Đề Xuất 1/2023 # Một Số Lưu Ý Khi Công Chứng Văn Bản Xác Lập Tài Sản Riêng Của Vợ, Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân – # Top 3 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Một Số Lưu Ý Khi Công Chứng Văn Bản Xác Lập Tài Sản Riêng Của Vợ, Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân – # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Lưu Ý Khi Công Chứng Văn Bản Xác Lập Tài Sản Riêng Của Vợ, Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân – mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lập văn bản cam kết tài sản riêng của vợ chồng, đúng hay sai?

Có thể dựa vào đó để một người ký giao dịch đất đai hay không?

Cam kết tài sản riêng thì phải mấy người ký?

Phải công chứng hay chứng thực chữ ký?

Đó là những câu hỏi thường xuyên và có rất nhiều ý kiến trái chiều. Đặc biệt trong lĩnh vực công chứng, công chứng viên cần có những căn cứ chắc chắn để khẳng định tính xác thực, hợp pháp của giao dịch mà mình sẽ chứng nhận thì giá trị pháp lý của văn bản cam kết tài sản riêng được đặc biệt quan tâm trước khi sử dụng làm căn cứ để tiến hành các giao dịch khác.

Để làm sáng tỏ vấn đề này ta cùng bắt đầu từ các quy định của pháp luật

Quy định của Luật HNGĐ

Khoản 1, Điều 33:

“Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Theo quy định này thì có 3 trường hợp quyền sử dụng đất có thể là tài sản riêng đó là:

– Trường hợp 1: Được thừa kế riêng

– Trường hợp 2: Được tặng cho riêng

– Trường hợp 3: Thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

Ngoài ra theo quy định tại Khoản 1, Điều 40 Luật HNGĐ thì còn một trường hợp nữa mà tài sản là quyền sử dụng đất có thể là tài sản riêng:

– Trường hợp 4: Tài sản có được do kết quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Trường hợp 1, 2 và 4 sẽ được ghi rõ trên giấy chứng nhận ở mục nguồn gốc sử dụng.

Trường hợp 3 cũng có thể được ghi rõ, có thể không. Nếu không được ghi rõ mà sổ đỏ đứng tên 1 người thì chủ sử dụng phải chứng minh.

Làm sao để chứng minh là quyền sử dụng đất có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng?

Chứng minh bằng hợp đồng giao dịch.

Chứng minh tình trạng hôn nhân tại thời điểm hình thành tài sản.

Chứng minh bằng chứng từ thanh toán.

Bằng kết quả xác minh của CCV.

Văn bản cam đoan, cam kết tài sản riêng không thể dùng làm căn cứ chứng minh rằng quyền sử dụng đất của người khác có được do giao dịch bằng tài sản riêng của người đó, bởi vì:

Người cam đoan, cam kết chỉ có thể cam đoan rằng tài sản đó không phải của mình chứ không có đủ cơ sở để khẳng định rằng đó có phải là tài sản riêng của người kia hay không.

Người cam đoan, cam kết không có hồ sơ, căn cứ, quyền và nghĩa vụ để chứng minh tài sản của người khác là do họ “giao dịch bằng tài sản riêng” mà có.

Việc một người khẳng định một tài sản không phải là của mình không đồng nghĩa với việc tài sản đó không phải là của người đó mà cần phải có căn cứ chứng minh. Công chứng viên không thể chỉ dựa vào lời cam đoan của người này để khẳng định tính hợp pháp về quyền sở hữu của một người khác đối với bất động sản.

Vợ khẳng định ngôi nhà này không phải của tôi, tôi không bỏ tiền ra mua, chồng tôi không bỏ tiền chung ra để mua thì đó chỉ là khẳng định đơn phương của vợ. Thực tế ngôi nhà đó không hình thành từ 3 nguồn tài sản là tặng cho riêng, thừa kế riêng và giao dịch bằng tài sản riêng như nêu trên thì mặc nhiên nó vẫn là tài sản chung (kể cả bà vợ có cam kết đó là riêng). Ví dụ, do trúng xổ số, do được cơ quan tặng thưởng, hoặc do quá trình ông chồng kinh doanh bằng tiền riêng có được trước hôn nhân và tạo lập nên ngôi nhà đó thì nó vẫn là tài sản chung mặc dù người vợ có cam kết rằng nó là riêng.

    Lý do người ta thường làm cam đoan, cam kết là do nó thuận tiện để giao dịch hoặc với mục đích trốn thuế chứ đa phần không phải do nó thực sự là tài sản riêng.

    Khoản 3 Điều 33:

    “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

    Mặc dù bà vợ có thể lập cam kết tài sản riêng của chồng để ông chồng tiện giao dịch nhưng nếu một ngày vì lý do nào đó bà ta kiện ra tòa và có đủ căn cứ chứng minh điều ngược lại còn ông chồng không có căn cứ nào khác ngoài bản cam kết mà hai người đã lập để chứng minh là tài sản riêng thì kết quả có thể vẫn sẽ phải trở về đúng với bản chất và sự thật khách quan của nó lúc ban đầu.

    Khoản 2 Điều 34:

    Như vậy, mọi trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên một người mà không ghi rõ nguồn gốc trên GCN đó là tài sản riêng thì khi giao dịch buộc phải tuân theo quy định tại Điều 26, nghĩa là thông qua việc vợ chồng đại diện cho nhau chứ không có bất kỳ hình thức giao dịch nào khác.

    Điều 26:

      Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.”

      Điều 24 và 25 nói về các hình thức vợ/chồng đại diện cho nhau chứ không nhắc đến việc vợ chồng cam kết, cam đoan gì cả (vui lòng đọc Điều 24, 25 để biết chi tiết), và hậu quả của việc không tuân theo cách thức giao dịch này là giao dịch vô hiệu theo Khoản 2, Điều 26.

      Như vậy, để bảo đảm giao dịch hợp pháp thì giao dịch đó không chỉ đúng về nội dung mà còn phải đúng về hình thức, trình tự theo luật định. Đối với tài sản của vợ chồng thì hình thức giao dịch, trình tự nêu trên là buộc phải tuân thủ chứ không thể sáng tạo, làm khác theo kiểu “luật không cấm thì được làm” được

      II. Vậy, hiểu thế nào khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên 1 người ?

      (i) Nó là tài sản riêng do nhận thừa kế riêng (phải ghi rõ trên GCN)

      (ii) Nó là tài sản riêng do nhận tặng cho riêng (phải ghi rõ trên GCN)

      (iii) Nó là tài sản riêng do giao dịch bằng tài sản riêng mà có, bao gồm cả tài sản hình thành trước hôn nhân (có thể ghi rõ trên GCN, cũng có thể không). Trường hợp không có ghi nhận nguồn gốc trên GCN thì chủ tài sản phải chứng minh theo các cách đã nêu ở phía trên.

      (iv) Nó là tài sản riêng hình thành từ việc chia tài sản chung của vợ/chồng hoặc thỏa thuận về tài sản giữa vợ/chồng (phải ghi rõ trên GCN).

      (v) Nó là tài sản chung (nếu không ghi rõ nguồn gốc) bất kể nó được cấp trước hay sau khi có Luật Đất đai 2013, bởi vì trước khi có Luật Đất đai 2013 thì đa số GCN được cấp với tên 1 người nhưng với tư cách là đại diện cho hai vợ chồng; ngay cả sau khi có Luật đất đai 2013 thì vợ/chồng vẫn có thể thỏa thuận (theo Khoản 1, Điều 26 Luật HNGĐ) để 1 người đứng tên đại diện và trong trường hợp này sổ chỉ ghi tên 1 người nhưng thực tế vẫn là sở hữu chung.

      III. Hiện nay người ta thường lập văn bản cam kết tài sản riêng trong trường hợp nào?

      Trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên một người mà không ghi rõ nguồn gốc (như mục v nêu ở trên).

      Trường hợp là tài sản riêng theo mô tả tại các mục i, ii, iii, iv nêu trên nhưng vì lý do nào đó trên GCN không ghi nhận chính xác nguồn gốc hình thành tài sản.

      Trường hợp trước khi mua bất động sản mà vợ chồng muốn một người đứng ra giao dịch, ký hợp đồng, đứng tên, định đoạt tài sản đó hoặc trở thành tài sản riêng của một người.

      Trường hợp trước khi xin cấp GCN quyền sử dụng đất mà vợ chồng muốn nhà đất đó trở thành tài sản riêng của 1 người.

      Với 4 trường hợp này, để phản ánh đúng bản chất của giao dịch và thực hiện đúng quy định của pháp luật thì sẽ có những cách thức giao dịch khác nhau. Tuy nhiên, nhiều công chứng viên chưa nhận thức rõ về vấn đề này dẫn đến những cách làm chưa đúng. Mặt khác, không chỉ có các công chứng viên, chính các cơ quan đăng ký đất đai, cơ quan thuế, các chủ đầu tư dự án nhà ở cũng chưa hiểu đúng và áp dụng đúng, dẫn đến việc một số công chứng viên làm đúng nhưng văn bản công chứng không được chấp nhận, buộc họ phải sửa lại theo ý của bên tiếp nhận văn bản đó để giúp cho khách hàng giải quyết được công việc của mình

      IV. Nội dung phổ biến của các bản cam kết hiện nay như thế nào?

      Qua việc tiếp nhận hồ sơ cũng như tìm hiểu thực tế thì thấy rằng các văn bản cam kết hiện nay đa số đều thể hiện 3 nội dung chính như sau:

      Nội dung 1: Khẳng định rằng bất động sản được hình thành là tài sản riêng của một người do mua bằng tiền riêng,

      Nội dung 3: Khẳng định người sở hữu, hoặc sẽ sở hữu bất động sản có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với bất động sản đó.

      V. Những sai lầm phổ biến trong việc lập và sử dụng các bản cam kết công nhận tài sản riêng hiện nay:

      Sai lầm thứ nhất: Khẳng định rằng bất động sản là tài sản riêng được hình thành thông qua việc mua bằng tiền riêng nhưng không có bất cứ căn cứ nào chứng minh

      Các bên có quyền cam đoan, cam kết, nhưng trước khi công chứng giao dịch thì công chứng viên cần phải chứng minh được các tình tiết trong nội dung văn bản bằng các chứng cứ mang tính khách quan chứ không đơn thuần chỉ dựa vào lời hứa hay sự cam kết bằng văn bản của người yêu cầu công chứng. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ đặc biệt, nó là loại chứng cứ bằng văn bản mà các tình tiết trong đó đã được chứng minh; nó có giá trị thi hành và không cần chứng minh khi được xem xét tại Tòa án (Xem Khoản 3, Điều 5, Luật Công chứng và điểm c, Khoản 1, Điều 92, Bộ luật Tố tụng dân sự).

      Trên thực tế có nhiều trường hợp để tiện cho việc giao dịch mua bán nhà đất, vợ chồng làm văn bản cam kết tài sản riêng, sau đó nhiều tài sản được mua và đứng tên một người. Nhưng cũng hai người đó khi ly hôn lại đưa ra những bằng chứng để khẳng định rằng những cam kết trước đó là không đúng sự thật, nhằm chứng minh rằng tài sản đứng tên một người hoặc số tiền thu vê từ việc bán tài sản vẫn là tài sản chung; mục đích là để bảo vệ quyền lợi của mình trong việc chia tài sản.

      Việc khẳng định ngay từ đầu rằng tài sản đó là tài sản riêng cũng có nghĩa rằng những nội dung của văn bản này là để khẳng định một sự thực đã tồn tại chứ không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nào cả. Do đó, không thể xem văn bản này là một giao dịch dân sự, là đối tượng của hoạt động công chứng, cho dù nó được lập và ký kết bởi 1 người hay hai người.

      Sai lầm thứ hai: Cho rằng vợ hoặc chồng khẳng định tài sản đó không phải là của mình thì mặc nhiên nó là tài sản riêng của người kia.

      Sai lầm thứ ba: Không phản ánh đúng bản chất sự việc.

      Rất nhiều bản cam đoan, cam kết không phản ánh đúng bản chất của sự việc mà thường làm theo một mẫu chung với những lý do giống nhau như đã nêu ở Mục IV. Tuy nhiên, bản chất của nhiều giao dịch không đúng như vậy. Có nhiều vụ việc mà bản chất là chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ chồng lại giao dịch bằng hình thức văn bản cam kết tài sản riêng bởi cơ quan đăng ký đất đai không chấp nhận thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là căn cứ để đăng ký quyền sử dụng đất. Cũng có những vụ việc bản chất là tài sản chung nhưng cả hai vợ chồng vì lý do nào đó không thể cùng đứng ra giao dịch; thay vì chấp nhận văn bản ủy quyền hoặc thỏa thuận giữa hai vợ chồng về việc đại diện đứng tên trên GCN thì cơ quan đăng ký đất đai một số địa phương lại chỉ chấp nhận văn bản cam kết tài sản riêng mới cho đăng ký. Công chứng viên buộc phải làm theo yêu cầu của khách hàng và cơ quan đăng ký đất đai, với cách thức thể hiện là 1 bản cam kết đơn phương hoặc cam kết của hai người khẳng định đó là tài sản riêng của một người do mua bằng tài sản riêng.

      Sai lầm thứ tư: Không xác định được loại văn bản mà mình lập có phải là giao dịch dân sự hay không, có thuộc đối tượng phải công chứng hay không.

      Tùy vào năng lực và quan điểm của công chứng viên, hình thức văn bản cam kết tài sản riêng của vợ chồng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, rất nhiều công chứng viên lúng túng trong việc xác định thể thức, chủ thể và thủ tục công chứng hay chứng thực chữ ký đối với loại văn bản này:

      Thứ nhất: Không biết nên lập văn bản ở dạng cam kết đơn phương hay song phương;

      Thứ hai: Không biết nên công chứng hay chứng thực chữ ký.

      Nguyên nhân của sự lúng túng này là do công chứng viên không xác định được nội dung của văn bản có phải là giao dịch dân sự hay không.

      Nhiều người hiểu rằng cứ có hai người cam kết thì nó là giao dịch dân sự, còn một người cam kết thì nó không phải là giao dịch dân sự. Từ đó đưa ra quyết định về việc công chứng hay chứng thực chữ ký một cách thiếu chính xác.

      Sai lầm thứ năm: Không phân biệt được sự khác nhau về giá trị pháp lý giữa văn bản được công chứng và văn bản được chứng thực chữ ký.

      Văn bản được công chứng là loại chứng cứ đã được chứng minh, còn văn bản được chứng thực chữ ký thì các tình tiết trong đó chưa được chứng minh. Nhưng khi tiếp nhận các văn bản cam kết tài sản riêng của vợ chồng để làm căn cứ chứng nhận các giao dịch tiếp theo như giao dịch mua bán, tặng cho bất động sản thì nhiều công chứng viên không để ý đến vấn đề này, mặc nhiên coi văn bản cam kết đã được chứng thực chữ ký là một loại căn cứ hợp pháp như các văn bản cam kết được công chứng.

      Hậu quả của những sai lầm

      VI. Một vài khuyến nghị

      Xác định đúng tình trạng sở hữu dựa trên nguồn chứng cứ vật chất.

      Cần xác định rõ, nếu không có văn bản cam đoan, cam kết hay thỏa thuận nào thì với những chứng cứ mà NYCCC xuất trình có đủ cơ sở để khẳng định đó là tài sản riêng của một người hay không? Cách thức xác định như đã nêu tại Mục II.

      Nếu có đủ căn cứ để xác định là tài sản riêng của một người thì khi người đó tiến hành giao dịch không cần thiết phải làm thêm bất cứ bản cam đoan, cam kết hay thỏa thuận nào cả.

      Nếu chưa có đủ căn cứ để xác định đó là tài sản riêng thì phải khẳng định rằng đó là tài sản chung trước khi tiến hành các bước tiếp theo theo yêu cầu công chứng.

        Xác định mục đích YCCC, nội dung, thể thức văn bản có thể áp dụng và thủ tục công chứng, chứng thực phù hợp.

        Thông thường, NYCCC sẽ đưa ra mong muốn của họ chứ không quan tâm đến việc mong muốn đó có phù hợp với các quy định của pháp luật hay không. Công chứng viên cần xác định được mục đích chính của NYCCC để đáp ứng yêu cầu đó chính xác nhưng vẫn phù hợp với quy định của pháp luật. Ví dụ, họ chỉ quan tâm đến việc làm sao để việc giao dịch được thuận tiện, có thể cử ra một người giao dịch mua bán bất động sản mà không có nhu cầu xác lập tài sản riêng cho người đó thì CCV không nên sử dụng thể thức văn bản là cam kết tài sản riêng, bởi nó không đúng với bản chất và mục đích mà NYCCC hướng tới.

        Trường hợp NYCCC khẳng định rằng tài sản đó đúng là tài sản riêng của mình nhưng có sai sót trong khâu cấp GCN và muốn làm cam kết để tiến hành các giao dịch khác thì thay vì làm cam kết, công chứng viên cần hướng dẫn họ tiến hành thủ tục đính chính thông tin trên GCN.

        Nghiên cứu các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật HNGĐ, Luật Đất đai và Bộ luật dân sự chúng ta sẽ thấy rằng các quy định về cách thức giao dịch để xác lập hoặc công nhận tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của một người là khá rõ ràng và có thể áp dụng linh hoạt để đáp ứng yêu cầu và mục đích của NYCCC. Các hình thức văn bản có thể sử dụng gồm có:

        Thỏa thuận chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (đối tượng có thể là bất động sản hoặc tiền sử dụng để mua bất động sản);

        Thỏa thuận của vợ, chồng cho phép một người đứng tên trên bất động sản và tiến hành các giao dịch với bất động sản;

        Các loại văn bản có tiêu đề là cam kết, thỏa thuận khác có nội dung tương tự như các loại văn bản liệt kê ở trên, được lập đơn phương hoặc song phương.

        Điểm mấu chốt, đó là các loại văn bản này đều biến trạng thái sở hữu tài sản từ tài sản chung thành tài sản riêng bằng một giao dịch dân sự. Các loại văn bản này phải được công chứng theo quy định của Luật Công chứng, cho dù đó là ý chí đơn phương hay thỏa thuận song phương.

          Xác định đúng giá trị của chứng cứ trước khi sử dụng cho các giao dịch khác

          Các loại văn bản thỏa thuận, cam đoan, cam kết… để xác lập hoặc chứng minh tài sản riêng của vợ/chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm nhiều loại và được đặt trong nhiều bối cảnh khác nhau. Tuy nhiên, hầu như chúng đều có một điểm đến là phục vụ cho giao dịch mua bán, chuyển nhượng bất động sản.

          Khi tiến hành công chứng các giao dịch bất động sản mà NYCCC có sử dụng các loại văn bản nêu trên làm căn cứ thì cần đặc biệt lưu ý đến giá trị chứng cứ của văn bản đó. Không phải cứ văn bản được công chứng, chứng thực thì có giá trị chứng cứ phù hợp với vấn đề cần chứng minh.

          Ví dụ 1: Ông A là bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xuất trình GCN quyền sử dụng đất mang tên của ông kèm theo một bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được công chứng để chứng minh đó là tài sản riêng của ông A. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với quy định của Luật đất đai thì trường hợp này tài sản cần phải được đăng ký biến động về đất đai (theo quy định tại Khoản 4, Điêu 95, Luật Đất đai 2013) trước khi ông A có thể tự mình tiến hành giao dịch, do vậy không thể chấp nhận công chứng nếu ông A chưa tiến hành thủ tục đăng ký.

          Ví dụ 2: Vẫn tương tự như Ví dụ 1 và ông A xuất trình văn bản cam kết tài sản riêng do hai vợ chồng ông cùng lập, đã được công chứng. Nội dung văn bản khẳng định rằng tài sản đó được mua bằng tiền riêng của ông, vợ ông không có đóng góp gì nên nó là tài sản riêng của ông. Trường hợp này hiện nay rất phổ biến và đa phần vẫn được các công chứng viên cũng như cơ quan đăng ký đất đai chấp nhận. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với các quy định của pháp luật thì công chứng viên chứng nhận bản cam kết đó đã làm sai quy định khi công chứng một văn bản không phải là giao dịch dân sự. Câu hỏi đặt ra là nếu biết một văn bản công chứng là trái luật thì có thể chấp nhận văn bản đó làm căn cứ để tiến hành công chứng giao dịch tiếp theo hay không? Chắc chắn nếu biết mà vẫn chấp nhận thì sẽ tiềm ẩn những rủi ro cho các bên giao dịch và cho cả công chứng viên.

          Thứ hai: Đối với các văn bản được chứng thực chữ ký, không phải là giao dịch dân sự: Văn bản được chứng thực chữ ký chỉ chứng minh rằng nó được ký trước mặt công chứng viên, đúng người, đúng ý chí và năng lực hành vi dân sự chứ những tình tiết được mô tả trong nội dung văn bản là chưa được chứng minh tính xác thực, hợp pháp. Giá trị của nó chỉ giống như một lời cam đoan của cá nhân chứ không bảo đảm các đầy đủ các điều kiện để làm căn cứ chứng minh một tài sản là tài sản riêng của người khác.

          Tuy không thể sử dụng làm căn cứ trong hoạt động công chứng nhưng trong một số trường hợp, cơ quan đăng ký đất đai vẫn chấp nhận văn bản này làm căn cứ để đăng ký tài sản thành tài sản riêng của một người nếu trước đó hợp đồng mua tài sản được ký kết với tên của một người. Mặt khác, loại văn bản này vẫn có giá trị chứng cứ tại Tòa án khi có tranh chấp xảy ra với tính chất là một nguồn chứng cứ chưa được chứng minh về nội dung.

          Tóm lại:

          “Văn bản cam kết tài sản riêng” hay “Cam kết tài sản riêng” là một văn bản được lập theo thói quen và cách hiểu nôm na, phổ thông của nhiều người với mục đích chứng minh tài sản (chủ yếu là bất động sản) là thuộc sở hữu riêng của một người trong thời kỳ hôn nhân. Vì nó rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi theo kiểu “cho đủ thủ tục” để được các cơ quan quản lý nhà nước chấp thuận khi đăng ký quyền sở hữu bất động sản, dẫn đến việc người ta mặc định như một văn bản mẫu để giải quyết một vấn đề cụ thể. Nếu văn bản đó không được công chứng thì vấn đề đúng sai về mặt hình thức hoặc việc chứng minh tính xác thực, hợp pháp của văn bản tại thời điểm giao kết văn bản đó không được đặt ra. Tuy nhiên, trong lĩnh vực công chứng, khi xem xét cụ thể, cặn kẽ các vấn đề và đối chiếu với quy định của pháp luật thì chúng ta thấy rằng việc công chứng và sử dụng các loại văn bản cam kết nêu trên tồn tại nhiều sai lệch về pháp lý.

          Công Chứng Văn Bản Thỏa Thuận Tài Sản Vợ Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân

          I – CÁC LOẠI VĂN BẢN THỎA THUẬN TÀI SẢN VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

          Văn bản thỏa thuận chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân;

          Văn bản thỏa thuận chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân;

          Văn bản thỏa thuận nhập tài sản riêng của vợ/chồng vào tài sản chung;

          Văn bản sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.

          – Sổ hộ khẩu;

          – Giấy đăng ký kết hôn của người vợ/chồng;

          – Trường hợp tài sản thỏa thuận là tài sản riêng thì phải có một trong các giấy tờ sau:

          + Văn bản xác nhận tại thời điểm xác lập quyền sở hữu, sử dụng tài sản người vợ/người chồng chưa đăng ký kết hôn lần nào hoặc đã đăng ký kết hôn nhưng thời điểm đó đã ly hôn hoặc đã đăng ký kết hôn nhưng nhưng người vợ/người chồng của người đó đã chết trước thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản;

          + Văn bản thỏa thuận về việc tài sản là tài sản riêng của người vợ/chồng hoặc Văn bản về việc được tặng cho riêng, thừa kế riêng.

          + Giấy tờ khác chứng minh là tài sản riêng.

          2. Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Đăng ký xe ô tô; sổ tiết kiệm, cổ phiếu,……..

          3. Trường hợp tài sản là nhà đất đủ điều kiện tách thửa: phải có thêm các giấy tờ sau:

          – Công văn chấp thuận về việc tách thửa của Văn phòng đăng ký đất đai/Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai;

          – Hồ sơ kỹ thuật thửa đất, hồ sơ hiện trạng nhà (nếu có).

          Bước 1:Người yêu cầu công chứng xuất trình các giấy tờ nêu trên cho Công chứng viên và trình bày các nội dung các bên đã thỏa thuận.

          – Nếu người yêu cầu công chứng đã tự soạn thảo Văn bản thì nộp văn bản đó cho Công chứng viên. Công chứng viên sẽ kiểm tra tính chính xác và hợp pháp của văn bản. Nếu văn bản đạt yêu cầu thì Công chứng viên sẽ hướng dẫn các bên ký. Trường hợp văn bản không đạt yêu cầu, công chứng viên sẽ bổ sung, sửa đổi. Khi đạt yêu cầu, công chứng viên sẽ hẹn thời gian ký Văn bản.

          – Trường hợp người yêu cầu công chứng chưa soạn thảo văn bản, Công chứng viên soạn thảo văn bản và hẹn thời gian ký.

          Bước 3: Người yêu cầu công chứng đọc Văn bản thỏa thuận hoặc nghe Công chứng viên đọc lại. Khi đồng ý với nội dung thì ký vào văn bản trước mặt Công chứng viên.

          Bước 4:Công chứng viên ký công chứng Văn bản thỏa thuận.

          III – KÝ NGOÀI TRỤ SỞ

          Bước 5: Người yêu cầu công chứng nộp lệ phí và đóng dấu của cơ quan Công chứng.

          Nếu người yêu cầu công chứng có yêu cầu ký ngoài trụ sở Cơ quan Công chứng thì ghi vào phiếu yêu cầu công chứng nêu rõ: lý do, địa điểm, thời gian để Công chứng viên sắp xếp giải quyết.

          IV – THỦ TỤC SAU CÔNG CHỨNG

          Công chứng viên sẽ hướng dẫn các bên ký. Trường hợp văn bản không đạt yêu cầu, công chứng viên sẽ bổ sung, sửa đổi. Khi đạt yêu cầu, công chứng viên sẽ hẹn thời gian ký Văn bản.

          Người vợ/người chồng thực hiện thủ tục kê khai nghĩa vụ tài chính và thủ tục đăng ký sang tên/đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản theo quy định của pháp luật.

          Phân Biệt Tài Sản Chung Và Tài Sản Riêng Của Hai Vợ Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân?

          1. Phân biệt tài sản chung và tài sản riêng như thế nào ?

          Thưa Luật sư, Em và chồng em đã cãi nhau về vấn đề tài sản, hiện tại vấn chưa đi đến thống nhất, vậy mong Luật sư giải đáp giúp về việc phân biệt như thế nào là tài sản chung của hai vợ chồng? Như thế nào là tài sản riêng của hai vợ chồng?

          Trong thời khi hôn nhân có rất nhiều những tài sản được hình thành rất khó để xác định được hết những tài sản đó là tài sản chung hoặc tài sản riêng là của vợ hay là của chồng. Theo quy định của pháp Luật muốn chứng minh tài sản này là tài sản chung hay là tài sản riêng bạn cần có bằng chứng để chứng minh, cụ thể như sau:

          – Tài sản riêng của hai vợ chồng:

          Căn cứ theo điều 43, Luật hôn nhân và gia đình 2014, quy định về tài sản riêng như sau:

          Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

          1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

          2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

          Căn cứ theo Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.

          Điều 11. Tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật

          1. Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

          2. Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.

          3. Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.

          Như vậy những tài sản tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án…

          Vậy những tài sản được quy định nêu trên sẽ được cho là tài sản riêng của vợ hoặc của chồng.

          – Tài sản chung của hai vợ chồng:

          Căn cứ theo điều 33, Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

          Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

          1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

          Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

          2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

          3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

          Điều 9. Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân

          1. Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này.

          2. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.

          3. Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

          Điều 10. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng

          1. Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình.

          2. Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình.

          Như vậy để những tài sản được hình thành trong quá trình hôn nhân(trừ trường hợp quy định là tài sản riêng) thì được cho là tài sản chung.

          Trong trường hợp của bạn, bạn cần xem các tài sản đó là tài sản gì và đối chiếu theo quy định nêu trên xem đó là tài sản riêng hay là tài sản chung.

          2. Cách chứng minh tài sản riêng khi ly hôn ?

          Xin chào luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng kết hôn năm 2010, cả hai đều có thu nhập ổn định. Trước khi cưới chồng tôi được cha mẹ ruột cho 1 căn nhà đứng tên chồng tôi, sau khi cưới vợ chồng tôi cùng sống chung trong căn nhà này. Một thời gian sau căn nhà xuống cấp nghiêm trọng nên vợ chồng tôi đã tu sửa lại bằng số tiền dành dụm của hai vợ chồng tổng cộng là 250 triệu đồng. Hiện chúng tôi có 2 đứa con, con gái lớn 5 tuổi và bé trai 18 tháng tuổi.

          Do bất đồng trong cuộc sống và mâu thuẩn trong giáo dục con cái nên chúng tôi quyết định ly hôn. Khi giải quyết tài sản sau ly hôn chồng tôi đòi lại căn nhà vì anh ấy nói rằng đó là nhà cha mẹ anh ấy cho riêng anh ấy nên tôi không có quyền lợi gì với căn nhà đó cả. Còn về con cái thì anh ấy giành nuôi con trai 18 tháng tuổi của tôi vì anh ấy nói rằng con trai là phải theo cha ?

          Tôi không đồng ý với cách giải quyết của anh ấy nhưng không hiểu nhiều về luật pháp nên nhờ luật sư tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn.

          Trả lời:

          Thứ nhất, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, về vấn đề tài sản của vợ, chồng khi ly hôn như sau:

          Điều 33 quy định về tài sản chung của vợ chồng:

          1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

          Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

          2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

          3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

          Theo quy định này, tài sản vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được cho là tài sản chung của vợ, chồng. Trường hợp muốn xác định tài sản là tài sản riêng thì phải chứng minh.

          Điều 43 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

          1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

          2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

          Việc chia tài sản của vợ chồng giải quyết như sau:

          – Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

          – Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

          – Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

          + Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

          + Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

          + Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

          + Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

          – Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

          – Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

          – Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

          Như vậy, trong trường hợp của bạn, ngôi nhà mà gia đình bạn đang sống là do chồng bạn được tặng từ bố, mẹ chồng trước khi kết hôn và hiện vẫn đang đứng tê chồng bạn, do đó, căn cứ quy định trên, ngôi nhà đó sẽ thuộc tài sản riêng của chồng bạn khi ly hôn. Tuy nhiên, ngôi nhà đó sau một thời gian đã xuống cấp và được tu sửa lại bằng số tiền dành dụm của hai vợ chồng tổng cộng là 250 triệu đồng. Nên phần giá trị ngôi nhà đã được tu sửa trong thời kỳ hôn nhân được tính là tài sản chung của gia đình, nhưng trong trường hợp này bạn phải chứng minh được công sức đóng góp của mình vào việc tu sửa ngôi nhà đó, cụ thể là chứng minh được bạn góp tiền của mình vào việc sửa chữa căn nhà, và nhờ vào việc tu sửa đó mà giá trị ngôi nhà đó tăng lên. Khi xác định được công sức đóng góp của bạn vào ngôi nhà thì khi ly hôn bạn có quyền được chia phần giá trị đã tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, ngôi nhà vì là tài sản riêng của chồng bạn nên ngôi nhà đó sau ly hôn vẫn thuộc sở hữu của chồng bạn, nhưng chồng bạn phải thanh toán cho bạn phần giá trị bạn đã đóng góp vào việc tu sửa ngôi nhà.

          – Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

          – Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

          Căn cứ quy định trên, trong trường hợp của bạn, bạn có một bé gái 5 tuổi và một bé trai 18 tháng tuổi thì đối với bé 18 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi, còn đối với bé gái 5 tuổi thì quyền nuôi con của cha và mẹ là ngang nhau. Nếu hai vợ, chồng không thỏa thuận được người nuôi con thì yêu cầu Tòa án giải quyết, và khi đó Toà án sẽ căn cứ vào các yếu tố như: điều kiện kinh tế ( thu nhập, tài sản,..); môi trường sống; đặc điểm gia đình, truyền thống giáo dục; quỹ thời gian dành cho con của mỗi người,….để quyết định giao con cho ai trực tiếp nuôi sau khi ly hôn. Và muốn dành quyền nuôi con thì bạn phải chứng minh được điều kiện của mình tốt hơn chồng để đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

          3. Phân chia tài sản riêng của vợ chồng sau khi ly hôn ?

          Thưa luật sư, em có vài thắc mắc, mong luật sư giải đáp giúp em ạ:

          1. Em đã lấy vợ, ba mẹ em cho em một khoản tiền tương đối lớn, em muốn gửi tiết kiệm, đứng tên em. Nếu sau này, vợ chồng em có “trục trặc” gì thì em có phải chia đôi khoản tiền ấy cho vợ em không ạ ?

          2. Em dự định mua một lô đất bằng số tiền ba mẹ em cho, em có thể đứng tên sổ đỏ môt mình không ạ, hay bắt buộc phải đứng tên cả hai vợ chồng. Sau này, vợ chồng có “trục trặc”, em có phải chia đôi giá trị lô đất cho vợ em không ạ?

          4. Quyền định đoạt tài sản riêng trong thời kì hôn nhân ?

          Thưa luật sư: tôi và chồng tôi sống được gần 5 tháng nhưng do ba mẹ tôi ly dị và mẹ tôi có chồng khác gần nhà ba mẹ chồng tôi . Và chồng tôi ghét chồng của mẹ tôi và cấm không cho tôi được gặp mẹ và đã nhiều lần tôi khuyên anh thì vợ chồng cãi nhau và nhiều lần anh kêu tôi biến về quê sống đi thậm chí anh còn quá đáng đến mức vàng của gia đình tôi thì anh bán đi mà không nói cho tôi biết. Xin luật sư cho biết là tôi có lấy lại được số vàng đó không ?

          Được biết hiện nay , vợ chồng bạn có mâu thuẫn và xung đột trong gia đình xảy ra . Và chồng bạn đã bán số vàng của gia đình bạn. Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Tài sản riêng của vợ chồng :

          ” 1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

          2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

          Theo đó vàng là tài sản tặng cho của gia đình bạn cho bạn , nếu vợ chồng bạn không có thỏa thuận chung về việc gộp số vàng này vào tài sản chung của 2 vợ chồng thì số vàng này được phân định vào tài sản riêng của bạn , bạn có quyền sở hữu và định đoạt với số vàng. Theo đó bạn hoàn toàn có thể đòi lại số vàng đó.

          5. Quy định về tài sản chung, tài sản riêng trong hôn nhân ?

          Xin chào luật sư, Trước khi kết hôn tôi có đứng tên một miếng đất và một miếng đất tôi với vợ đứng tên, vậy xin hỏi miếng đất tôi đứng tên có phải là tài sản riêng của tôi hay không còn miếng đất tôi với vợ đứng tên có phải là tài sản chung hay không sau khi kết hôn. Trong thời gian kết hôn tôi có quyền bán miếng đất mà tôi đứng tên mà không cần vợ đồng ý có được không, và có vi phạm về luật không ?

          Tôi xin chân thành cảm ơn!

          Thứ nhất, Khái niệm tài sản chung:

          ” Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

          1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

          Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

          2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

          3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

          – Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

          Thứ hai, Khái niệm thời kỳ hôn nhân:

          Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân

          13. Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”

          – Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

          Như vậy:

          – Từ hai khái niệm ở trên có thể thấy rằng mảnh đất thứ nhất của bạn được hình thành trước thời kỳ hôn nhân, nếu không có sự thỏa thuận về việc hợp nhất tài sản riêng vào tài sản chung thì đó là tài sản riêng của bạn (trừ những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng này tạo ra trong thời kỳ hôn nhân) nên bạn có thể được quyền thực hiện các quyền của người sử dụng đất như: Mua bán, tặng cho, thừa kế… mà không phải có ý kiến đồng ý của vợ anh.

          – Đối với miếng đất thứ hai, nếu không có cơ sở chứng minh đó là tài sản riêng của bạn, đồng thời trên giấy chứng nhận quyền sở hữu đứng tên cả 2 người hình thành trong thời kỳ hôn nhân và không có văn bản thỏa thuận xác nhận là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thì được xác định là tài sản chung.

          Chứng Minh Tài Sản Riêng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân

          31/08/2020

          Sau khi kết hôn, nhiều cặp vợ chồng không biết xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng của vợ, chồng. Khi vợ chồng có phát sinh tranh chấp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của vợ chồng.

          + Cách xác định tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;

          + Cách xác định tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân;

          + Nguyên tắc chia tài sản khi vợ chồng có tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng;

          2. Chứng minh tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân

          Câu hỏi: Thưa luật sư, nhơ tư vấn giúp tôi quy định về việc chứng minh tài sản trong hôn nhân như sau: Tôi năm nay 29 tuổi, đã lập gia đình được 1 năm và chưa có con. Tôi quyết định mua miếng đất với giá trị 730 triệu trả 330 triệu bằng tiền mặt. Tiền này là tiền riêng của tôi tích luỹ được từ thu nhập tiền lương.

          Và được thanh toán thông qua ngân hàng. Tôi có thể chứng minh được thu nhập này hoàn toàn là nguồn tiền của tôi bằng cách nhờ ngân hàng in sao kê tài khoản để làm bằng chứng chứng minh không? 400 triệu còn lại tôi làm hợp đồng vay ngân hàng và hằng tháng tôi cũng tự ra ngân hàng để nộp. Tuy nhiên, khi đăng bộ sang tên GCN QSDD thì vẫn có tên 2 vợ chồng tôi. Do vợ chồng tôi đã có tài sản nhà khác nên chông tôi không muốn đi vay và trả nợ để mua miếng đất này nên anh ấy không muốn đóng góp tiền để trả nợ. Vì ý định mua miếng đất này là của tôi nên tôi phải tự trả nợ. Vì là phụ nữ nên tôi rất lo lắng, mong anh/chị tư vấn làm sao để tôi có thể chứng minh được tài sản này là của riêng tôi vì khi yêu cầu chồng tôi ký văn bản thoả thuận thì tôi sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình hiện tại. Mà xác định là tài sản chung thì anh ấy lại không đóng góp và anh ấy nói rõ nếu tôi mua thì tự trả nợ một mình. Cũng nói thêm là cả 2 vợ chồng tôi đều có thu nhập và tài chính ổn định.

          Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Tài sản chung của vợ chồng như sau:

          “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

          Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

          “1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

          Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn mua mảnh đất đó trong thời kỳ hôn nhân bằng tiền lương bạn góp được thông qua tài khoản ngân hàng. Căn cứ vào các quy định trên thì tiền lương của bạn là thu nhập lao động trong thời kỳ hôn nhân, mảnh đất đó cũng được mua trong thời kỳ hôn nhân nên số tiền lương và mảnh đất đó đều là tài sản chung của vợ chồng.

          Mặc dù tiền bạn gửi vào thẻ nhưng số tiền đó lại là thu nhập lao động trong thời kỳ hôn nhân nên việc bạn nhờ ngân hàng in sao kê tài khoản không phải là chứng cứ để chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của bạn.

          Vì vậy, trường hợp của bạn không có chứng cứ nào để chứng minh tài sản đó là tài sản riêng của bạn. Trường hợp của bạn, bạn nên thỏa thuận với chồng cùng nhau trả nợ hoặc bạn và chồng làm văn bản thỏa thuận tài sản đó là tài sản riêng của bạn hoặc bạn có thể thỏa thuận với chồng bạn để có thể chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

          Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

          “1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

          Theo đó, bạn có thể thỏa thuận chia một phần tài sản chung. Lúc đó, phần tài sản được chia sẽ là tài sản riêng của bạn.

          Câu hỏi thứ 2 – Xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng như thế nào?

          Em Chào luật sư.Em có vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn ạ.Em lấy chồng được 10 năm.năm 2016 bố chồng em có chia tài sản thừa kế cho chồng em.Vậy em hỏi la em có cùng đưng tên trên bìa đất ko ạ và tổng diện tích trên bìa là 900m2, chia cho 2 anh em, nhưng vấn đề là đát ở cố định 1 góc bây giờ mà chia đôi thì 1 bên có đất ở 1 bên chúng tôi muốn sang phần đất ở ra 2 bài thì thủ tục như thế nào và phí ra sao ạ.Em cảm ơn luật sư.

          Trả lời:

          Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

          “Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

          Theo đó, nếu tài sản mà chồng chị được thừa kế riêng thì sẽ là tài sản riêng. Trừ trường hợp vợ chồng chị có thỏa thuận về việc nhập tài sản riêng đó vào tài sản chung theo Điều 33 Luật HN&GĐ 2014:

          “Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

          Chị tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình!

          Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Lưu Ý Khi Công Chứng Văn Bản Xác Lập Tài Sản Riêng Của Vợ, Chồng Trong Thời Kỳ Hôn Nhân – trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!