Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất Liên Quan Đến Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 42 / 2023 # Top 21 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất Liên Quan Đến Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 42 / 2023 # Top 21 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất Liên Quan Đến Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 42 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ngày 21/6/2017, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 14 đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập (gọi tắt là Nghị quyết số 42/2017/QH14). Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/8/2017 và được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày có hiệu lực. Ngày 19/7/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 32/CT-TTg triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội.

– Về nguyên tắc xử lý nợ xấu theo quy định tại Điều 3 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định như sau:

+ Phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống.

+ Không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu.

+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

– Về nợ xấu được quy định tại Điều 4 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 bao gồm:

+ Khoản nợ được hình thành và xác định là nợ xấu trước ngày 15 tháng 8 năm 2017.

+ Khoản nợ được hình thành trước ngày 15 tháng 8 năm 2017 và được xác định là nợ xấu trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực.

Việc xác định khoản nợ là nợ xấu căn cứ vào Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này. Trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, sửa đổi Phụ lục theo đề nghị của Chính phủ và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản khoản nợ là nợ xấu khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại Nghị quyết này.

– Về bán nợ xấu và tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 5 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 quy định như sau:

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu bán nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu công khai, minh bạch, theo quy định của pháp luật; giá bán phù hợp với giá thị trường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn dư nợ gốc của khoản nợ.

Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 trên thực tế còn thấy một số vấn đề tồn tại, vướng mắc cần kiến nghị, đề xuất như sau:

Thứ nhất, trường hợp cá nhân, tổ chức vay tiền của tổ chức tín dụng và bảo đảm nghĩa vụ thanh toán bằng tài sản thông qua hợp đồng thế chấp tài sản, các hợp đồng này đều tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật. Ngoài việc vay tiền của tổ chức tín dụng trên các cá nhân, tổ chức này còn vay tiền của các cá nhân khác bên ngoài nhưng không có tài sản bảo đảm hoặc còn có nghĩa vụ phải thanh toán các khoản nợ khác. Khi đến hạn thanh toán nợ vay cho tổ chức tín dụng thì các cá nhân, tổ chức vay tiền này không thanh toán được nên tổ chức tín dụng xác định các khoản nợ này là nợ xấu và áp dụng các quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 để xử lý thu hồi nợ. Đồng thời cá nhân, tổ chức vay tiền trên cũng không thanh toán được các khoản nợ của các cá nhân khác bên ngoài nên những cá nhân này khởi kiện đến Tòa án yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác định được tài sản mà người có nghĩa vụ là tài sản đã thế chấp cho tổ chức tín dụng trên có giá trị lớn hơn nhiều so với tổng dư nợ của người có nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng. Điều này có nghĩa là khi xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng xong thì giá trị tài sản này vẫn còn rất lớn để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của người có nghĩa vụ cho các cá nhân mà người này có nghĩa vụ thanh toán theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Tuy nhiên, theo quy định của Nghị quyết 42/2017/QH14 thì trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của người có nghĩa vụ, Cơ quan thi hành án dân sự cũng không được kê biên tài sản để thi hành án đối với người có nghĩa vụ phải thi hành án nếu bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bởi vì tài sản của người có nghĩa vụ này đã được thế chấp cho các tổ chức tín dụng. Như vậy, khi thực hiện theo Nghị quyết 42/2017/QH14 thì các tổ chức tín dụng và người vay tiền có thế chấp tài sản thỏa thuận bằng văn bản giao tài sản tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng xử lý để thu hồi nợ xấu. Do tài sản thế chấp có giá trị lớn hơn nhiều so với tổng dư nợ của người có nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng nên sau khi bán tài sản thế chấp và tổ chức tín dụng đã thu hồi đầy đủ các khoản nợ thì giá trị tài sản còn thừa lại người thế chấp tài sản sẽ được nhận. Sau khi nhận tài sản còn thừa lại, người này sẽ không thi hành án nghĩa vụ trả tiền theo các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật khác. Như vậy, trong trường hợp này các tổ chức tín dụng sẽ thu hồi nợ xấu đầy đủ nhưng các cá nhân khác đã khởi kiện và đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà người có nghĩa vụ đã nhận lại tài sản còn thừa khi bán tài sản thế chấp chây ỳ, cố tình trốn tránh, tẩu tán tài sản, không chịu thi hành án thì các bản án, quyết định trên rất khó thi hành, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án khác, gây bức xúc trong dư luận.

Thứ hai, cũng như trường hợp trên, khi xử lý nợ xấu các tổ chức tín dụng và người vay tiền có thế chấp tài sản thỏa thuận bằng văn bản giao tài sản thế chấp cho tổ chức tín dụng xử lý để thu hồi nợ xấu và tài sản thế chấp có giá trị thực tế lớn hơn nhiều so với tổng dư nợ của người có nghĩa vụ đối với tổ chức tín dụng. Nếu việc xử lý bán tài sản thế chấp không thực hiện công khai thông tin, minh bạch, theo quy định của pháp luật; giá bán phù hợp với giá thị trường theo đúng quy định tại Điều 5; khoản 3, khoản 4 Điều 7  Nghị quyết 42/2017/QH14 thì rất dễ bị người có tài sản bảo đảm lợi dụng, nhờ người thân mua tài sản với giá thấp hơn giá thực tế để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và thi hành án. Điều này cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án khác, gây bức xúc trong dư luận.

Từ những phân tích, đánh giá trên chúng tôi xin kiến nghị như sau:

Thứ nhất, khi các tổ chức tín dụng xử lý bán tài sản thế chấp để xử lý nợ xấu phải thực hiện công khai thông tin, minh bạch, theo quy định của pháp luật; giá bán phù hợp với giá thị trường theo đúng quy định tại Điều 5; khoản 3, khoản 4 Điều 7  Nghị quyết 42/2017/QH14, đồng thời bổ sung quy định việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ xấu phải được Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tổ chức bán đấu giá công khai theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thứ hai, nếu khi các tổ chức tín dụng bán tài sản bảo đảm để xử lý nợ xấu mà người có tài sản bảo đảm ngoài khoản nợ đối với các tổ chức tín dụng còn có các khoản nợ và nghĩa vụ khác đang được Tòa án thụ lý giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đang được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành thì các tổ chức tín dụng cần thông tin cho cơ quan Tòa án và Thi hành án dân sự được biết để phối hợp giải quyết. Đối với Cơ quan, tổ chức bán đấu giá, sau khi tổ chức bán đấu giá tài sản bảo đảm xong và thanh toán toàn bộ dư nợ cho các tổ chức tín dụng, nếu giá trị tài sản đã bán còn thừa thì không được chi trả cho người có tài sản bảo đảm mà thông báo cho cơ quan Tòa án, Thi hành án dân sự biết để tiến hành các biện pháp được pháp luật quy định để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án như áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (đối với Tòa án) hoặc kê biên tài sản của người phải thi hành án (đối với cơ quan thi hành án dân sự) theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án khác, đồng thời ngăn ngừa người có nghĩa vụ thi hành án có tài sản nhưng cố tình tẩu tán, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

Tác giả bài viết: Đinh Tấn Long

Phó Chánh án TAND thành phố Tam Kỳ

Hướng Dẫn Một Số Nội Dung Liên Quan Đến Triển Khai Nghị Quyết Số 42/2017/Qh14 / 2023

Ngày 15/8/2017, Tổng cục thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn 3022/TCTHADS-NV1 hướng dẫn các cơ quan thi hành án dân sự các cấp thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 về xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng.

Theo đó, Công văn hướng dẫn một số nội dung sau:

Thứ nhất, về nguyên tắc xác định các khoản nợ xấu (Điều 4)

Tại Điều 4 Nghị quyết số 42/2017/QH14 đã xác định khoản nợ xấu gồm: Khoản nợ được hình thành và xác định là nợ xấu trước ngày 15/8/2017, khoản nợ được hình thành trước ngày 15/8/2017 và được xác định là nợ xấu trong thời gian Nghị quyết có hiệu lực.

Do đó, tổ chức tín dụng có trách nhiệm xác định bằng văn bản về khoản nợ tại các bản án, quyết định của Tòa án là khoản nợ xấu để cơ quan THADS có cơ sở áp dụng các quy định của Nghị quyết só 42/2017/QH14 trong qua trình tổ chức thi hành án.

Thứ hai, về quyền thu giữ tài sản bảo đảm (Điều 7)

Theo quy định tại Điều 7 của Nghin quyết số 42/2017/QH14, tổ chức tín dụng không được quyền thu giữ tài sản bảo đảm đối với những tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật. Do đó, trong trường hợp cơ quan THADS đang kê biên tài sản bảo đảm hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thì tổ chức tín dụng cũng không được quyền thu giữ tài sản bảo đảm.

Đối với trường hợp đương sự có thỏa thuận về việc tự tổ chức thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ các quy định pháp luật về thi hành án dân sự để thực hiện.

Thứ ba, về việc kê biên tài sản bảo đảm của bên phải thi hành án (Điều 11)

Từ ngày 15/8/2017, cơ quan THADS chỉ kê biên tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau: (i) để thi hành bản án, quyết định của Tòa án về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; (ii) có sự đồng ý kê biên bằng văn bản của tổ chức tín dụng.

Đối với trường hợp cơ quan THADS đã thực hiện việc kê biên theo quy định tại Điều 90 Luật Thi hành án dân sự trước ngàu 15/8/2017 thì vẫn tiếp tục tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Thứ tư, về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm (Điều 12)

Từ ngày 15/8/2017, khi thực hiện việc thanh toán khoản tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, cơ quan THADS ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho tổ chức tín dụng sau khi trừ chi phí cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Đối với các nghĩa vụ khác của người phải thi hành án chỉ được thực hiện thanh toán trong trường hợp khoản tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm và chi phí cưỡng chế.

Triển Khai Nghị Quyết Số 42 / 2023

Ngày 9-4-2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, với nguyên tắc thực hiện căn bản là phải bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch… Báo Nam Định có cuộc trao đổi với đồng chí Hoàng Đức Trọng, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội xung quanh vấn đề này.

Phóng viên: Nghị quyết số 42-NQ/CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, xin đồng chí cho biết những đối tượng nào sẽ được thụ hưởng?

Đồng chí Hoàng Đức Trọng: Ngày 9-4, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Nghị quyết số 42-NQ/CP về các biện pháp và gói hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 nhằm chia sẻ khó khăn cùng nhân dân cả nước, hỗ trợ

Hướng dẫn thủ tục đăng ký hưởng chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động tại Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh (Sở Lao động – Thương binh và Xã hội).

Người sử dụng lao động có khó khăn về tài chính và đã trả trước tối thiểu 50% lương ngừng việc cho người lao động theo Khoản 3 Điều 98 của Bộ luật Lao động trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020 thì được vay không có tài sản đảm bảo tối đa 50% tiền lương tối thiểu vùng đối với từng người lao động theo thời gian trả lương thực tế nhưng không quá 3 tháng với lãi suất 0%, thời hạn vay tối đa 12 tháng tại Ngân hàng Chính sách xã hội để trả phần lương còn lại và giải ngân trực tiếp hàng tháng đến người bị ngừng việc. Hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm tạm ngừng kinh doanh từ ngày 1-4-2020 được hỗ trợ 1 triệu đồng/hộ/tháng theo hàng tháng tùy theo tình hình thực tế của diễn biến dịch nhưng không quá 3 tháng.

Phóng viên: Xin đồng chí cho biết tình hình lao động, doanh nghiệp, nhóm người có công, nhóm người xã hội bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19; dự toán số kinh phí 7 nhóm được hỗ trợ tại tỉnh ta?

Đồng chí Hoàng Đức Trọng: Với tinh thần chủ động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tiến hành rà soát, nắm nhanh tình hình lao động, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và các vấn đề an sinh xã hội.

Về hộ kinh doanh cá thể, theo số liệu cung cấp nhanh của Cục Thuế tỉnh: Tổng số hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm toàn tỉnh là 12.500-13.000 hộ. Trong đó có 4.875-5.070 hộ tạm ngừng kinh doanh theo Chỉ thị số 15/CT-TTg (số tiền ước tính mỗi tháng mỗi hộ được chi trả 1 triệu đồng/hộ, tổng là: 4.875 triệu đồng đến 5.070 triệu đồng).

Tại thời điểm tháng 4-2020, toàn tỉnh có 46.493 người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng (trong đó: 32.403 ngươ ̀ i là đối tươ ̣ ng hươ ̉ ng trư ̣ c tiếp; 14.090 ngươ ̀ i là thân nhân người có công gồm: Trơ ̣ cấp tuất các diện; con đẻ của ngươi hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và ngươ ̀ i phục vụ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương bệnh binh, lão thành cách mạng, tiền khơ ̉ i nghĩa, chất độc hóa học hàng tháng). Dự kiến kinh phí hỗ trợ (như Nghị quyết là 500 nghìn đồng/người/tháng cho 03 tháng) khoảng 69.739.500.000 đồng (gần 70 tỷ đồng). Đối tượng bảo trợ xã hội đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, toàn tỉnh có khoảng 79.925 đối tượng bảo trợ xã hội; dự kiến kinh phí hỗ trợ như Nghị quyết khoảng 261 tỷ (500 nghìn đồng/người/tháng cho 3 tháng). Thứ bảy, hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định: toàn tỉnh có khoảng 9.443 hộ; 37.609 hộ cận nghèo (trung bình 4 khẩu/hộ). Dự kiến kinh phí hỗ trợ cho 3 tháng khoảng 112 tỷ đồng.

Phóng viên: Xin đồng chí cho biết những đề xuất của ngành để triển khai Nghị quyết với nguyên tắc căn bản là phải bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch?

Đồng chí Hoàng Đức Trọng: Để thực hiện Nghị quyết, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất: UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thành phố chủ động, tích cực vào cuộc triển khai thực hiện các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch COVID-19 theo chính sách của Trung ương ban hành.

Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023

Sáng ngày 18/01, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội thảo “Triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: Bối cảnh, cơ hội, thách thức và giải pháp”. Thứ trưởng Trần Quý Kiên chủ trì Hội thảo.

Tham dự Hội thảo có đại diện cho các ban, bộ, ngành Trung ương; các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý.

Ngày 22/10/2018, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là “đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển”. Chiến lược cũng đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cho từng lĩnh vực: về kinh tế biển; về xã hội; về khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển; về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng cũng như các chỉ tiêu tổng hợp.

Thứ trưởng Trần Quý Kiên phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, Thứ trưởng Trần Quý Kiên nhấn mạnh, đây là một chiến lược tổng thể, toàn diện, là nền tảng cho việc phát triển kinh tế biển, quản lý biển, hải đảo của nước ta trong giai đoạn tới với những khâu đột phá hết sức quan trọng và các nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính chiến lược vừa mang tính cụ thể để đạt được các mục tiêu đề ra.

Thứ trưởng cho biết, thực hiện Nghị quyết, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết và xây dựng, tổ chức thực hiện Chương trình, kế hoạch hành động để cụ thể, thể chế hóa Nghị quyết. Chính phủ cũng đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết.

Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức Hội thảo hôm nay để trao đổi các nội dung về: Khung Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ; Bối cảnh, cơ hội, thách thức khu vực và thế giới đối với việc thực hiện Chiến lược; Vấn đề phát triển kinh tế bền vững và bảo vệ môi trường – sinh thái tại Biển Đông. “Hội thảo này có ý nghĩa lớn, góp phần quan trọng vào thành công của việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW.” – Thứ trưởng Trần Quý Kiên khẳng định.

Một là, cụ thể hóa các mục tiêu của Chiến lược; phương pháp, tiêu chí, cách thức tiến hành xác định các nhiệm vụ, lộ trình thực hiện một cách cụ thể, khả thi theo các giai đoạn đến năm 2025 và đến năm 2030;

Hai là, nhận diện đầy đủ bối cảnh, làm rõ các cơ hội và thách thức khu vực và thế giới, trên cơ sở đó để có thể đề xuất các giải pháp hợp lý, khả thi nhằm thực hiện Chiến lược;

Ba là, phân tích, đánh giá về triển khai thực hiện các khâu đột phá phục vụ xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm, trước mắt là phát triển mô hình tăng trưởng xanh, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong ngành nuôi biển – một ngành kinh tế biển mới nổi và trong ứng phó các thách thức an ninh môi trường biển Đông.

Toàn cảnh Hội thảo

Trong thời gian tới, trên cơ sở tổng hợp các ý kiến tham luận, trao đổi của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam sẽ tập trung trí tuệ, nguồn lực để xây dựng Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW đảm bảo tiến độ và chất lượng; đồng thời, hoàn thiện bộ tiêu chí làm cơ sở lựa chọn các nhiệm vụ, đề án, dự án, đề tài để đưa vào Kế hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm.

Nhân dịp Hội thảo, thay mặt lãnh đạo Bộ, Thứ trưởng Trần Quý Kiên đã trao tặng Bằng khen Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các chuyên gia đã có những đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng Nghị quyết số 36-NQ/TW.

BBT 

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất Liên Quan Đến Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 42 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!