Đề Xuất 12/2022 # Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Nâng Cao Hiệu Quả Các Nguồn Lực Của Nền Kinh Tế / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Nâng Cao Hiệu Quả Các Nguồn Lực Của Nền Kinh Tế / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Nâng Cao Hiệu Quả Các Nguồn Lực Của Nền Kinh Tế / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thời gian qua, việc quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế bao gồm: Nhân lực, vật lực và tài lực đã có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước. Nguồn nhân lực dồi dào; con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, cần cù, sáng tạo; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên đã đáp ứng cơ bản nhu cầu của thị trường lao động. Lực lượng lao động có sự chuyển dịch nhanh từ khu vực nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có nhiều tiềm năng để khai thác, sử dụng; cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh nâng cao đời sống nhân dân. Việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính, tiền tệ đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, duy trì tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực hiện còn hạn chế, bất cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, nhiều trường hợp chưa theo cơ chế thị trường, gây lãng phí và làm cạn kiệt nguồn lực của đất nước. Chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý, thiếu hụt nhân lực là kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao, trình độ ngoại ngữ hạn chế, thiếu các kỹ năng mềm. Kết nối cung – cầu trên thị trường lao động còn nhiều bất cập. Tình trạng thất nghiệp ở nhóm lao động trẻ hoặc không phù hợp giữa công việc và trình độ đào tạo còn khá phổ biến. Chất lượng việc làm thấp, việc làm phi chính thức chiếm tỉ trọng cao. Năng suất lao động thấp so với các nước trong khu vực. Việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hiệu quả. Diện tích đất sử dụng kém hiệu quả hoặc chưa sử dụng còn lớn; nhiều địa phương buông lỏng quản lý dẫn đến tình trạng đất bị hoang hóa, bị lấn chiếm, tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và gây thất thu ngân sách nhà nước. Năng lực khai thác tài nguyên khoáng sản còn nhiều hạn chế, công nghệ chậm được đổi mới. Việc phối hợp giữa các chủ thể quản lý tài nguyên khoáng sản chưa tốt, còn hiện tượng cát cứ và thiếu đồng bộ, liên thông giữa các vùng, miền, địa phương, làm giảm hiệu quả khai thác tài nguyên. Tình trạng khai thác tài nguyên khoáng sản, nguồn nước ngầm quá mức gây lãng phí và huỷ hoại môi trường còn xảy ra ở nhiều nơi. Thị trường tài nguyên khoáng sản chậm được hình thành, phát triển thiếu đồng bộ. Quan điểm đẩy mạnh kinh tế hoá ngành tài nguyên, môi trường chậm được triển khai, thể chế hoá và tổ chức thực hiện. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn lạc hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đầu tư vào kết cấu hạ tầng còn dựa nhiều vào ngân sách nhà nước; hoạt động xã hội hóa, thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng còn nhiều hạn chế. Khung khổ pháp lý còn thiếu, chưa đồng bộ; việc quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở hạ tầng còn bất cập. Hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính, tiền tệ chưa cao: Cân đối chi chưa gắn kết chặt chẽ với khả năng thu từ nền kinh tế; việc phân bổ các nguồn lực còn dàn trải, lãng phí; ứng chi và nợ đọng xây dựng cơ bản còn lớn; bội chi ngân sách ở mức cao, nguồn lực dự trữ quốc gia còn hạn chế. Quản lý, sử dụng tài sản công còn kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát. Nợ xấu tuy đã được xử lý một bước quan trọng nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn, hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Việc dự báo, cân đối và quản lý quỹ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội chưa tốt.

Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trên là do chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế. Việc ban hành và tổ chức thực hiện một số cơ chế, chính sách, pháp luật còn bất cập, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp diễn biến thực tiễn và yêu cầu phát triển. Công tác phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương và địa phương nhiều trường hợp còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả. Việc kiểm tra, giám sát, quản lý các nguồn lực chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức, thiếu tính chuyên nghiệp. Công tác kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế chưa được tổ chức thường xuyên, định kỳ.

II- QUAN ĐIểM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU 1. Quan điểm chỉ đạo

– Quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế cho phát triển đất nước là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân.

– Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế là yêu cầu cấp bách trong tình hình hiện nay để khắc phục các tồn tại, yếu kém của nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội đất nước theo các mục tiêu Đại hội Đảng lần thứ XII đề ra.

– Đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực; thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; áp dụng nguyên tắc thị trường trong quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Đẩy mạnh kinh tế hóa nguồn vật lực, trong đó tập trung vào nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Tập trung khai thác tối đa tiềm năng khoa học và công nghệ cho phát triển kinh tế – xã hội.

– Kiểm kê, đánh giá đầy đủ, thực chất các nguồn lực của nền kinh tế là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các quy hoạch, kế hoạch phát triển trung hạn, dài hạn trong từng thời kỳ. Tất cả các nguồn lực của nền kinh tế phải được kiểm kê đánh giá, thống kê, hạch toán đầy đủ, đúng đắn trong nền kinh tế; được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, phát huy tối đa hiệu quả và phát triển bền vững.

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát đối với việc khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực, không để xảy ra thất thoát, lãng phí, cạn kiệt nguồn lực của đất nước và huỷ hoại môi trường.

2. Mục tiêu 2.1. Mục tiêu tổng quát

Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiến tới trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Mục tiêu cụ thể

a) Đối với nguồn nhân lực

– Đến năm 2025: Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dưới 33% tổng số lao động của cả nước. Khắc phục cơ bản tình trạng mất cân đối cung – cầu nhân lực trong nền kinh tế; thiết lập hệ thống sắp xếp công việc dựa trên vị trí việc làm, củng cố hệ thống chức nghiệp thực tài.

– Đến năm 2035: Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dưới 25% tổng số lao động của cả nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao trên thế giới (giá trị từ 0,700 – 0,799). Phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, có đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ, chuyên gia đầu ngành tương đương trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực.

– Đến năm 2045: Tỉ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản dưới 15% tổng số lao động của cả nước. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao trên thế giới (giá trị từ 0,800 trở lên). Năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nhân lực Việt Nam đạt mức trung bình các nước ASEAN-4.

b) Đối với nguồn vật lực

– Đến năm 2025

+ Hoàn thiện đồng bộ hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, công cụ thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản phù hợp với thực tế quy mô và hiệu quả đầu tư. Xây dựng mới và duy trì vận hành mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên môi trường hiện có.

+ Hình thành hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội tương đối đồng bộ, hiện đại. Hoàn thành dứt điểm các công trình có tính chất cấp bách, trọng tâm, trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội, nâng cấp hạ tầng kết nối giữa các vùng, miền trong cả nước và kết cấu hạ tầng đô thị.

– Đến năm 2035

+ Phát triển các công cụ điều tiết thị trường quyền sử dụng đất, bảo đảm khoảng 99% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác, sử dụng. Kiểm soát tình hình ô nhiễm nguồn nước; phục hồi 25% diện tích hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái. Hoàn thiện hệ thống mạng quan trắc tài nguyên, môi trường quốc gia theo hướng tự động hoá. Hoàn thành việc xây dựng đồng bộ cơ sở dữ liệu ngành tài nguyên, môi trường và hệ thống thông tin giám sát tài nguyên quốc gia.

+ Bảo đảm hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại, kết nối thuận tiện, nhanh chóng đến các vùng, miền trong cả nước, khu vực và với quốc tế.

– Đến năm 2045

+ Chủ động ngăn ngừa, hạn chế tình trạng suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

+ Hoàn thiện cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối thông suốt trong nước với quốc tế, ngang bằng với các nước phát triển.

c) Đối với nguồn tài lực

– Đến năm 2025

+ Giữ vững an ninh tài chính quốc gia; bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP, hướng tới cân bằng thu – chi ngân sách nhà nước. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

+ Đến năm 2020 cơ bản hoàn thành và đến năm 2025 hoàn thành việc sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước trên phạm vi cả nước; hoàn thành di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, cơ sở phải di dời theo quy hoạch đã được phê duyệt.

+ Đến năm 2025 mức dự trữ quốc gia đạt 0,8% – 1% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt 55% GDP.

– Đến năm 2035

+ Mức dự trữ quốc gia đạt 1,5% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt 70% GDP. Nguồn vốn huy động cho nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 20% – 30% tổng nguồn vốn đầu tư dài hạn.

+ Thu ngân sách nhà nước về đất đai đạt 10%, thu từ khai thác tài sản công đạt 5% tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm.

– Đến năm 2045

+ Mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt 80% GDP. Nguồn vốn huy động cho nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 30% – 50% tổng nguồn vốn đầu tư dài hạn.

+ Giữ ổn định thu ngân sách nhà nước về đất đai đạt 10%, thu từ khai thác tài sản công đạt 5% – 7% tổng thu ngân sách nhà nước.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1. Nhiệm vụ, giải pháp chung

1.1. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách để khơi thông, giải phóng tối đa và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực của đất nước.

1.2. Đổi mới mô hình tăng trưởng chuyển từ chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, vốn đầu tư và lao động sang sử dụng tổng hợp, có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế; nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và phát triển bền vững của nền kinh tế.

1.3. Cơ cấu lại nền kinh tế, ngành, vùng và sản phẩm chủ yếu theo hướng hiện đại, phát huy lợi thế so sánh và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tập trung các nguồn lực phát triển những sản phẩm có lợi thế so sánh, sức cạnh tranh, giá trị gia tăng cao và có thị trường tiêu thụ. Đổi mới cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng bảo đảm cạnh tranh công bằng, bình đẳng, tôn trọng tính phổ biến hơn là nhấn mạnh tính đặc thù; định vị vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước tập trung vào định hướng, dẫn dắt và thực hiện những dịch vụ công, đầu tư các dự án trọng điểm quốc gia mà các thành phần kinh tế khác không đủ năng lực hoặc không có nhu cầu đầu tư.

1.4. Nâng cao năng lực kiến tạo, quản trị quốc gia và năng lực tự chủ, đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở tăng cường năng lực phân tích, đánh giá, dự báo trên các lĩnh vực. Thực hiện công khai, minh bạch, bình đẳng và dân chủ hoá đời sống kinh tế – xã hội. Kiểm soát tốt quyền lực, đề cao trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ. Xây dựng và thực thi nghiêm các chế tài đủ mạnh nhằm ngăn chặn hành vi cửa quyền, độc quyền; cơ chế xin – cho; lợi ích nhóm; đẩy lùi tham nhũng, góp phần củng cố lòng tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp và toàn xã hội.

1.5. Chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng tối đa thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Trước mắt cần nghiên cứu thấu đáo nội hàm, phương thức vận hành và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4; định hướng nhiệm vụ, giải pháp thực hiện cụ thể vào một số ngành, lĩnh vực, địa bàn để chủ động hội nhập và hoà chung vào dòng chảy của cuộc cách mạng công nghiệp này.

1.6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chia sẻ thông tin về các nguồn lực trong nền kinh tế để sử dụng tối ưu và hiệu quả; phân phối, chia sẻ và tái sử dụng có hiệu quả các nguồn lực dư thừa, làm gia tăng giá trị các nguồn lực của nền kinh tế.

2. Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đối với từng nguồn lực 2.1. Đối với nguồn nhân lực a) Nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế về phát triển, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam

– Tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức, thực hiện tốt chủ trương coi giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, phát triển giáo dục – đào tạo gắn với phát triển khoa học và công nghệ.

– Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động. Triệt để khắc phục “bệnh thành tích” và những tiêu cực trong giáo dục, đào tạo; khắc phục tâm lý và hiện tượng quá coi trọng và đề cao “Bằng cấp”, “Chứng chỉ” một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực.

– Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về phát triển, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực, nhất là luật pháp về lao động tiền lương, giáo dục – đào tạo, bảo hiểm xã hội…

– Đổi mới công tác quản lý và phương thức hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức quần chúng, xã hội, nghề nghiệp… trong phát triển nguồn nhân lực. Phát triển mạnh hệ thống thông tin đại chúng, mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực cho người dân tiếp cận thông tin, thụ hưởng các dịch vụ văn hoá, vui chơi giải trí, có cuộc sống tinh thần lành mạnh nhằm nhanh chóng tái tạo, phát triển năng lực làm việc và khả năng sáng tạo của mỗi người.

b) Đổi mới công tác quản lý, sử dụng, đánh giá và đào tạo nguồn nhân lực

– Đổi mới căn bản và toàn diện chính sách về đánh giá, sử dụng nhân lực trong khu vực nhà nước. Cải thiện điều kiện, môi trường lao động để tạo động lực, khuyến khích lao động hiệu quả, sáng tạo. Khẩn trương xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, thực hiện trả lương theo vị trí việc làm, gắn với kết quả hoạt động công vụ và hiệu suất làm việc.

– Đổi mới công tác đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và chế độ tiền lương đối với các đơn vị hành chính công dựa trên nguyên tắc thị trường, bảo đảm cán bộ, công chức đủ sống bằng lương và từng bước có tích luỹ. Đẩy mạnh quá trình trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, tổ chức sự nghiệp công lập trong quản lý, sử dụng nhân lực.

– Xây dựng tiêu chuẩn, quy trình đánh giá nhân lực dựa trên năng lực đóng góp, kết quả, năng suất lao động thực tế, thực hiện chế độ đãi ngộ tương xứng với trình độ, năng lực và kết quả công việc. Thực hiện giám sát xã hội, bảo đảm vai trò giám sát của cộng đồng, phát huy vai trò của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc giám sát chất lượng đào tạo nhân lực. Tổ chức lại hệ thống cấp bậc đào tạo theo chuẩn mực quốc tế.

– Quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trường, cơ sở dạy nghề bảo đảm phù hợp yêu cầu phát triển và điều kiện từng vùng, miền trên cả nước. Hình thành các trường dạy nghề chất lượng cao đạt đẳng cấp quốc tế và khu vực. Phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề theo hướng xã hội hóa. Gắn đào tạo nghề với phát triển các ngành, lĩnh vực, đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu, mục tiêu của doanh nghiệp.

– Phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và sử dụng có hiệu quả “nhân tài”, tập trung thu hút “người tài từ nước ngoài”. Nhà nước tiếp tục đầu tư, hiện đại hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục năng khiếu trong giáo dục phổ thông. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư, đóng góp về tài chính, nhân lực, vật lực xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục năng khiếu.

c) Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động hoạt động hiệu quả

– Thực hiện cải cách chính sách tiền lương; tăng cường cơ chế thỏa thuận về tiền lương; thực hiện trả lương đúng với giá trị sức lao động để tiền lương trở thành động lực thúc đẩy tăng năng suất lao động, động viên người lao động cống hiến và phát huy khả năng sáng tạo.

– Đầu tư nâng cao năng lực, đổi mới nội dung công tác hướng nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động. Tăng cường định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề.

– Xây dựng mạng lưới và khuyến khích phát triển các trung tâm dịch vụ việc làm, tổ chức thị trường lao động thường xuyên, công khai, minh bạch; kết nối hệ thống các sàn giao dịch, giới thiệu việc làm và các điểm giao dịch việc làm trên cả nước. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, thông tin cung – cầu nhân lực, việc làm quốc gia.

2.2. Đối với nguồn vật lực a) Đối với nguồn lực tài nguyên thiên nhiên

– Hoàn thiện hệ thống luật pháp thúc đẩy xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể hóa quan điểm kinh tế hóa tài nguyên khoáng sản.

– Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản phẩm phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đa dạng hóa nguồn lực phòng, chống thiên tai, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

– Sửa đổi, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách tạo khung khổ pháp lý điều chỉnh hạn điền, thực hiện tích tụ tập trung ruộng đất để cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển các vùng thâm canh, chuyên canh nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao; phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Rà soát diện tích đất và tình hình đất đã giao cho các chủ sử dụng, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước quy mô lớn. Xử lý triệt để bất cập trong quản lý, sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp, nhất là tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng, chuyển mục đích, cho thuê, cho mượn, giao khoán trái pháp luật.

– Tiếp tục nâng cao tỉ lệ che phủ rừng và chất lượng rừng. Triển khai quyết liệt các giải pháp ngăn chặn tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng. Đẩy mạnh giao đất, giao rừng, nâng cao thu nhập và đời sống người làm lâm nghiệp. Thống nhất thiết lập và quản lý có hiệu quả hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên.

– Xây dựng chiến lược phát triển tổng hợp kinh tế biển; phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển. Gắn kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo.

– Điều tra, đánh giá đầy đủ tiềm năng, trữ lượng tài nguyên khoáng sản; áp dụng phương pháp tiên tiến trong quản trị tài nguyên khoáng sản. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác, chế biến, xuất khẩu khoáng sản và quản lý môi trường, tiến tới đấu thầu quyền khai thác mỏ, hoạt động khai thác và một số hoạt động phụ trợ khai thác mỏ. Xử lý nghiêm việc khai thác tài nguyên không phép, trái phép.

– Đẩy mạnh công tác thăm dò, đánh giá tiềm năng nước mặt và nước ngầm. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch ngành cấp nước có tính tới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Triển khai thực hiện các giải pháp lưu giữ và sử dụng tiết kiệm các nguồn nước. Ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm hành vi gây ô nhiễm nguồn nước. Điều tra và lập cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học quốc gia. Tăng cường năng lực dự báo thiên tai, biến đổi khí hậu để chủ động phòng, chống và giảm thiểu thiệt hại.

b) Đối với nguồn lực cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội

– Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng công khai, minh bạch, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và xã hội, coi đây là giải pháp đột phá để thực hiện các mục tiêu bảo đảm hoàn thiện cơ sở vật chất và hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

– Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư công thông qua xây dựng, thực hiện tốt kế hoạch đầu tư phát triển trung hạn, dài hạn. Ưu tiên đầu tư các công trình có tính cấp bách, trọng tâm, trọng điểm, các công trình kết cấu hạ tầng bảo đảm tính đồng bộ, tính kết nối nhằm phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm bảo đảm việc huy động, sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, hiệu quả, xử lý nghiêm các vi phạm gây tổn thất, lãng phí.

– Rà soát tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, kiên quyết chấm dứt đầu tư đối với các dự án kém hiệu quả, thiếu tính khả thi để tập trung đầu tư cho các công trình và dự án cấp bách khác.

– Hoàn thiện cơ chế phân cấp đầu tư, phân bổ nguồn vốn, phát huy tính chủ động, sáng tạo, đề cao trách nhiệm và có chế tài mạnh đối với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương, nhất là người đứng đầu trong các quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm quản lý thống nhất.

– Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phương pháp quản lý hiện đại trong tổ chức xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực cơ sở vật chất và hạ tầng kinh tế – xã hội.

2.3. Đối với nguồn tài lực

– Thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước, tăng cường kỷ luật tài chính – ngân sách nhà nước ở tất cả các cấp, các ngành. Nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách nhà nước, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, tập trung chống thất thu, chuyển giá và nợ đọng thuế. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách nhà nước, bảo đảm triệt để tiết kiệm, chống lãng phí, tăng nguồn thu sự nghiệp; không ban hành các chính sách, chế độ, chương trình, đề án khi không cân đối được nguồn; kiểm soát chặt chẽ việc ứng trước dự toán, chi chuyển nguồn, chi từ nguồn dự phòng ngân sách nhà nước.

– Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, phối hợp đồng bộ với chính sách tiền tệ. Phấn đấu từng bước giảm tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, tiến tới cân bằng thu – chi. Giảm các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách nhà nước để tập trung nguồn lực cho phát triển. Kiểm soát và quản lý nợ công trong giới hạn cho phép, đẩy mạnh cơ cấu lại nợ công, kiểm soát chặt chẽ các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn; hoàn thiện luật pháp, chính sách quản lý nợ công phù hợp với tình hình thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế. Nâng cao hiệu quả sử dụng nợ công, gắn trách nhiệm phân bổ, sử dụng vốn vay với trách nhiệm giải trình, cân đối nghĩa vụ trả nợ; tập trung phát triển thị trường vốn trong nước theo hướng đa dạng hoá công cụ nợ và nhà đầu tư, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

– Rà soát, hoàn thiện và thực hiện các giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả để tăng dự trữ quốc gia và các nguồn lực tài chính khác cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước như: Kiều hối, Quỹ bảo hiểm xã hội và các quỹ ngoài ngân sách nhà nước khác. Có giải pháp phù hợp khuyến khích huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực vàng và ngoại tệ trong dân cư cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Phát triển mạnh mẽ công nghệ tài chính và kinh tế số.

– Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả chính sách tiền tệ, phối hợp có hiệu quả với chính sách tài khoá và các chính sách khác để kiểm soát lạm phát, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành lãi suất, tỉ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và thị trường tiền tệ. Triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thị trường vàng, quản lý giao dịch vãng lai và sử dụng ngoại tệ hợp lý. Phát triển thị trường tiền tệ ổn định, minh bạch, phù hợp với định hướng phát triển thị trường tài chính.

– Triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Quốc hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng và Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020; tập trung xử lý, cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém và xử lý nợ xấu; nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng, chuyển đổi mô hình kinh doanh, quản trị, điều hành của tổ chức tín dụng; tăng cường, đổi mới công tác thanh tra, giám sát ngân hàng; bảo đảm an toàn hệ thống.

– Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường chứng khoán; xây dựng Luật Chứng khoán sửa đổi và các văn bản hướng dẫn thực hiện nhằm phát triển đồng bộ thị trường vốn, thị trường chứng khoán thành kênh huy động vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển. Chuẩn bị cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ; phát triển đầy đủ, đồng bộ thị trường chứng khoán phái sinh, cổ phiếu, trái phiếu, tạo điều kiện cho việc thực hiện các giao dịch nợ trên thị trường chứng khoán và chuyển đổi các khoản nợ xấu thành chứng khoán để giao dịch công khai, minh bạch vào thời điểm thích hợp. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

– Hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực bảo hiểm. Khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế. Nâng cao năng lực quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm; thực hiện hiệu quả các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm.

– Giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước, bảo đảm đúng quy định, hiệu quả.

– Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, hướng tới xây dựng Bộ Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn. Nghiên cứu xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công ở cấp quốc gia và cấp địa phương; xây dựng, đưa vào vận hành hệ thống giao dịch điện tử về tài sản công; mở rộng, nâng cấp cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công. Rà soát, hoàn thiện chính sách tài chính về đất đai, khai thác tài nguyên thiên nhiên.

– Đổi mới cơ chế quản lý, cấp phát ngân sách nhà nước; đổi mới cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập; khuyến khích, hỗ trợ thực hiện xã hội hoá đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị – xã hội tổ chức phổ biến, quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện nghiêm túc Nghị quyết.

4. Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban cán sự đảng, đảng đoàn và cấp uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị kết quả thực hiện Nghị quyết./.

Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Nước Ngoài / 2023

Một góc thành phố Hà Nội. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 20/8, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, từng bước tiếp cận với thông lệ quốc tế.

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh và có hiệu quả, trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng sôi động, nhiều tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp lớn với công nghệ hiện đại đầu tư vào nước ta; quy mô vốn và chất lượng dự án tăng, góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người lao động; nâng cao trình độ, năng lực sản xuất; tăng thu ngân sách nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.

2. Tuy nhiên, việc thu hút, quản lý và hoạt động đầu tư nước ngoài vẫn còn những tồn tại, hạn chế và phát sinh những vấn đề mới. Thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

Chính sách ưu đãi còn dàn trải, thiếu nhất quán, không ổn định. Môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh tuy đã được cải thiện, nhưng vẫn còn hạn chế; chất lượng, hiệu quả thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài chưa cao.

Hạ tầng kinh tế-xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng yêu cầu; còn thiếu các thiết chế văn hóa, xã hội thiết yếu. Cơ chế và năng lực xử lý tranh chấp hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Hệ thống tổ chức bộ máy và năng lực thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài còn bất cập, phân tán, chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu chủ động và tính chuyên nghiệp.

Số lượng dự án quy mô nhỏ, công nghệ thấp, thâm dụng lao động còn lớn; phân bố không đều; tỉ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký còn thấp.

Tỷ trọng đóng góp cho ngân sách nhà nước có xu hướng giảm.

Liên kết, tương tác với các khu vực khác của nền kinh tế thiếu chặt chẽ, hiệu ứng lan toả về năng suất và công nghệ chưa cao; tỉ lệ nội địa hoá còn thấp.

Các hiện tượng chuyển giá, đầu tư “chui,” đầu tư “núp bóng” ngày càng tinh vi và có xu hướng gia tăng.

Một số doanh nghiệp, dự án sử dụng lãng phí tài nguyên, đất đai, vi phạm chính sách, pháp luật về lao động, tiền lương, thuế, bảo hiểm xã hội, môi trường…; phát sinh nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phức tạp cả trong nước và quốc tế.

Việc phát triển tổ chức và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, công đoàn, các tổ chức chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài còn khó khăn.

3. Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức của các cấp, các ngành và của xã hội còn chưa đầy đủ, nhất quán; thu hút đầu tư nước ngoài còn thiếu chọn lọc.

Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thu hút, quản lý đầu tư nước ngoài nhiều nơi còn hạn chế, thiếu tính chủ động, sáng tạo; khả năng phân tích, dự báo còn bất cập. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm có lúc, có nơi chưa nghiêm.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU 1. Quan điểm chỉ đạo

– Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác.

Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhà đầu tư; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp.

– Xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về đầu tư nước ngoài phù hợp xu hướng phát triển, tiếp cận chuẩn mực tiên tiến quốc tế và hài hòa với các cam kết quốc tế, bảo đảm sự đồng bộ, nhất quán, công khai, minh bạch và tính cạnh tranh cao.

– Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu. Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu.

– Đa phương hóa, đa dạng hóa đối tác, hình thức đầu tư, đan xen lợi ích trong hợp tác đầu tư nước ngoài và kết nối hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước, phù hợp với định hướng cơ cấu lại nền kinh tế và mục tiêu phát triển bền vững; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh, trật tự, an toàn xã hội và nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

– Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy sự năng động, sáng tạo của người dân và doanh nghiệp trong việc hoàn thiện, thực thi và giám sát việc thực hiện thể chế, chính sách về thu hút và hợp tác đầu tư nước ngoài.

2. Mục tiêu tổng quát

Hoàn thiện thể chế, chính sách hợp tác đầu tư nước ngoài có tính cạnh tranh cao, hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Khắc phục căn bản những hạn chế, bất cập đang tồn tại trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện thể chế, chính sách về hợp tác đầu tư nước ngoài. Tạo lập môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh thuộc nhóm ASEAN 4 trước năm 2021, thuộc nhóm ASEAN 3 trước năm 2030.

3. Mục tiêu cụ thể

Phấn đấu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt một số mục tiêu định hướng chủ yếu sau:

– Vốn đăng ký giai đoạn 2021-2025 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm).

– Vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025 khoảng 100-150 tỷ USD (20-30 tỷ USD/năm); giai đoạn 2026-2030 khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm).

– Tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, bảo vệ môi trường, hướng đến công nghệ cao tăng 50% vào năm 2025 và 100% vào năm 2030 so với năm 2018.

– Tỷ lệ nội địa hoá tăng từ 20-25% hiện nay, lên mức 30% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030.

– Tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động từ 56% năm 2017 lên 70% vào năm 2025 và 80% vào năm 2030.

– Nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng “vốn mỏng,” chuyển giá, đầu tư “chui,” đầu tư “núp bóng”. Nghiên cứu bổ sung quy định “điều kiện về quốc phòng, an ninh” trong quá trình xem xét, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hoặc các văn bản có giá trị pháp lý tương đương) đối với dự án đầu tư mới và quá trình xem xét, chấp thuận đối với hoạt động đầu tư thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.

– Hoàn thiện đồng bộ các quy định của pháp luật về đầu tư, chứng khoán và quản lý ngoại hối theo hướng phân định rõ giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; thống nhất giữa pháp luật doanh nghiệp và quản lý ngoại hối về tài khoản mua bán, chuyển nhượng cổ phần.

– Xây dựng các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn. Xây dựng cơ chế đánh giá an ninh và tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

– Đổi mới cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư; xây dựng, bổ sung cơ chế khuyến khích đối với các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt cam kết; phân biệt ưu đãi giữa các ngành, nghề đầu tư khác nhau. Có chính sách khuyến khích hợp tác, chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở thoả thuận, tự nguyện. Áp dụng nguyên tắc ưu đãi đầu tư gắn với việc đáp ứng các điều kiện, cam kết cụ thể và cơ chế hậu kiểm, yêu cầu bồi hoàn khi vi phạm các cam kết.

– Xây dựng thể chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh quốc tế tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi thu hút các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án công nghệ cao…, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia đầu tư, đặt trụ sở và thành lập các trung tâm nghiên cứu-phát triển (R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Một góc trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)

– Xây dựng cơ chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, các lĩnh vực cần ưu tiên thu hút; phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến khích chuyển giao công nghệ và quản trị cho doanh nghiệp Việt Nam. Có chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đào tạo, nâng cao kỹ năng, trình độ cho lao động Việt Nam; sử dụng người lao động Việt Nam đã làm việc, tu nghiệp ở các quốc gia tiên tiến.

– Nâng cấp, hoàn thiện quy định của pháp luật về công nghiệp hỗ trợ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước kết nối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, dần tiến tới tự chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

– Xây dựng chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cân đối, hợp lý giữa các vùng, miền; bảo đảm việc thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài theo đúng định hướng, quy hoạch và yêu cầu phát triển. Nghiên cứu xây dựng cơ chế ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển cơ sở hạ tầng cho khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long.

– Nâng cao các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản phẩm, bảo vệ môi trường, tài nguyên và tiết kiệm năng lượng phù hợp với tiêu chuẩn của khu vực và thế giới. Không xem xét mở rộng, gia hạn hoạt động đối với những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên.

– Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, chính sách cho các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các mô hình tương tự khác theo hướng xác định rõ trọng tâm phát triển và cơ chế, chính sách vượt trội phù hợp với đặc thù của từng mô hình, bảo đảm tính liên kết, đồng bộ với các khu vực khác.

– Đa dạng hóa và phát huy có hiệu quả mô hình hợp tác công-tư (PPP) vào đầu tư cơ sở hạ tầng, hình thức mua lại và sáp nhập (M&A) đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu, thực hiện thí điểm đối với các phương thức đầu tư, mô hình kinh doanh mới để tận dụng cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

– Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về lao động, việc làm và tiền lương, bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động theo hướng minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Điều chỉnh hợp lý khoảng cách lương tối thiểu giữa các vùng để hạn chế tập trung lao động tại các đô thị lớn, giảm áp lực về cơ sở hạ tầng. Quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong xây dựng nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, trường mẫu giáo, cơ sở y tế, văn hóa, thể thao,… phục vụ người lao động.

– Quy định rõ trách nhiệm của nhà đầu tư về bảo vệ môi trường trong quá trình đầu tư, triển khai dự án và hoạt động của doanh nghiệp trong suốt thời gian thực hiện dự án theo quy định của pháp luật.

4. Hoàn thiện thể chế chính sách quản lý, giám sát đầu tư

– Nâng cao năng lực phân tích, dự báo của các cơ quan xây dựng, ban hành thể chế chính sách; kịp thời ban hành các quy định điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới, các mô hình, phương thức kinh doanh mới… tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư và hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước.

– Rà soát, hoàn thiện các quy định về chống độc quyền phù hợp với thông lệ quốc tế; về đáp ứng điều kiện tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh; về bảo đảm quốc phòng, an ninh khi nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam.

– Hoàn thiện pháp luật về chống chuyển giá theo hướng nâng lên thành luật; hoàn thiện, bổ sung các quy định chặt chẽ trong pháp luật về thuế, ngoại hối, hải quan, đầu tư, khoa học và công nghệ, về xây dựng cơ sở dữ liệu, công bố thông tin… để kiểm soát, quản lý, ngăn chặn chuyển giá ngay từ khi thành lập và trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Xây dựng bộ máy chuyên trách chống chuyển giá đủ mạnh, đủ năng lực; cơ chế kiểm tra liên ngành, chuyên ngành để ngăn ngừa và hạn chế tình trạng chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

– Xây dựng cơ chế phòng ngừa và giải quyết vướng mắc, khiếu nại, khiếu kiện của nhà đầu tư. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các thiết chế giải quyết tranh chấp và thực thi. Hoàn thiện pháp luật để giải quyết có hiệu quả những vướng mắc đối với dự án có cam kết chuyển giao không bồi hoàn tài sản của nhà đầu tư nước ngoài cho Nhà nước hoặc bên Việt Nam sau khi kết thúc hoạt động và xử lý các trường hợp nhà đầu tư nước ngoài vắng mặt hoặc bỏ trốn trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

– Đẩy mạnh phân công, phân cấp, uỷ quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài về kinh tế, xã hội, môi trường và quốc phòng, an ninh,… Hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động quản lý, giám sát đầu tư nước ngoài, quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc chủ trì, phối hợp quản lý, giám sát hoạt động đầu tư nước ngoài.

– Xây dựng cơ chế, chính sách bảo vệ thị trường phân phối trong nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển và phù hợp với các cam kết quốc tế.

5. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư

– Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư. Rà soát, cơ cấu lại hệ thống các cơ quan xúc tiến đầu tư hiện có (không thành lập mới) theo hướng chuyên nghiệp, độc lập, không chồng chéo, không trùng lặp với các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài; xem xét khả năng gắn kết với xúc tiến thương mại và du lịch một cách linh hoạt, phù hợp với yêu cầu và đặc thù của từng địa phương.

– Tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa Trung ương với địa phương, giữa các vùng, giữa cơ quan quản lý nhà nước với các hiệp hội nghề nghiệp trong công tác xúc tiến đầu tư. Chủ động xúc tiến đầu tư có mục tiêu, trọng tâm, trọng điểm, gắn với các tiêu chí hợp tác đầu tư mới; tiếp tục duy trì các thị trường và đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường, đối tác mới. Đa dạng hoá các hoạt động và phương thức xúc tiến đầu tư; chú trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ với những dự án hợp tác thành công cụ thể. Đầu tư thoả đáng cho hoạt động xúc tiến. Ưu tiên thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư quốc gia, vùng, liên ngành.

– Chấn chỉnh công tác quản lý, triển khai dự án đầu tư, bảo đảm hiệu quả kinh tế-xã hội-môi trường, phù hợp quy hoạch, theo đúng các tiêu chí lựa chọn, sàng lọc dự án… Bảo đảm chặt chẽ về quy trình, thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài theo đúng quy định pháp luật.

– Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và thống nhất một đầu mối tại các bộ, ngành, địa phương, đáp ứng yêu cầu quản lý liên ngành, liên vùng tại địa phương và trong phạm vi cả nước. Đẩy mạnh phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát.

– Chú trọng nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài ở các bộ, ngành và địa phương phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ mới về quản lý đầu tư nước ngoài.

– Hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin quốc gia về đầu tư đồng bộ, liên thông với các lĩnh vực lao động, đất đai, thuế, hải quan, tín dụng, ngoại hối… và các địa phương. Nâng cao chất lượng công tác thống kê, bảo đảm kịp thời, đầy đủ, chính xác và phù hợp với thông lệ quốc tế.

– Phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bình chọn, vinh danh các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài; định kỳ bình chọn, vinh danh các nhà đầu tư nước ngoài tiêu biểu.

7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội đối với đầu tư nước ngoài

– Phát triển tổ chức đảng trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, có tính đến các yếu tố đặc thù; có hướng dẫn và chỉ đạo rõ về mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nội dung sinh hoạt,… cho các tổ chức đảng tại doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Tăng cường gắn kết tổ chức đảng và đảng viên với doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thông qua mối quan tâm, mục tiêu phát triển và lợi ích chung.

– Các cấp ủy đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác phát triển đảng trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; lựa chọn, bố trí cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài và thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện.

– Phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, phát huy vai trò của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ, tăng cường đối thoại giữa chủ doanh nghiệp và người lao động. Phấn đấu 100% doanh nghiệp có từ 25 lao động trở lên đều có tổ chức công đoàn.

– Phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đầu tư nước ngoài.

4. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền sâu rộng về nội dung Nghị quyết và kết quả thực hiện.

Theo Vietnam+

Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng, Phát Huy Các Nguồn Lực Tài Nguyên Và Môi Trường / 2023

(TN&MT) – Ngày 23/6, tại trụ sở Bộ TN&MT, Thứ trưởng Trần Quý Kiên đã chủ trì cuộc họp về kế hoạch của Bộ TN&MT thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế.

Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15/1/2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 39-NQ/TW) đã đề ra mục tiêu tổng quát: Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tiến tới trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Căn cứ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tại Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 12/3/2020, Chính phủ ban hành Chương trình hành động tại Nghị quyết số Nghị quyết số 30/NQ-CP. Trên cơ sở này, Bộ TN&MT đã giao Vụ Kế hoạch và Tài chính xây dựng dự thảo Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ trong các lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Báo cáo tại cuộc họp, ông Nguyễn Xuân Trường, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính (Bộ TN&MT) cho biết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 30/NQ-CP của Chính phủ được phân làm 3 giai đoạn đến năm 2025, 2035 và 2045. Vì vậy, dự thảo chương trình hành động của Bộ cũng cần cụ thể cho từng giai đoạn. Để làm được điều này, các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ cần xác định rõ các nhiệm vụ của trong từng giai đoạn và có báo cáo tiến độ từng nhiệm vụ. Đồng thời, xác định các nhiệm vụ mở mới trong các năm tới trong mỗi lĩnh vực.

Dự kiến, dự thảo sẽ được hoàn thiện trong tháng 7 tới.

(TN&MT) – Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 619/QĐ-TTg quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam với nhiều điểm mới, nâng cao vai trò của Ủy ban.

Kết Quả Và Kinh Nghiệm Qua Hơn 2 Năm Thực Hiện Các Nghị Quyết Trung Ương Về Tổ Chức Bộ Máy Và Nâng Cao Năng Lực, Hiệu Quả Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Và Các Cơ Quan, Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập / 2023

Đại hội XII của Đảng chủ trương đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và tạo động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững, đặc biệt là tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả 6 nhiệm vụ trọng tâm, trong đó có nhiệm vụ “xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Sau Đại hội, Trung ương Đảng đã triển khai Đề án trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu để ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW, “Về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” vào cùng ngày 25-10-2017. Qua 2 năm lãnh đạo tổ chức thực hiện hai nghị quyết nói trên, nhiều kết quả quan trọng, cụ thể đã đạt được, từ đó khẳng định sự lựa chọn đúng đắn của Đảng về các giải pháp đột phá, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn các nghị quyết trên trong những năm tới.

Chủ tịch  Ủy ban Trung ương MTTQ Trần Thanh Mẫn (áo xanh, đứng giữa) giám sát hoạt động của Tổng Cục thuế. Ảnh: Quang Vinh      Những kết quả đạt được trên các lĩnh vực(1)

Về tinh gọn tổ chức bộ máy

Các cơ quan hành chính Trung ương hiện có 61 đầu mối trực thuộc Trung ương, giảm được 4 đầu mối; có 1.242 cục, vụ và tương đương, giảm được 19 tổ chức; có 8.142 phòng và tương đương, giảm được 451 tổ chức; có 6.881 đội và tương đương, giảm được 3.317 tổ chức.

Bộ Quốc phòng đã giải thể 201 tổ chức ở các cấp, bên cạnh đó sắp xếp lại 338 tổ chức, điều chuyển 13 tổ chức; đồng thời, thành lập mới 45 tổ chức ở các cấp. Bộ Công an đã giảm 6 tổng cục và chuyển 2 bộ tư lệnh cấp tổng cục thành đơn vị tương đương cấp cục… Số lượng lãnh đạo, quản lý của Bộ Công an giảm 6 tổng cục trưởng và tương đương, 48 phó tổng cục trưởng và tương đương, 41 cục trưởng và tương đương…

Tổ chức hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện có 2.263 tổ chức sở, ban và tương đương cấp tỉnh, đã giảm 97 tổ chức; số tổ chức cấp phòng và tương đương hiện có 32.394 tổ chức, giảm 4.203 tổ chức. Số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý của các địa phương hiện có 87.448 người, giảm 10.350 người, trong đó lãnh đạo cấp huyện hiện có 5.027 người, giảm 381 người. Lãnh đạo sở, ban và tương đương cấp tỉnh trên toàn quốc hiện có 7.516 người, giảm 938 người; lãnh đạo cấp phòng và tương đương hiện có 74.905 người, giảm 9.031 người.

Đơn vị sự nghiệp công lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện có 51.555 đơn vị, giảm 4.963 đơn vị. Các số liệu cụ thể như sau: Đơn vị trực thuộc cấp ủy hiện có 860 đơn vị, giảm 46 đơn vị (cấp tỉnh có 130 đơn vị, giảm 6 đơn vị; cấp huyện hiện có 730 đơn vị, giảm 40 đơn vị); đơn vị trực thuộc chính quyền địa phương hiện có 50.470 đơn vị, giảm 4.860 đơn vị (cấp tỉnh có 11.298 đơn vị, giảm 1.716 đơn vị; cấp huyện có 39.172 đơn vị, giảm 3.144 đơn vị); đơn vị trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội cấp tỉnh hiện có 225 đơn vị, giảm 57 đơn vị. Số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện có 110.041 người, giảm 7.386 người.

Như vậy, sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW, cả nước đã giảm được 4 đầu mối trực thuộc Trung ương, 8 tổng cục và tương đương, 74 cục, vụ và tương đương; 117 sở, ngành và tương đương; 5.475 phòng và tương đương; 5.317 tổ, đội và 5.053 đơn vị sự nghiệp công lập…

Giảm mạnh biên chế

Tổng số người làm việc hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước thời điểm ngày 31-12-2019 là 3.088.013 người, giảm 541.890 người, tương ứng giảm 14,93% so với biên chế được giao tại thời điểm trước ngày 30-4-2015. Trong đó: Cán bộ, công chức (từ cấp huyện trở lên) giảm 37.939 người; viên chức giảm 209.544 người; số làm việc theo hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP, ngày 17-11-2000, của Chính phủ, “Về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp”, giảm 6.752 người; số làm việc theo các loại hợp đồng lao động khác giảm 18.734 người; cán bộ, công chức cấp xã giảm 5.481 người; số người hoạt động không chuyên trách ở xã, thôn, tổ dân phố giảm 263,440 người, trong đó, cấp xã giảm 41.089 người, ở thôn, tổ dân phố giảm 222.351 người.

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015, của Bộ Chính trị, “Về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”, tổng số biên chế thực tế khối các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội giảm được 10.389 người; khối chính phủ và chính quyền ở địa phương giảm được 356.591 người, chủ yếu giảm số hoạt động không chuyên trách ở xã, thôn, tổ dân phố là 238.732 người.

Thí điểm mô hình tổ chức mới

Ở cấp tỉnh, có 1 tỉnh hợp nhất ban tổ chức tỉnh ủy với sở nội vụ và hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra tỉnh ủy với thanh tra tỉnh (tỉnh Hà Giang); 2 tỉnh thực hiện cơ quan tham mưu giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội (tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Bình Phước); 52/63 tỉnh, thành phố thực hiện mô hình trung tâm phục vụ hành chính công với “cơ chế một cửa”, “cơ chế một cửa liên thông” và thực hiện “5 tại chỗ”. Tỉnh Bạc Liêu hợp nhất Sở Giáo dục và Đào tạo với Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Sở Thông tin và Truyền thông; kết thúc hoạt động của Sở Ngoại vụ, chuyển chức năng, nhiệm vụ của sở này về Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh. Một số địa phương đã chủ động xây dựng đề án, trình cấp có thẩm quyền để thực hiện thí điểm mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị (thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh).

 Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh tỉnh Thừa Thiên Huế – mô hình trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh cấp tỉnh đầu tiên ở Việt Nam _Ảnh: Tư liệu

Ở cấp huyện, trong số 707 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay, có 57 đơn vị hợp nhất ban tổ chức cấp ủy với phòng nội vụ; 52 đơn vị hợp nhất cơ quan ủy ban kiểm tra cấp ủy với thanh tra chính quyền cùng cấp; 23 đơn vị hợp nhất ban tuyên giáo với ban dân vận và trung tâm bồi dưỡng chính trị; 3 đơn vị hợp nhất ban tuyên giáo với ban dân vận; 70 đơn vị hợp nhất văn phòng cấp ủy với văn phòng hội đồng nhân dân và văn phòng ủy ban nhân dân; 58 đơn vị thực hiện cơ quan tham mưu giúp việc chung khối Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; 457 đơn vị thực hiện mô hình 

trung tâm phục vụ hành chính công

, thực hiện “cơ chế một cửa”, “cơ chế một cửa liên thông” và thực hiện “5 tại chỗ”.

trung tâm phục vụ hành chính công

Thí điểm kiêm nhiệm chức danh

Ở cấp tỉnh, có 23 tỉnh thực hiện trưởng ban dân vận tỉnh ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; 1 tỉnh (tỉnh An Giang) thực hiện trưởng ban tổ chức tỉnh ủy đồng thời là giám đốc sở nội vụ.

Ở cấp huyện, có 639/707 đơn vị thực hiện trưởng ban tuyên giáo cấp ủy đồng thời là giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị; 445 đơn vị thực hiện trưởng ban dân vận cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 108 đơn vị thực hiện trưởng ban tổ chức cấp ủy đồng thời là trưởng phòng nội vụ; 76 đơn vị thực hiện chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy đồng thời là chánh thanh tra huyện. Mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp được thực hiện tại 37 đơn vị cấp huyện, 1.072 đơn vị cấp xã.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thôn, tổ dân phố

Theo tiêu chuẩn quy định tại Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13, ngày 25-5-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, “Về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính”, cả nước có 19 đơn vị hành chính cấp huyện, 631 đơn vị hành chính cấp xã thuộc diện phải sắp xếp lại trong giai đoạn 2019 – 2021; đồng thời, có 3 tỉnh chủ động sắp xếp 10 đơn vị hành chính cấp xã thuộc diện khuyến khích và 1 tỉnh sắp xếp 1 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc diện khuyến khích. Các tỉnh, thành phố đã đề nghị chưa tiến hành sắp xếp trong giai đoạn này đối với 99 đơn vị hành chính cấp xã và 10 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc diện phải sắp xếp.

Đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết sắp xếp 18 đơn vị hành chính cấp huyện, 1.025 đơn vị hành chính cấp xã của 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sau khi sắp xếp đã giảm 6 đơn vị hành chính cấp huyện, 545 đơn vị hành chính cấp xã. Qua đó, sẽ giảm được 9.962 cán bộ, công chức; 6.913 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

Các địa phương đã hợp nhất để giảm 15.354 thôn, tổ dân phố; giảm 222.351 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố so với năm 2015. Đã cơ bản khắc phục tình trạng thôn, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng. Tính đến ngày 30-6-2019, chỉ còn 1.582 thôn, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng, chiếm 1,58% tổng số thôn, tổ dân phố, giảm 810 thôn, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng so với thời điểm 1-1-2016. Tình trạng trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố không phải là đảng viên giảm nhanh. Tính đến ngày 30-6-2019, tỷ lệ trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố chưa là đảng viên là 31,84%, giảm 7,13% so với thời điểm 1-1-2016.

Tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chi cho đầu tư phát triển

Do giảm biên chế, năm 2019, kinh phí chi thường xuyên cho hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã giảm khoảng 10.000 tỷ đồng; góp phần tăng chi cho đầu tư phát triển, giảm nợ công, đồng thời vẫn bảo đảm tăng lương cơ sở 7%/năm. Theo Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2019 và Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2020, do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách nhà nước năm 2016 đạt 22,9%, năm 2017 đạt 25%, năm 2018 đạt 25,4%; năm 2019 đạt 26,6%; nợ công đã giảm (năm 2019 là 56,1% GDP trong khi năm 2016 là 64,6% GDP).

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tỷ trọng chi thường xuyên năm 2019 giảm 0,85% so với năm 2017 (tương ứng khoảng 14.000 tỷ đồng), trong khi vẫn bảo đảm tăng lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp người có công 7%/năm; tỷ trọng chi đầu tư phát triển tăng tương ứng 1,14%; chi trả lãi và viện trợ tăng gần 9.000 tỷ đồng/năm. Tỷ lệ nợ công so với GDP giảm 6,4%. Tính chung 2 năm, ngân sách nhà nước đã giảm chi khoảng 16.000 tỷ đồng do sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và đổi mới khu vực sự nghiệp công.

Theo tính toán của các địa phương, trong 5 năm tới (giai đoạn 2020 – 2024) dự kiến sẽ giảm chi ngân sách nhà nước sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã khoảng 1.431 tỷ đồng (gồm giảm chi tiền lương và phụ cấp khoảng 511 tỷ đồng; giảm chi hoạt động khoảng 920 tỷ đồng).

Những số liệu nêu trên là minh chứng cho những nỗ lực của cả hệ thống chính trị và thể hiện những chuyển biến tích cực, rõ nét do tính đúng đắn, kịp thời mà Nghị quyết đem lại. Theo đó, dù đã giảm nhiều số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trưởng, cấp phó các cấp song tổ chức bộ máy vẫn từng bước ổn định hoạt động, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động cơ bản đáp ứng yêu cầu về khối lượng và chất lượng công việc. Trên bình diện cả nước, hầu hết các chỉ tiêu hằng năm của Quốc hội đề ra đều đạt và vượt, tình hình kinh tế – xã hội phát triển ổn định, khẳng định những đóng góp quan trọng của hệ thống tổ chức và đội ngũ nhân sự trong quá trình củng cố, kiện toàn bộ máy. Có thể ví đây là “cuộc cải cách có tính cách mạng” của nhiệm kỳ Đại hội XII trong sắp xếp tổ chức, tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm mạnh biên chế mà nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng trước đó không thực hiện được. Các cơ quan, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, thậm chí đến cả tổ dân phố, khu phố, thôn, bản đều có những chuyển biến tích cực, toàn diện.

Những bài học rút ra để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ

Thứ nhất, cần có sự thống nhất cao, có tinh thần chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy các cấp, phát huy trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của nhân dân.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng giữ vai trò quan trọng, quyết định đến thành công của sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Đảng lãnh đạo trực tiếp công tác tổ chức cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, do đó, các cấp ủy, tổ chức đảng cần thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm công khai, minh bạch trong quá trình sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Trong quá trình thực hiện, cần gắn việc rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Những cách làm hay, sáng tạo cần được khuyến khích, nhân rộng, tạo sức lan tỏa, đồng thời cần uốn nắn những việc chưa phù hợp. Những việc khó cần thực hiện thí điểm để tổng kết, rút kinh nghiệm nhằm hoàn thành tốt mục tiêu; bên cạnh đó, phát hiện, nhân ra diện rộng những mô hình tốt.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế là việc khó, phức tạp và nhạy cảm, nên không chỉ cần chú trọng công tác tuyên truyền, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, đồng thuận trong hệ thống chính trị và nhân dân, mà còn phải thực hiện thận trọng, có bước đi vững chắc. Khi sắp xếp tổ chức bộ máy, nhiều người “mất chức” vì thực hiện chủ trương xóa các cấp lãnh đạo trung gian; nhiều người phải đảm nhận thêm những công việc mới; nhiều người phải chuyển sang vị trí công việc khó khăn hơn, nhưng thu nhập thấp hơn, thậm chí có người mất việc do thuộc diện “dôi dư”. Điều đó đòi hỏi các cấp ủy, nhất là người đứng đầu phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, khách quan, công tâm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời, phải khắc phục cả hai thái cực đã xảy ra trong quá trình thực hiện là: Chủ quan, nóng vội, thiếu chín chắn, để xảy ra lộn xộn, hoặc khuynh hướng cầu toàn, “bình chân như vại”, trông chờ, ỷ lại, thiếu quyết đoán, không dám “đụng” đến tổ chức, con người vì sợ trách nhiệm, mất phiếu tín nhiệm.

Thứ hai, phải bảo đảm đồng bộ, thống nhất, liên thông trong hệ thống chính trị và hướng vào việc thực hiện tốt nhất nhiệm vụ chính trị của tổ chức.

Trong quá trình sắp xếp lại tổ chức, cần hướng mọi nỗ lực vào việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị song vẫn bảo đảm tính ổn định tương đối của tổ chức. Trên thực tế, mỗi khi hợp nhất, sáp nhập tổ chức thì cũng là lúc cán bộ, công chức, viên chức và người lao động phải có sự thay đổi từ nhiệm vụ đến mối quan hệ công tác và phong cách, lề lối làm việc. Việc bảo đảm tính đồng bộ bao gồm nhiều việc, như xác định lại vị trí việc làm, bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho cán bộ, công chức, viên chức để chủ động đáp ứng với yêu cầu mới, tránh được tình trạng sáp nhập cơ học, thậm chí phá vỡ tính hệ thống của tổ chức. Việc tái cấu trúc cơ cấu tổ chức phải gắn chặt với ứng dụng công nghệ thông tin, tinh giản biên chế trên cơ sở xây dựng vị trí việc làm. Cần xác định rõ nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân nhằm phát huy thế mạnh của mỗi thành viên trong tổ chức và sự chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Thứ ba, phải bằng các đề án, kế hoạch cụ thể, bố trí đủ nguồn lực cần thiết gắn với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách.

Cấp ủy đảng các cấp phải xây dựng kế hoạch, đề án sắp xếp tổ chức bộ máy một cách khoa học, cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm và lộ trình phù hợp; xác định mục tiêu, tính hiệu quả, đối tượng thụ hưởng, nguồn lực thực hiện và phân công nhiệm vụ rõ ràng gắn với đề cao trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là của người đứng đầu. Hoàn thành việc xây dựng vị trí việc làm gắn với cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức và xác định tổng biên chế cần có của địa phương, cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị mang tính pháp lý, khá ổn định trong một giai đoạn nhất định, gắn với các chế tài xử lý vi phạm và công bố công khai. Đó là căn cứ tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và tránh được sự tùy tiện đặt ra tổ chức, chức việc theo ý chí chủ quan của người đứng đầu vì lợi ích cá nhân. Đồng thời, cần bổ sung, sửa đổi quy chế làm việc, quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung trên cơ sở bảo đảm theo đúng quy định của cấp có thẩm quyền, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thứ tư, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân trong quá trình sắp xếp lại tổ chức.

Vấn đề lớn và rất khó khăn hiện nay là giải quyết chế độ, chính sách phù hợp đối với cán bộ, công chức, viên chức, nhất là những người trực tiếp bị ảnh hưởng khi sắp xếp tổ chức và tinh giản biên chế. Đó là chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức tự nguyện thôi việc, nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu; chính sách đào tạo lại, bồi dưỡng nguồn nhân lực… để tạo động lực, khuyến khích thực hiện đề án. Thực tế cho thấy, lĩnh vực chậm chuyển đổi mô hình tổ chức, chậm đổi mới cơ chế quản lý thường có nguyên nhân về lợi ích của cá nhân và cơ quan chủ quản. Vì vậy, cần đẩy mạnh thực hiện đổi mới cơ chế quản lý để khuyến khích sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xã hội hóa, nhất là lĩnh vực y tế, giáo dục đang chiếm số lượng rất lớn hiện nay. Trên thực tế, đã có trường hợp đơn vị sự nghiệp chuyển đổi mô hình theo hướng xã hội hóa thì ngay sau đó, nhiều viên chức nhanh chóng trở thành người lao động thu nhập thấp, việc làm bấp bênh, thậm chí mất dần việc làm, đời sống rất khó khăn, chưa nói đến cơ quan quản lý trước đây mất dần quyền lợi. Chính vì thế mà quá trình xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp rất chậm và khó khăn cho dù điều đó là tất yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ năm, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết.

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết có vai trò quan trọng trong quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện của các cấp ủy. Mục đích của kiểm tra là để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện; động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân làm tốt; đôn đốc, nhắc nhở, uốn nắn những nơi làm chưa tốt. Vì thế, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo và thường xuyên kiểm tra, giám sát việc triển khai và tổ chức thực hiện tại đơn vị, địa phương, kịp thời phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của tập thể và cá nhân.

(1) Số liệu trong bài viết này do Ban Tổ chức Trung ương chuẩn bị Báo cáo kết quả 2 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Ban Chấp hành Trung ương.

Theo PGS, TS. NGUYỄN MINH TUẤN/Tạp chí Cộng sản

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Nâng Cao Hiệu Quả Các Nguồn Lực Của Nền Kinh Tế / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!