. Bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVI gồm 50 đồng chí và Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng gồm 15 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVI hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng và các cơ quan tham mưu giúp việc Trung ương để chuẩn y theo quy định.

V. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVI căn cứ vào Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XVI Đảng bộ tỉnh và trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, khẩn trương xây dựng chương trình công tác toàn khóa, các kế hoạch công tác để sớm đưa Nghị quyết Đại hội đi vào thực hiện trong thực tiễn cuộc sống.

***

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2020-2025 kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh đoàn kết một lòng, tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, tận dụng thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thử thách, chủ động, sáng tạo, ra sức thi đua thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Quyết tâm ” Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; năng động, sáng tạo; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; giữ vững quốc phòng, an ninh; huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đưa tỉnh Kon Tum phát triển nhanh và bền vững“, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lào Cai Lần Thứ Xiv / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!