Đề Xuất 11/2022 # Nghị Quyết 15 Với Cách Mạng Miền Nam Năm 1959 / 2023 # Top 16 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Nghị Quyết 15 Với Cách Mạng Miền Nam Năm 1959 / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Nghị Quyết 15 Với Cách Mạng Miền Nam Năm 1959 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Sau khi ký Hiệp định Genève năm 1954, quân và dân ta nghiêm chỉnh thi hành các điều khoản của Hiệp định. Trái lại, cả Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thẳng thừng tuyên bố không bị ràng buộc bởi những điều khoản của Hiệp định, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử, đàn áp đẫm máu những người cộng sản, cán bộ kháng chiến và người dân yêu nước sử dụng đấu tranh chính trị, đòi dân sinh, dân chủ, hoà bình. Tình hình này diễn ra trong một thời gian dài làm cho phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề.

Mặc dù năm 1956, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ đã viết “Đề cương cách mạng miền Nam” đề cập đến vấn đề bạo lực cách mạng và đấu tranh vũ trang, song chúng ta vẫn chưa sử dụng hình thức đấu tranh vũ trang một cách mạng mẽ, thích hợp để đối phó với sự đàn áp, khủng bố tàn bạo của kẻ thù, nên cách mạng miền Nam vẫn tiếp tục bị tổn thất.

Trong hai năm 1957-1958, Đảng có tổ chức những cuộc họp bàn về vấn đề cách mạng miền Nam nhưng chủ trương, biện pháp đấu tranh vẫn chưa thay đổi. Tình hình cách mạng miền Nam trầm lắng, nhân dân miền Nam vẫn nghiêm túc chấp hành chủ trương đấu tranh của Đảng, không manh động. Vì thế, chỉ thị của Xứ uỷ Nam Bộ về tổ chức các lực lượng vũ trang theo hướng tinh giảm, và các tổ chức vũ trang chính quy hay địa phương quân đều phải nằm ở con số tối thiểu từ tiểu đoàn đến trung đoàn và vũ khí trang bị đều hạng nhẹ. Tin tức tình báo của chính quyền Sài Gòn thời kỳ này cho biết rằng “tại các phân khu thuộc Nam phần, Việt cộng có ra kế hoạch tổ chức và võ trang các đơn vị Việt cộng như sau:

Tổ chức: địa phương quân: chỉ được phép tổ  chức đến trung đội; chủ lực quân: chỉ được phép tổ chức đến tiểu đoàn;

Phân chia lực lượng: mỗi phân khu chỉ được thành lập một trung đội chủ lực; mỗi thị trấn chỉ được tổ chức đặc công quân, quân số từ 1 bán đội đến 2 tiểu đội, các đội xung kích đã tổ chức từ trước phải giải tán để gia nhập vào địa phương quân; mỗi tỉnh chỉ được thành lập nhiều trung đội địa phương, nhưng tổng số không quá một tiểu đoàn; mỗi xã chỉ được thành lập từ 1 bán đội đến 1 trung đội, tuỳ theo sự cần dùng của xã.

Võ trang: địa phương quân: trang bị vũ khí hạng nhẹ; chủ lực quân: trang bị vũ khí hạng nhẹ đến hạng trung; đặc công quân (hoạt động trên các thị trấn) trang bị các loại vũ khí bộc phá”[i].

Nhận được những kiến nghị khẩn thiết của các tổ chức Đảng và của cán bộ, đồng bào, chiến sĩ miền Nam yêu cầu phải nhanh chóng thay đổi hình thức đấu tranh, trên cơ sở xem xét thực tế tình hình, Bộ Chính trị đã cử ra một tổ tập trung nghiên cứu, đề xuất chủ trương, hình thức và phương pháp đấu tranh mới cho cách mạng miền Nam để đưa phong trào cách mạng thoát khỏi tình thế hiểm nghèo, phát triển đi lên.

Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 15, đã xác “định con đường phát triển của cách mạng miền Nam, vạch rõ mục tiêu và phương pháp cách mạng ở miền Nam; xác định mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở miền Nam và miền Bắc, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất nước nhà”[ii].

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 kết thúc đợt 1 (họp từ 12 đến 22-1-1959) chưa ra Nghị quyết chính thức. Nhưng tinh thần cơ bản của Nghị quyết đã được Ban lãnh đạo Xứ uỷ Nam Bộ đem về truyền đạt ở miền Nam. Vì thế, thực tế diễn biễn cho thấy, từ giữa năm 1959 trở đi đã có hàng loạt cuộc đấu tranh mang tính bạo lực của quần chúng nổ ra ở các địa phương như Minh Thạnh (Tây Ninh), Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một), Gò Quản Cung, Gò Măng Đa (Đồng Tháp), Tà Lốc, Tà Léc (Bình Định), Tam Ngân (Bình Thuận), Nóc Ông Tía, Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Về phía chính quyền Sài Gòn dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ, năm 1958 được xem là năm thịnh nhất của nền Đệ nhất. Nhưng thời gian “ổn định” ấy không kéo dài được lâu. Từ giữa năm 1959, các cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam ngày càng có dấu hiệu mạnh mẽ và rõ rệt. Để đối phó với “sự phá rối của Việt công”, loại hết “Việt cộng” ra khỏi miền Nam, tháng 4 năm 1959, chính quyền Sài Gòn thông qua luật số 91. Luật ấy được ban hành ngày 6-5 -1959 mang tên luật 10/59 về việc thành lập các “toà án quân sự đặc biệt”. Theo luật 10/59, tội xử chỉ có hai mức là tử hình và khổ sai chung thân. Xét xử chỉ được phép kéo dài tối đa 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay. Luật này áp dụng cho tất cả mọi người được coi là phạm tội ác chiến tranh chống lại cái gọi là “nhà nước Việt Nam Cộng hoà”. Chính quyền miền Nam tổ chức những đội vũ trang có nhiệm vụ chống cộng đưa về các địa phương. Các đội này hoạt động rất tích cực và dùng nhiều biện pháp giết người bị lên án.

Sự khủng bố dã man mà chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm áp dụng ở miền Nam đặc biệt là miền Tây đe doạ sự sống còn của cách mạng miền Nam. Hàng loạt cán bộ, chiến sĩ bị bắt và bị giết, ở nhiều địa phương lực lượng cách mạng bị thiệt hại tới 80% hoặc là gần như 100%.

Chỉ sau hơn một tháng áp dụng luật 10/59, phía chính quyền Sài Gòn đã đạt được những “thành quả” vô cùng to lớn, họ “vui mừng” tổng kết tin tức tháng 6 năm 1959, rằng: “nhờ ở đường lối khôn khéo của chính quyền cùng sự tích cực hoạt động của quân đội, bảo an và dân vệ và toàn thể các cơ quan an ninh ta, nên một số lớn cán bộ Việt cộng đã lần lượt sa lưới, và mọi hành động quân sự của chúng hầu bị tê liệt.

Riêng về phía địch, ta chưa thấy một phản ứng rõ rệt nào trước các kế hoạch bình định của ta. Các hoạt động quân sự, phá hoại và bắt cóc so với các tháng trước đã giảm tới 2/3. Sự kiện này chứng tỏ Việt cộng miền Nam đang sống những phút hồi hộp, tinh thần bị giao động, đang chờ quyết định của thượng cấp của chúng.

Tóm lại, so với mấy tháng trước, tinh thần địch, sức hoạt động của cán bộ Việt cộng nằm vùng tỏ ra kém sút hoàn toàn”[iii].

Qua tháng 7 cùng năm hoạt động nằm vùng của lực lượng cách mạng miền Nam tiếp tục đi xuống:

“Kể từ khi đạo luật 10/59 của chính phủ ban hành trong toàn quốc và nhất là các tỉnh miền Tây Nam phần, tình hình tương đối khả quan, năng suất hoạt động của địch bị kém sút hẳn trên mọi phương diện.

Các đơn vị võ trang cũng như các cán bộ nằm vùng hầu như rút vào tư thế trường kỳ mai phục, không dám ngang nhiên xuất đầu lộ diện như mấy tháng trước.

Sự kiện này chứng minh tinh thần số đông cán bộ Việt cộng bị hoang mang giao động, mặt khác có thể các cơ quan đầu não của chúng đã thay đổi chiến lược bằng cách cho cán bộ nằm im để nghe ngóng tình hình, hòng chờ thời cơ tiếp tục hoạt động trở lại.

Đến tháng 8 năm 1959, cách mạng miền Nam vẫn đang bị bao phủ bởi một bầu không khí u ám, mù mịt khi mà “nhiều cán bộ Việt cộng bị bắt hoặc bị giết, một số khác ra đầu thú, nhiều cơ sở của chúng bị phá huỷ, một số lớn võ khí bị ta tịch thâu” [v].

Đến lúc này, không thể chần chừ, không thể kéo dài thêm thời gian, Đảng ta liền triệu tập đợt 2 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 (từ ngày 10 đến 15-7-1959), lúc này Nghị quyết 15 được chính thức thông qua và phổ biến ngay sau khi kết thúc cuộc họp đợt 2. Nghị quyết 15 khẳng định: nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam; nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ; phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; dự kiến xu hướng phát triển từ đồng khởi của nhân dân tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Ở miền Nam, từ tháng 8-1959, chính quyền Sài Gòn cũng “cảm nhận” thấy sự thay đổi khi nhận định rằng “các cán bộ cao cấp của chúng, vẫn tận dụng hết mọi khả năng để hướng dẫn và lãnh đạo đảng viên tích cực thi hành chính sách phá hoại hầu gây rối chính quyền ta” [vi].

Có Nghị quyết 15 soi đường, Xứ uỷ Nam Bộ mạnh dạn lãnh đạo nhân dân đấu tranh theo chủ trương và đường lối mới của Đảng. Trước hết là đấu tranh chính trị, trong tháng 8-1959, lực lượng cách mạng miền Nam nhắm mục tiêu phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội khoá II của chính quyền Sài Gòn. Kế hoạch này được chia làm hai giai đoạn: “giai đoạn 1: phát động một cách rầm rộ và sâu rộng trong quần chúng chiến dịch tuyên truyền xuyên tạc, giáo dục đồng bào không hưởng ứng việc bầu cử; giai đoạn 2: võ trang bạo động, tấn công các đồn lẻ của Bảo an và Dân vệ, chận đánh các toán tuần tiễu của ta, khủng bố đồng bào không cho đi bỏ phiếu, cướp đoạt thẻ cử tri và kiểm tra” [vii]. Cuộc đấu tranh chống lại cuộc bầu cử Quốc hội khoá II của chính quyền Sài Gòn “đã được phần nào kết quả trên phương diện rải truyền đơn, căng biểu ngữ …”[viii]. Ngoài vận động nhân dân chống lại cuộc bầu cử quốc hội Sài Gòn, phía cách mạng còn sử dụng nhiều biện pháp khác để gây dựng lại cơ sở như “Việt cộng còn lợi dụng đoàn thể thanh niên cộng hoà để lồng càn bộ nòng cốt vào để hướng dẫn, gây cơ sở và làm nội tuyến; chúng còn cho cán bộ ra quy thuận, sống công khai hợp pháp để sau này ngấm ngầm hoạt động cho cộng sản”[ix].

Phối hợp với cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không ngừng lên tiếng tố cáo và phản đối quyết liệt việc nhà cầm quyền miền Nam áp dụng đạo luật tàn bạo dã man. Sự kiện nổi bật là Phái đoàn liên lạc của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cạnh Uỷ hội quốc tế đã gửi một bức thư đến Uỷ hội quốc tế yêu cầu Uỷ hội mở cuộc điều tra ở miền Nam và thủ tiêu đạo luật 10/59 mà chế độ miền Nam vừa ban hành. Nội dung bức thư bao gồm những điểm chính yếu như “báo cáo của Diệm còn doạ rằng, trong kỳ lưu động ở miền Tây, lần này của Toà án quân sự đặc biệt Saigon, sẽ còn nhiều đầu rơi nữa.

Theo các tin tức miền Nam, toà án tử hình Vĩnh Long đã chuyển các ông Phạm Văn Thoại, Nguyễn Văn Cương, Lữu Văn Năm và Phạm văn Thanh sang Toàn án quân sự đặc biệt.

Yêu cầu Uỷ hội quốc tế xét và can thiệp với chính quyền Ngô Đình Diệm thủ tiêu đạo luật này”[x].

Từ đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh vũ trang là nội dung Nghị quyết 15 đã thông qua, trở thành ngọn đuốc rọi sáng cho nhân dân miền Nam thực hiện bạo lực cách mạng. Bước sang tháng 9-1959, hoạt động của cách mạng miền Nam được phục hồi rõ rệt. Phòng Tình báo chính quyền Sài Gòn phải thừa nhận rằng:

“Sau một tháng bị quân đội ta dồn ép vào thế bị động, bọn Việt cộng đã bắt đầu hoạt động trở lại.

Chúng tăng cường công tác ám sát, đột kích công sở và cướp thẻ cử tri. Nhiều nơi tại Long An, Kiến Hoà và An Xuyên, Việt cộng võ trang thành từng trung đội, nghi trang quân đội cộng hoà, đột nhập vào các làng mạc, kiểm soát và tịch thâu thẻ cử tri của đồng bào rồi khua chiêng, gõ trống để làm náo động trong cả địa vùng. Đồng bào bị cướp đoạt thẻ cử tri không dám khai báo, mà chỉ khai mất vì sơ ý.

Tại Kiến Giang và An Xuyên, Việt cộng còn đột nhập vào công sở, giết hai nhân viên hành chính, dân vệ, đốt giấy tờ, cướp đoạt súng….

Tại vùng Kiến Phong, hơn bao giờ hết, Việt cộng đã bố trí những cuộc phục kích quy mô, làm thiệt hại cho ta không ít.

Trong những ngày qua, bọn chúng đã di chuyển liên tục, xuất hiện bất thường, không trú ẩn một nơi nào nhất định, khiến cho cuộc truy kích của ta thêm phần khó khăn và vất vả.

Tại Trung nguyên trung phần, vùng Quảng Ngãi, đối phương cũng đã nhiều lần xuất hiện và tổ chức phục kích các đội tuần thám của Bảo an.

Tại Cao nguyên trung phần, tương đối yên tĩnh hơn, trừ một vài vụ quấy rối một vài đồn biên giới của ta, nhưng không gây thiệt hại gì cho ta.

Chủ trương hiện tại của Việt cộng là: luôn luôn di động, để tránh truy kích, tổ chức nội tuyến, tuyên truyền đả đảo luật 10/59, cướp thẻ cư tri để cấp cho cán bộ ra sống công khai hợp pháp”[xi].

Phía chính quyền Sài Gòn cũng nhận thấy “Việt cộng đã bắt đầu thay đổi chiến lược hoạt động… Có thể rồi đây, bọn chúng còn tiếp tục đưa ra mưu lược khác để quấy rối ta, ngõ hầu phục hồi sinh lực cho bọn cán bộ của chúng sau khi bị đạo luật số 10/59 đe doạ”[xii].

Như vậy, Nghị quyết 15 năm 1959 của Đảng là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng miền Nam nói riêng và cách mạng Việt Nam nói chung. Từ khi có Nghị quyết 15, chuyển biển của cách mạng miền Nam ngày càng rõ rệt. Đạo luật 10/59 của chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm không còn là nỗi khiếp sợ của lực lượng cách mạng miền Nam. Mà ngược lại, chính quyền Sài Gòn và Hoa Kỳ liên tục bị “bất ngờ” và khốn đốn trước những cuộc nổi dậy khắp nơi của nhân dân miền Nam, bắt đầu bằng Đồng khởi năm 1960.

Trần Thị Vui – Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

Ghi chú:

[i] Phiếu tin tức hoạt động cộng sản – Việt Minh số 1534/ĐPG/CQ/31/1/8/765/B ngày 16-9-1958, hồ sơ 5152, phông ĐICH, TTLTII.

[i] Phiếu tin tức hoạt động cộng sản – Việt Minh số 1534/ĐPG/CQ/31/1/8/765/B ngày 16-9-1958, hồ sơ 5152, phông ĐICH, TTLTII.

[ii] http://www.baomoi.com/Nghi-quyet-15-cua-Dang-soi-sang-con-duong-cach-mang-Viet-Nam.

[iii] Bản tổng kết tin tức tháng 6-1959 của Nha tổng giám đốc bảo an, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[iv] Bản tổng kết tin tức tháng 7 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[v] Bản tổng kết tin tức tháng 8 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[vi] Bản tổng kết tin tức tháng 8 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[vii] Bản tổng kết tin tức tháng 8 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[viii] Bản tổng kết tin tức tháng 8 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[ix] Bản tổng kết tin tức tháng 8 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[x] Tin tức chính trị Việt cộng năm 1959 qua đài Hà Nội, hồ sơ 5735, phông ĐICH, TTLTII.

[xi] Bản tổng kết tin tức tháng 9 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

[xii] Bản tổng kết tin tức tháng 9 năm 1959, hồ sơ 5795, phông ĐICH, TTLTII.

Hồ Chí Minh Và Trung Ương Đảng Với Nghị Quyết Trung Ương Lần Thứ 15 (Mở Rộng) Về Cách Mạng Miền Nam / 2023

Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã buộc thực dân Pháp và đế quốc Mỹ phải chấp nhận thất bại. Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo tinh thần của Hiệp định, tháng 7/1956, “một cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước phải được tổ chức để thống nhất nước ta”[1], nhưng đế quốc Mỹ đã coi “giải pháp” Giơnevơ là một thảm họa. Ngoại trưởng Đalét (Dulles) đã phát biểu rằng: “Sự cần thiết phải ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam là điều không thể thoái thác được”[2], và đó là “một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào”, nên Mỹ nhanh chóng nhảy vào miền Nam Việt Nam.

1. Với dã tâm chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành bàn đạp tấn công miền Bắc và các nước XHCN, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai do Ngô Đình Diệm đứng đầu đã dùng quân đội, bộ máy công an, mật vụ thẳng tay đàn áp những người yêu nước; khủng bố, bắt giam và mở các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” để chống lại nhân dân miền Nam, chống lại cách mạng, chống lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất nước nhà của nhân dân hai miền Nam Bắc.

Đứng trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương ổn định, củng cố miền Bắc, xây dựng miền Bắc theo con đường XHCN; tiến hành đấu tranh chính trị đòi thực hiện Hiệp định Giơnevơ, tìm phương pháp đấu tranh thích hợp để vừa duy trì, đẩy mạnh cách mạng miền Nam, hạn chế tổn thất, vừa bảo vệ được miền Bắc và hệ thống XHCN, bảo vệ hoà bình khu vực và hòa bình thế giới.

Ngay từ tháng 7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương” và chúng “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương”. Và trên cơ sở phân tích tình hình cách mạng trong nước và quốc tế, Người khẳng định: “Mục tiêu bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”[3].

Từ mục tiêu, từ khát vọng độc lập tự do và thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta, đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng”. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ: cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, nên muốn “giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí” [4]. Song khi hoà bình ở Việt Nam đang bị đe doạ nghiêm trọng vì Hiệp định Giơnevơ bị chính quyền Ngô Đình Diệm vi phạm, trả lời phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “sẽ dùng mọi biện pháp đấu tranh bằng đường lối hoà bình để Hiệp định Giơnevơ được thực hiện triệt để”[5]. Và dù tương quan lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam đã có sự thay đổi lớn sau khi ta thực hiện nghiêm chỉnh việc chuyển quân tập kết ra miền Bắc, và dù không còn lực lượng vũ trang, nhưng với ưu thế về chính trị, với lực lượng quần chúng nhân dân đông đảo, các tầng lớp đồng bào miền Nam vẫn đang bền bỉ, kiên cường đấu tranh chống lại ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm theo tư tưởng chỉ đạo của Người và Trung ương Đảng.

Tiếp đó, trước yêu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, trong văn kiện Đề cương cách mạng miền Nam (8/1956), đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định: Muốn chống Mỹ- Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường là vùng lên chống lại Mỹ- Diệm để cứu nước và tự cứu mình. Đó con đường cách mạng, là “quá trình xây dựng lực lượng chính trị từ ít đến nhiều, củng cố và phát triển phong trào đấu tranh của quần chúng từ thấp đến cao, từ những bước tuần tự đến những bước nhảy vọt để làm lay chuyển bộ máy cai trị của Mỹ Diệm”[6].

Thực hiện đường lối, phương pháp đó, hình thức đấu tranh chính trị đã được sử dụng, thay thế cho hình thức đấu tranh quân sự. Các tổ chức quần chúng công khai được thành lập, các phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, đấu tranh chống âm mưu chia cắt đất nước, chống quân dịch,v.v..đã lan rộng, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng. Phong trào đấu tranh ngày càng phát triển, đặc biệt là cuộc đấu tranh chống “tố cộng”, “diệt cộng”, song trong bầu không khí nghẹt thở, cách mạng miền Nam vẫn đang đứng trước những khó khăn chưa từng thấy.

Trước tình hình đó, tháng 10/1956, Bộ chính trị đã nhận thấy, trong những năm 1954-1956, những tổn thất của phong trào cách mạng miền Nam, một phần là do trong quá trình chỉ đạo, “Trung ương đã không nắm vững phương châm giữ gìn lực lượng từ lúc đầu, cho nên trong việc chấn chỉnh tổ chức của Đảng sau khi rút quân, cũng như trong sự chỉ đạo qua một thời kỳ khá dài, lực lượng của ta đã bị bộc lộ”, phần khác là vì chưa nhận thức sâu sắc bản chất cách mạng của nhiệm vụ thống nhất nước nhà, nên “sự lãnh đạo của Trung ương đã nặng về đấu tranh pháp lý, đấu tranh để thi hành Hiệp định Giơnevơ”[7].

Tiếp đó, với “quyết tâm thực hiện vai trò tiên phong của mình” và để “phong trào cách mạng vẫn giữ vững và tiến lên”, để giữ gìn lực lượng và tiếp tục hoạt động trong tình thế khắc nghiệt, các tổ chức cơ sở Đảng ở miền Nam đã kịp thời tổ chức lại và rút vào hoạt động bí mật, mặc dù Mỹ Diệm đã dùng nhiều thủ đoạn rất dã man hòng tiêu diệt những người cộng sản miền Nam.

Và trên tinh thần quán triệt sâu sắc rằng, đấu tranh chính trị cũng không có nghĩa là “tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”, từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, từ những tổn thất do những hành động ngày càng tàn bạo của địch và trước những hình thức đấu tranh, khả năng phát triển của phong trào cách mạng miền Nam, “yêu cầu vũ trang chống khủng bố ngày càng trở nên cấp thiết”. ở nhiều địa phương, nhân dân bí mật lấy vũ khí đã chôn giấu, đã dùng vũ khí tự tạo và cướp súng của địch để tiêu diệt những kẻ ác ôn và tự bảo vệ mình. Đã có những đại đội vũ trang được thành lập ở chiến khu Đ, ở Nam Bộ và ở Liên khu V, đã có những trận đánh diễn ra ở Thủ Dầu Một, Biên Hoà, v.v..Như vậy là, trong khi địch ngày càng tăng cường khủng bố những người yêu nước và các chiến sĩ cách mạng, mở các cuộc hành quân càn quét, dồn dân vào các trại tập trung, thì ở khắp các địa bàn, lực lượng vũ trang và các căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng lại.

Từ đấu tranh chính trị là chính, phong trào cách mạng miền Nam đã phát triển thành đấu tranh chính trị kết hợp có vũ trang tự vệ, và đi liền cùng đó là lực lượng chính trị của quần chúng được bảo tồn. Các phong trào đấu tranh ngày càng quyết liệt. Khát vọng độc lập tự do của nhân dân miền Nam ngày càng sục sôi và sự phát triển phong trào đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh có vũ trang của đồng bào miền Nam chính là sự phản ứng tất yếu của nhân dân miền Nam để bảo vệ quyền sống hàng ngày đang bị chà đạp. Hình thức đấu tranh đó phản ánh “yêu cầu chính trị của quần chúng đang rất khát khao độc lập tự do và thống nhất nước nhà”[8]. Sau đó, tuy đã có dự kiến mức độ bạo lực phải được nâng cao trong đấu tranh cách mạng, song trên thực tế, đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang tự vệ ở miền Nam cũng chưa phải là phương pháp và hình thức đấu tranh hiệu quả, nhằm chống trả sự chống phá của địch và để giảm bớt tổn thất của quần chúng.

Tháng 12/1957, xác định về nhiệm vụ cách mạng của hai miền, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định việc đồng thời phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược ở cả hai miền Nam Bắc. Theo Người, cả hai nhiệm vụ đều quan trọng. Coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng là sai lầm. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc, tiến dần lên CNXH có tính chất quyết định cho toàn bộ những thắng lợi của cách mạng nước nhà trong giai đoạn mới, và lực lượng cách mạng ở miền Nam được duy trì và phát triển thì đó là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị này, nhân dân miền Bắc đã vượt qua nhiều thử thách, đạt được nhiều thành tích trong xây dựng và phát triển, trở thành hậu thuẫn vững chắc cho cách mạng cả nước. Còn ở miền Nam, trong những năm 1957, 1958, phong trào đấu tranh chính trị có kết hợp vũ trang tự vệ của quần chúng mặc dù đã được nâng cao, song không tránh khỏi những khó khăn và tổn thất, lý do là vì ta chưa tìm ra được phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp để quần chúng chủ động “chống trả” sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù. Hình thức đấu tranh chính trị có sử dụng bạo lực chính trị đã tỏ ra không đủ mạnh để đối phó có hiệu lực với địch và tạo chuyển biến cơ bản cục diện chiến trường và tình hình miền Nam.

Trong khi Mỹ – Diệm ngày càng trắng trợn, đàn áp phong trào cách mạng miền Nam, trong khi thực tiễn đòi hỏi phải được tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời và yêu cầu phải có một hình thức đấu tranh cách mạng cao hơn, nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân miền Nam và đưa phong trào cách mạng miền Nam phát triển đã trở nên bức thiết, thì những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế cũng có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của cách mạng Việt Nam nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng.

2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo và bằng bản lĩnh, trí tuệ của mình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung trí lực, từng bước xác định chủ trương, đường lối và biện pháp cách mạng đúng đắn đưa cách mạng hai miền phát triển. Một trong những văn kiện quan trọng, tạo bước phát triển nhảy vọt về chất của phong trào cách mạng miền Nam là Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 15 mở rộng (Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp nhiều đợt: Đợt 1 (12-22/1/1959) là Hội nghị Trung ương mở rộng, Đợt 2 (10-15/7/1959), v.v. và Nghị quyết của Hội nghị được thông qua trong đợt cuối cùng).

Nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 dựa trên cơ sở phân tích kỹ điều kiện cách mạng cả nước và điều kiện cụ thể của hai miền Nam Bắc; phân tích kỹ tình hình thế giới, xu thế phát triển của cách mạng thế giới; tương quan so sánh lực lượng ta và địch, v.v.., từ đó chỉ rõ nhiệm vụ chung của cách mạng cả nước, và con đường phát triển cách mạng của mỗi miền.

Đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam được nêu rõ trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng). Trên cơ sở phân tích những đặc điểm của tình hình miền Nam (tính chất xã hội miền Nam, thái độ các giai cấp ở miền Nam), Nghị quyết nêu rõ:

“1, Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

2, Trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh đổ tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, v.v.. “[10]

Về phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam, Nghị quyết chỉ rõ, để tự giải phóng mình khỏi xiềng xích nô lệ, “ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác” và cách mạng miền Nam không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, đó là “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân”. Đó chính “là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”[11].

Cũng theo Nghị quyết, vì chế độ Mỹ Diệm dựa vào vũ lực để tồn tại, và chúng ta dựa vào lực lượng quần chúng, dùng lực lượng quần chúng đánh đổ chúng, nên “cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ, phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, thì mới có thể có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng”[12]. Nghị quyết nêu rõ, cách mạng miền Nam vẫn có khả năng phát triển hoà bình, tuy nhiên vì bản chất phản động và hiếu chiến của Mỹ – Diệm, cho nên phương hướng cơ bản vẫn là khởi nghĩa giành chính quyền, và “trong những điều kiện nào đó, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ”.

3. Từ Nghị quyết, có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã khẳng định dứt khoát: con đường cách mạng miền Nam là con đường khởi nghĩa giành chính quyền. Và điều đặc biệt là chủ trương khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân (khởi nghĩa bằng lực lượng chính trị của quần chúng, có sự hỗ trợ của đấu tranh vũ trang) lại được quyết định trong bối cảnh lực lượng cách mạng ở miền Nam đang bị tổn thất không nhỏ. Điều đó cho thấy tầm nhìn ra, sự tiên lượng và quyết định của Người và Bộ chỉ huy tối cao trong những thời khắc khó khăn của lịch sử dựa trên sự phân tích, đánh giá một cách khách quan tình hình, tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, đồng thời khẳng định niềm tin của Người và Trung ương Đảng vào sức mạnh nội lực, tinh thần đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam.

Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 ra đời khi tình thế cách mạng và những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa từng phần tại các địa phương đã chín muồi, đúng như Ngô Đình Nhu từng nhận định: Chế độ miền Nam đang ngồi trên ngọn núi lửa sắp phun. ánh sáng của nghị quyết đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh cách mạng của đồng bào miền Nam, đưa phong trào cách mạng phát triển nên một nấc thang mới. Cho nên, có những nơi chưa nhận được văn bản chính thức, chỉ lĩnh hội tinh thần của Nghị quyết “cho phép tiến hành đấu tranh vũ trang”, đã nhanh chóng phát động khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh “mang tính bạo lực” của quần chúng ở nhiều nơi đã có sự tham gia của lực lượng vũ trang, nửa vũ trang ở những mức độ khác nhau. Các trận đánh đầu tiên của lực lượng vũ trang và tự vệ miền Nam đã diễn ra ở Tây Ninh, Thủ Dầu Một,v.v.. rồi tiếp đến là Bác ái (Ninh Thuận, Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Bằng nhiều phương thức đấu tranh sáng tạo, phong phú, những cuộc khởi nghĩa ở miền núi Liên khu V, ở cực Nam Trung Bộ, và đặc biệt là các cuộc khởi nghĩa của đồng bào các tỉnh miền Trung Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ có đà phát triển và ngày càng lan rộng từ giữa năm 1959 đến cuối năm 1960. Phong trào “Đồng khởi” của nhân dân miền Nam đã làm tan rã từng mảng bộ máy kìm kẹp của chế độ nguỵ quyền cơ sở ở nông thôn, làm lung lay tận gốc bộ máy chính quyền thực dân kiểu mới, đẩy địch vào thế bị động. Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết, trên cơ sở xác định đúng phương châm châm chỉ đạo đồng khởi, đề ra chủ trương và giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương, tạo yếu tố bất ngờ, đảm bảo chắc thắng cho đồng khởi, từ trong Đồng khởi, quyền làm chủ của nhân dân được xác lập ở “1383 trong tổng số 2627 xã”; lực lượng vũ trang, bán vũ trang được xây dựng và từng bước trưởng thành.

Thắng lợi của phong trào đồng khởi đã khôi phục lại các căn cứ địa cách mạng, tạo điều kiện cho vùng giải phóng được mở rộng, thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng ở các đồn điền, nhà máy, ở các trung tâm đô thị phát triển mạnh. Thắng lợi đó đã làm phá sản chiến lược chiến tranh đầu tiên của đế quốc Mỹ ở miền Nam Việt Nam, góp phần đưa đến sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày 20/12/1960.

Với Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã có bước nhảy vọt, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công cách mạng. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam mở đầu bằng phong trào Đồng khởi đã làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự của cha ông ta trong lịch sử. Khởi sự bằng Đồng khởi, quân dân miền Nam đã chứng minh nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng: “Thế lực của Mỹ ngày nay trên thế giới ngày càng sa sút, thế lực của chúng ở miền Nam căn bản không phải mạnh. Tình hình ngày càng chuyển biến bất lợi cho chúng, có lợi cho ta”[13] là hoàn toàn đúng đắn.

Nghị quyết đồng thời cho thấy quyết định của Người và Đảng ta thực sự “đã tạo ra một phương thức mới, tạo đột biến cho tình hình, đưa cách mạng chuyển sang bước nhảy vọt thần kỳ”, khẳng định tầm vóc trí tuệ, bản lĩnh và tư duy của Hồ Chí Minh và Đảng ta về cách thức mở đầu cuộc chiến tranh nhân dân chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới.

Hơn 15 năm sau khi Nghị quyết Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) về cách mạng miền Nam ra đời, với đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước được cụ thể hoá trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 và nhiều nghị quyết Trung ương khác, mùa xuân năm 1975, với Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam Bắc sum họp một nhà. Nhiều năm sau đó, trong Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị nhận định: Nghị quyết 15 rất đúng đắn, sáng tạo phù hợp thời cơ lịch sử – “Nó là ngọn lửa dấy lên cao trào Đồng khởi làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam lúc bấy giờ”[14], tạo đà cho những thắng lợi của cách mạng miền Nam trong những năm sau đó ./.

TS. Văn Thị Thanh Mai Bảo tàng Hồ Chí Minh

Chú thích:

(1) Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Văn kiện Quốc hội toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007, t.2, tr. 40 (2) Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, H,1971, t.1, tr.27 (3) Biên bản Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 7, khoá II, ĐVBQ 29, Lưu trữ Trung ương Đảng, tr.8 (4)Dẫn theo: Hoàng Trang, Đỉnh cao của tư tưởng Hồ Chí Minh trong 30 năm chiến tranh giải phóng, Tạp chí Lịch sử Quân sự, 5/2005, tr.19 (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.8, tr. 159 (6) Lê Duẩn Tuyển tập (1950-1965), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 115-116 (7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.17, tr. 424 (8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 43 (9) Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung quốc trong 30 năm qua, H, 1979, tr.24 (10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 81-82 (11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 82 (12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 82-83 [13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.20, tr. 28 [14] Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước – thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 1996, tr.44

ditichhochiminhphuchutich.gov.vn

Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Thành Lập Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (15 / 2023

Sau thất bại nặng nề trong âm mưu phá hoại Hiệp định Genève, chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam thành pháo đài chống cộng bất khả xâm phạm, đánh dấu bằng sự bùng nổ Phong trào Đồng khởi của nhân dân trên toàn miền Nam và sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) vào 20-12-1960, Hoa Kỳ vẫn không từ bỏ tham vọng của mình và tiếp tục tìm kiếm chiến lược quân sự mới để đối phó.

Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thăm hỏi Quân Giải phóng miền Nam. (Ảnh tư liệu)

Chính thức nhậm chức tại Nhà Trắng từ 20-1-1961, Tổng thống Hoa Kỳ Kennedy đã thay thế chiến lược Trả đũa ồ ạt của Eisenhower bằng chiến lược Phản ứng linh hoạt. Chiến lược quân sự toàn cầu mới này gồm 3 loại hình là Chiến tranh tổng lực, Chiến tranh cục bộ và Chiến tranh đặc biệt. Ngày 28-1-1961, kế hoạch ứng dụng chiến lược Chiến tranh đặc biệt tại miền Nam Việt Nam đã được Chính phủ Hoa Kỳ thông qua.

Mục đích của chiến lược Chiến tranh đặc biệt là chống lại chiến tranh du kích, chiến tranh giải phóng ở miền Nam bằng sự phối hợp toàn diện các hoạt động quân sự, chính trị, kinh tế và tâm lý thông qua lực lượng chính quyền, quân đội của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) kết hợp với sự huấn luyện, cố vấn, chỉ huy và trang bị kỹ thuật, vũ khí, phương tiện chiến tranh do Hoa Kỳ viện trợ.

Biện pháp chủ yếu của chiến lược Chiến tranh đặc biệt là mở các cuộc hành quân càn quét, đánh phá nhằm gom dân vào 16.000 “ấp chiến lược” trên tổng số 17.000 thôn ấp ở miền Nam để “tát nước bắt cá”, coi đó là “quốc sách”, là “xương sống” của chiến lược; đồng thời dùng quân chủ lực của VNCH dưới sự yểm trợ của các đơn vị máy bay, xe tăng Hoa Kỳ sử dụng các chiến thuật tân kỳ như “trực thăng vận”, “thiết xa vận” tiến hành các cuộc hành quân để tiêu hao, tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, đẩy cộng sản ra khỏi lãnh thổ Nam Việt Nam.

Nhằm kịp thời đối phó với chiến lược quân sự mới của Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng miền Nam tiến lên, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (BCHTW Đảng) ngày 23-1-1961 đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam (gọi tắt là Cục R) thay thế Xứ ủy Nam Bộ, là một bộ phận của BCHTW Đảng, để chỉ đạo trực tiếp ở miền Nam.

Đặc biệt, Chỉ thị ngày 31-1-1961 và Nghị quyết đầu tháng 2-1961 của Bộ Chính trị về nhiệm vụ quân sự trong 5 năm 1961-1965 và phương hướng nhiệm vụ của cách mạng miền Nam (sau đó được Nghị quyết của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1962 bổ sung thêm) đã chủ trương chuyển từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền, đồng thời đề ra những biện pháp chiến lược hết sức quan trọng, bao gồm:

– Duy trì và đẩy mạnh đấu tranh chính trị cả ở nông thôn và thành thị, đẩy mạnh đấu tranh quân sự lên ngang tầm với đấu tranh chính trị để kịp thời giáng trả các cuộc phản kích của địch, giữ vững thế trận ở vùng nông thôn.

– Đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng, cả lực lượng tại chỗ và các khối cơ động; đồng thời củng cố một số căn cứ địa, xây dựng hậu phương tại chỗ tạo địa bàn đứng chân vững chắc cho các khối chủ lực.

– Phát triển chiến tranh du kích, đánh phá những nơi xung yếu như kho tàng, sân bay, bến cảng, các trục giao thông huyết mạch; tăng cường hoạt động chiến đấu của lực lượng chủ lực, nâng cao trình độ tác chiến tập trung.

– Vận dụng phương châm kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị phù hợp đặc điểm của ba vùng chiến lược: vùng rừng núi lấy đấu tranh quân sự là chính, vùng nông thôn đồng bằng coi trọng cả đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ngang nhau, vùng thành thị thì đẩy mạnh đấu tranh chính trị; kết hợp 3 mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; tập trung mũi nhọn vào nhiệm vụ chống càn quét để làm phá sản chương trình lập “ấp chiến lược” của địch.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và quyết định của Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục miền Nam đã tổ chức Hội nghị quân sự tại Chiến khu Đ vào ngày 15-2-1961 để thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam. Kết quả là lực lượng Giải phóng quân miền Nam Việt Nam, gọi tắt là Quân Giải phóng miền Nam (QGPMN) được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam, bao gồm lực lượng ở lại không đi tập kết, lực lượng mới tham gia tại chỗ và lực lượng đi tập kết đã quay lại miền Nam hoạt động.

Đại đội súng cối 82 ly của du kích-Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. (Ảnh tư liệu)

Về mặt quân sự, QGPMN là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ trên xuống của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Quân ủy và Bộ Tư lệnh QGPMN, Quân khu ủy và các Bộ Tư lệnh QGPMN ở các quân khu, Đảng ủy quân sự và Bộ Chỉ huy quân sự các tỉnh, thành phố tại miền Nam. Vì thế, lực lượng bộ đội từ miền Bắc tăng cường vào Nam chiến đấu, kể từ năm 1963, nghiễm nhiên cũng là bộ đội thuộc biên chế QGPMN, chứ không phân biệt quân đội hai miền Nam-Bắc như quan điểm của Hoa Kỳ và VNCH.

Về mặt chính trị, QGPMN là lực lượng vũ trang của MTDTGPMNVN giai đoạn 1961-1969 và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) giai đoạn 1969-1976; vì vậy, QGPMN chịu sự lãnh đạo tối cao từ trên xuống của Bộ Chính trị, BCHTW của Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (thành lập vào ngày 1-1-1962), MTDTGPMNVN và CPCMLTCHMNVN.

Kể từ khi thành lập, lực lượng QGPMN không ngừng lớn mạnh và trưởng thành về nhiều mặt. Ngay trong năm 1961, Trung ương đã giúp xây dựng được 12 tiểu đoàn cho cả Khu V và Nam Bộ. Ngoài lực lượng và trang bị tại chỗ, sự chi viện của miền Bắc là nguồn bổ sung rất quan trọng cho sức mạnh của QGPMN. Chẳng hạn, năm 1963 có trên 40.000 cán bộ, chiến sĩ và 1.430 tấn vũ khí từ miền Bắc được đưa vào miền Nam; năm 1964 con số đó là 17.427 cán bộ, chiến sĩ và 3.435 tấn vũ khí (Lê Duẩn-Tiểu sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 297 và 314). Theo một số liệu thống kê, bộ đội chủ lực của QGPMN vào tháng 12-1974 khoảng 290.000 người, trong đó có chừng 90.000 người miền Nam.

Trong quá trình chiến đấu, QGPMN đã làm nên nhiều trận đánh nổi tiếng, phối hợp mặt trận đấu tranh chính trị giành được những thắng lợi quyết định, góp phần to lớn cùng cả nước đánh bại lần lượt các chiến lược quân sự then chốt của Hoa Kỳ và VNCH: Chiến tranh đặc biệt (1961-1965), Chiến tranh cục bộ (1965-1968), Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1973); buộc Hoa Kỳ phải chấp nhận ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương ngày 27-1-1973, rồi tiến lên đánh bại hoàn toàn chế độ VNCH, giải phóng miền Nam vào 30-4-1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Sau kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất (24-6-1976 – 3-7-1976), cùng với sự hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước, lực lượng quân đội cũng đi đến thống nhất dưới tên chung là QĐNDVN. Từ đây, tên gọi QGPMN đã trở thành quá khứ, song vẫn luôn còn đó lịch sử của 15 năm đấu tranh đầy hy sinh, mất mát, gian khổ nhưng anh dũng của lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam (1961-1976).

QGPMN đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của dân tộc giao phó, xứng đáng với 7 chữ vàng “Giải phóng quân anh dũng chiến thắng” được in trên lá quân kỳ do MTDTGPMNVN trao tặng ngay từ ngày thành lập. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất, kiên cường của các chiến sĩ QGPMN mãi mãi in sâu vào văn chương, thơ ca, nhạc họa và là tượng đài trong tâm trí của nhân dân Việt Nam, trong sự ngưỡng mộ của nhân loại yêu chuộng hòa bình và công lý.

Hướng Dẫn Luật Chơi, Cách Chơi Tiến Lên Miền Nam / 2023

Bắt đầu chơi

Bàn chơi có ít nhất từ 2 người và nhiều nhất là 4 người chơi. Trò chơi sẽ bắt đầu khi tất cả người chơi bấm nút sẵn sàng.

Ban đầu mỗi người được chia 13 lá bài. Ván đầu tiên sẽ chọn ngẫu nhiên người đánh trước để đảm bảo công bằng. Từ ván thứ 2 trở đi, người nào thắng ván trước sẽ được đi trước. Nếu người thắng ván trước thoát khỏi bàn hoặc bàn chỉ còn người thắng thì ván tiếp theo sẽ được coi là ván đầu tiên.

Vòng đánh

Mục tiêu của mỗi người chơi là đánh hết 13 lá bài trên tay trước những người chơi khác

Nếu là lượt đánh đầu tiên mỗi vòng, người chơi có thể đánh bất kỳ bộ nào trong luật cho phép

Nếu có người đánh bộ trước đó, người đánh tiếp theo phải đánh một bộ cao hơn hoặc bỏ lượt

Người bỏ lượt sẽ mất lượt cho đến hết vòng

Nếu tất cả mọi người bỏ lượt, sẽ kết thúc vòng đánh, quyền đánh vòng tiếp theo được chuyển cho người đánh cuối cùng trong lượt trước

Các bộ có thể đánh trong Tiến lên miền nam

Rác: Là những lá bài riêng lẻ không thể kết hợp với lá bài còn lại. Một lá bài rác chỉ có thể được mang ra đánh thắng một lá bài rác khác khi nó có giá trị cao hơn lá bài kia, hoặc cùng giá trị với bài kia nhưng có “nước bài” cao hơn.

Tứ quý: 4 quân bài cùng giá trị như nhau. Một Tứ quý có thể đánh thắng một Tứ quý khác khi nó có giá trị cao hơn Tứ quý kia.

– 3 đôi thông được chặt một “heo”, và “chặt chồng” lên 3 đôi thông nhỏ hơn nó. – Tứ quý được chặt một “heo” hoặc một đôi “heo”, “chặt chồng” lên 3 đôi thông bất kì, “chặt chồng” lên tứ quý nhỏ hơn nó. – 4 đôi thông được chặt một “heo” hoặc chặt một đôi “heo”, “chặt chồng” lên 3 đôi thông, “chặt chồng” lên tứ quý, “chặt chồng” lên 4 đôi thông nhỏ hơn nó. – Lần “Chặt chồng” cuối cùng là tổng kết tất cả các hành vi “chặt” trước đó. Người bị chặt sau cùng sẽ phải chịu toàn bộ tiền chặt.

Cách tính thắng thua

Ván chơi có 4 người tham gia:

– Nhất (ăn gấp đôi tiền cược): Là người đầu tiên đánh hết 13 lá bài của ván chơi. – Nhì (ăn bằng số tiền cược): Là người thứ hai đánh hết 13 lá bài của ván chơi. – Ba (thua bằng tiền cược): Là người thứ ba đánh hết 13 lá bài của ván chơi – Bét (thua gấp đôi tiền cược): Là người cuối cùng không đánh hết được 13 lá bài của ván chơi.

Ván chơi có 3 người tham gia

– Nhất (ăn gấp đôi tiền cược): Là người đầu tiên đánh hết 13 lá bài của ván chơi. – Bét (thua gấp đôi tiền cược): Là người không đánh hết được 13 lá bài của ván chơi. – Nhì (hòa tiền): Là người thứ hai đánh hết 13 lá bài của ván chơi.

Ván chơi có 2 người tham gia:

– Nhất (ăn gấp đôi tiền cược): Là người đầu tiên đánh hết 13 lá bài của ván chơi. – Bét (thua gấp đôi tiền cược): Là người không đánh hết được 13 lá bài của ván chơi.

Một số trường hợp đặc biệt trong TLMN

Thắng “Tới trắng”:

Người chơi thắng tới trắng nếu sở hữu một trong những bộ bài sau. – Sảnh bài liền từ 3 đến Át (không cần cùng nước bài). Đây được gọi là sảnh rồng. – Tứ quý heo: 2♥2♦2♣2♠. – 5 đôi thông. – 6 đôi bất kì. Khi có người thắng trắng, ván chơi dừng lại ngay. Người thắng trắng ăn gấp đôi tiền cược nhân với số người chơi còn lại trong bàn, kèm theo tiền thối bài của những người khác trong bàn.

Thua Cóng:

Một người chơi nào đó chưa đánh ra được bất cứ một lá bài nào trong lúc người khác đã đánh hết bài, sẽ bị thua (tiếng lóng gọi là “thua cóng”). Người này sẽ thua gấp 4 lần tiền cược, và phải trả tiền thối (nếu có) cho người thắng.

Luật Chặt “Heo”:

– “Chặt” là khái niệm để chỉ việc người chơi dùng những kết  đặc biệt (tứ quý, đôi thông) để đem ra đánh “heo” hoặc “kết hợp đặc biệt khác”. Người bị “chặt” sẽ bị phạt tiền: – Heo đỏ: Phạt gấp đôi tiền cược. – Heo đen: Phạt một lần tiền cược. – 3 đôi thông, 4 đôi thông, tứ quý: Phạt gấp đôi tiền cược.

Luật “Úng (thúi)” heo, hàng:

– Đây là trường hợp chỉ xảy ra ở cuối một ván bài. Việc kiểm tra “úng”, “thúi” “heo”, “hàng” chỉ diễn ra giữa 2 người về sau chót. Người về bét nếu còn “heo” và “hàng” thì người còn lại sẽ nhận được tiền phạt thúi: – Heo đỏ (2♥2♦): Phạt gấp đôi tiền cược của bàn. – Heo đen (2♣2♠): Phạt một lần tiền cược của bàn. – “Hàng” (3 đôi thông, 4 đôi thông, tứ quý): Phạt gấp đôi tiền cược của bàn.

Trường hợp đặc biệt với 3 bích:

– Trường hợp thắng đầu tiên mà đánh lá bài 3 bích sau cùng: Thắng bằng số tiền cược * (số người chơi -1).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Nghị Quyết 15 Với Cách Mạng Miền Nam Năm 1959 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!