Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023 # Top 20 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 12/2022 # Một Số Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trang chủ ” Khoa giáo – Giáo dục LLCT ” Tin tức hoạt động

Trong những năm qua, được sự quan tâm, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh việc đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Các nội dung, nhiệm vụ của Nghị quyết 36-NQ/TW (khóa XI) về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế đã được các cơ quan, đơn vị xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn. Hoạt động cải cách hành chính được tăng cường gắn với hoạt động chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh tới cơ sở đạt hiệu quả cao trong công việc, tiết kiệm thời gian, tài chính và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi đến liên hệ công việc.

Công tác phát triển nguồn nhân lực được quan tâm, đảm bảo ngành chuyên môn ở tỉnh có cán bộ phụ trách công nghệ thông tin và 100% cơ quan cấp huyện, thành phố có cán bộ phục vụ công tác chuyên ngành CNTT. Công tác đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực CNTT được tỉnh quan tâm và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, tổng số lượt cán bộ được đào tạo về CNTT trên 3.500 lượt người; đã tổ chức 05 lớp đào tạo về an toàn thông tin cho trên 250 lượt/cán bộ, công chức; tổ chức 06 lớp tập huấn các quy định, chuyên môn, nghiệp vụ về an toàn, an ninh thông tin mạng cho cán bộ làm chuyên trách về CNTT của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố. Đã tổ chức Hội thảo về “An toàn thông tin và các biện pháp phòng chống tấn công mạng” cho đối tượng là thành viên Đội ứng cứu sự cố an thông tin mạng của tỉnh. Ngoài ra các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh hằng năm đào tạo nguồn nhân lực CNTT cho khoảng 1.000 sinh viên/năm. Ngành giáo dục và đào tạo tỉnh đã đẩy mạnh công tác giảng dạy tin học trong các nhà trường đạt 100% với các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông; 70% các trường tiểu học đã có giáo viên giảng dạy bộ môn tin học.

Cơ sở hạ tầng CNTT không ngừng được củng cố và tăng cường, đã tranh thủ mọi nguồn lực từ các chương trình dự án CNTT của tỉnh, của các tổ chức để đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật thông tin, đảm bảo nhu cầu phát triển các ứng dụng CNTT trong cơ quan, đơn vị. 100% CB, CC, VC các cơ quan, phòng, ban, đơn vị cấp tỉnh và huyện được trang bị máy tính để làm việc; hệ thống mạng của các cơ quan, đơn vị, UBND các cấp trong tỉnh được triển khai đồng bộ và hoạt động tốt, đường truyền ổn định, đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành và hoạt động chuyên môn. Thường xuyên trang bị hệ thống máy tính, các thiết bị số hoá văn bản giấy phục vụ công tác lưu trữ, trao đổi văn bản điện tử trong các cơ quan, đơn vị. Duy trì và vận hành có hiệu quả phần mềm “Một cửa điện tử” dùng chung của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tỉnh; 100% số văn bản xử lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh và các phòng, ban, đơn vị thuộc tỉnh và UBND các huyện, thành phố đều được triển khai trên phần mềm. Tính từ 2014 đến nay việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng thường xuyên được chú trọng và đạt kết quả toàn diện, như: 100% các cơ quan, đơn vị, trên địa bàn tỉnh được kết nối mạng Internet cáp quang. Toàn tỉnh số thuê bao Internet băng rộng cố định là 243.621 thuê bao, đạt tỷ lệ khoảng 20,3 thuê bao/100 dân, Thuê bao Internet băng rộng di động là 626.379 thuê bao, đạt khoảng 52 thuê bao/100 dân. Tỷ lệ người sử dụng Internet đạt gần 65% dân số. Mạng diện rộng dùng riêng (WAN) của tỉnh được thiết lập, kết nối đến 100% các cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trên nền tảng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước được ứng dụng khai thác an toàn, bảo mật. Các hội nghị trực tuyến của tỉnh được đầu tư với công nghệ tiên tiến, trực tiếp truyền dẫn âm thanh, hình ảnh sắc nét từ các hội nghị Trung ương đến cấp tỉnh; từ cấp tỉnh đến cấp huyện, thành phố. Ngoài ra, nhiều cơ quan Đảng, đoàn thể và sở, ngành của tỉnh đã đầu tư hệ thống hội nghị trực tuyến dùng riêng theo đặc thù của các cơ quan, đơn vị.

Cổng thông tin điện tử của tỉnh và 33 cổng thông tin điện tử thành phần của các sở, ban, ngành và các huyện, thành phố được tích hợp trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh thường xuyên cung cấp cơ bản đầy đủ thông tin về tình hình hoạt động của các ngành, lĩnh vực đảm bảo phục vụ người dân và doanh nghiệp khai thác, tìm kiếm thông tin của Nghị định 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Ngoài ra, các cơ quan Đảng, đoàn thể tỉnh cũng đã thiết lập trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin, phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; các hình ảnh, tư liệu quảng bá về tỉnh; công tác chỉ đạo, điều hành của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh đến cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và nhân dân.

Hệ thống thông tin trong tỉnh cơ bản được đảm bảo an toàn, hằng năm tỉnh mở các lớp đào tạo, tập huấn chuyên sâu về An toàn thông tin mạng trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra còn tổ chức lớp tập huấn sử dụng ký số điện tử, phát hành liên thông văn bản và nâng cao hiểu biết về an toàn an ninh thông tin mạng cho cán bộ các phòng, ban chuyên môn các cấp. Trong 05 năm qua, trên địa bàn tỉnh không xảy ra sự cố an ninh thông tin nào. Năm 2014, theo đánh giá xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT và Truyền thông (Chỉ số ICT index) Hưng Yên xếp thứ 49/63 tỉnh, thành phố. Đến năm 2018, theo kết quả xếp hạng về mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT truyền thông được Vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) và Hội Tin học Việt Nam công bố, tỉnh Hưng Yên lần đầu tiên lọt vào top 10 tỉnh, thành phố trong toàn quốc dẫn đầu bảng xếp hạng. Theo đó, Hưng Yên đứng ở vị trí thứ 9, tăng đột phá vượt 22 bậc so với năm trước, với chỉ số ICT index 0,5752.

Ứng dụng CNTT trong các cơ quan, đơn vị được đẩy mạnh, đã tập trung đầu tư, xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu và triển khai ứng dụng chuyên ngành thống nhất trên quy mô toàn tỉnh. Cụ thể: lĩnh vực tài chính, ngân sách (phần mềm quản lý kế toán – tài chính, quản lý tài sản, mua sắm tập trung, cơ sở dữ liệu kế toán xã tập trung, cơ sở dữ liệu về tổng quyết toán ngân sách nhà nước); lĩnh vực tư pháp (văn bản quản lý pháp luật, về công chứng, tư pháp – hộ tịch, lý lịch tư pháp); lĩnh vực giáo dục và đào tạo (quản lý tạo đề thi, tổ chức thi; quản lý học sinh, điểm; quản lý thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT; quản lý thiết bị; quản lý thư viện; phần mềm phổ cập giáo dục – xóa mù chữ); lĩnh vực y tế, bảo hiểm (phần mềm quản lý bệnh viện, khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm; phần mềm giám định bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế). Các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác, như: quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường; cơ sở dữ liệu doanh nghiệp; phần mềm quản lý lĩnh vực lao động, người có công, bảo trợ xã hội; quản lý cấp giấy phép lái xe… được các đơn vị triển khai, thực hiện bước đầu đã đem lại hiệu quả tốt, có ảnh hưởng tích cực đến đông đảo cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thông tin tuyên truyền cho người dân về lợi ích của CNTT trong đời sống hàng ngày còn chưa thường xuyên; tỷ lệ người dân tham gia dịch vụ công trực tuyến còn thấp, nhiều người dân và doanh nghiệp chưa tiếp cận được loại hình dịch vụ này và vẫn có thói quen làm việc trực tiếp tại các cơ quan hành chính. Việc đầu tư kinh phí cho việc tin học hóa, bố trí thời gian, nguồn nhân lực cho ứng dụng CNTT ở số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức. Chưa hoàn thiện, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 phục vụ người dân và doanh nghiệp. Trình độ về ứng dụng CNTT của một số cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ không chuyên trách ở một số huyện, thành phố và các xã, thị trấn còn hạn chế. Nhận thức của một số cơ quan, đơn vị về an toàn, an ninh thông tin còn chưa đầy đủ, còn tâm lý chủ quan, xem nhẹ nên việc chỉ đạo và thực hiện các hoạt động ứng dụng CNTT, giải pháp đảm bảo an toàn, an ninh thông tin mạng tại đơn vị còn bị buông lỏng, chưa thực sự quyết liệt…

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới, các cấp ủy, chính quyền cần quan tâm thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chính, như: Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức và kiến thức về CNTT cho mọi người dân mà nhất là thế hệ trẻ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng từ huyện đến cơ sở, trên Cổng TTĐT và Bản tin nội bộ…; hoàn thiện và cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức CNTT cho cán bộ chuyên trách, phụ trách CNTT tại các cơ quan, đơn vị. Trong đó, cần tập trung đầu tư hạ tầng CNTT đồng bộ ưu tiên cho hoàn thiện các cơ sở hạ tầng CNTT phục vụ công tác cải cách hành chính trong toàn tỉnh và đảm bảo ứng phó với các sự cố an ninh mạng, an ninh thông tin đảm bảo cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn huyện diễn ra an toàn, hiệu quả và bảo mật./.

Trình duyệt của bạn không hỗ trợ HTML5 video.

Trình duyệt của bạn không hỗ trợ HTML5 video. Trình duyệt của bạn không hỗ trợ HTML5 Audio.

Đề Cương Báo Cáo Kết Quả 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023

Sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế (Gửi kèm Công văn số 1536-CV/BTGTU, ngày 19 tháng 02 năm 2019) PHẦN THỨ NHẤT TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 36-NQ/TW I. CÔNG TÁC HỌC TẬP, QUÁN TRIỆT, CHỈ ĐẠO VÀ TUYÊN TRUYỀN

1. Công tác học tập và quán triệt

2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền và trách nhiệm của người đứng đầu

3. Công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức

II. CÔNG TÁC THỂ CHẾ HÓA

1. Các văn bản, cơ chế, chính sách

2. Hướng dẫn, hoàn thiện, bổ sung thực hiện các quy định, tiêu chuẩn và hệ thống tiêu chí đánh giá

3. Cơ chế tài chính

4. Cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển thị trường

5. Chính sách cán bộ

III. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Kết quả đạt được 1.1. Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm thực hiện ba đột phá chiến lược

– Triển khai chương trình cải cách hành chính; xây dựng chính quyền điện tử; triển khai dịch vụ công trực tuyến

– Hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội

– Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

1.2. Xây dựng hạ tầng thông tin của thành phố

– Mức độ hiện đại hóa, chuẩn hóa, đồng bộ, liên thông, đảm bảo khả năng tiếp cận và sử dụng cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân

– Khả năng kết nối băng thông rộng, chất lượng cao đến các xã, phường, thị trấn, cơ sở giáo dục và kết nối quốc tế

– Triển khai và sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan Đảng và Nhà nước

1.3. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các tổ chức, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố

– Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp

– Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị, sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, đơn vị kinh tế nhà nước

– Việc thanh toán không dùng tiền mặt; phát triển thương mại điện tử

1.4. Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố

– Đánh giá việc phát triển, tăng trưởng của công nghiệp công nghệ thông tin

– Sự phát triển các công viên phần mềm, khu công nghệ thông tin tập trung hiện đại

– Hình thành, phát triển các doanh nghiệp công nghệ thông tin

– Thu hút đầu tư của nước ngoài về công nghệ thông tin

1.5. Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin của thành phố

– Số lượng

– Chất lượng

1.6. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia

– Năng lực nghiên cứu, ứng dụng, tiếp thu, làm chủ và sáng tạo về công nghệ thông tin

– Khả năng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, giữ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

2. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân 2.1. Hạn chế, yếu kém 2.2. Nguyên nhân IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Về công tác tổ chức thực hiện

2. Đánh giá tổng thể kết quả, hạn chế và nguyên nhân thực hiện các nội dung của Nghị quyết số 36-NQ/TW

PHẦN THỨ HAI NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ TIẾP TỤC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 36-NQ/TW I. BỐI CẢNH VÀ YÊU CẦU II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP 1. Việc khắc phục hạn chế trong thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp theo Nghị quyết 36-NQ/TW của thành phố

– Về nhận thức và vai trò của cấp ủy

– Về hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật

– Về xây dựng hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin

– Về hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin

– Về phát triển công nghiệp công nghệ thông tin

– Về phát triển ngồn nhân lực phát triển công nghệ thông tin

– Về ứng dụng công nghệ thông tin trong quốc phòng, an ninh

– Về hợp tác quốc tế

2. Đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của thành phố

1. Đề xuất, kiến nghị với Trung ương

2. Đề xuất, kiến nghị với Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố

3. Đề xuất, kiến nghị với các tổ chức, doanh nghiệp

PHỤ LỤC

1. Các văn bản thể chế hóa việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 2014 – 2019

2. Số liệu đầu tư cho công nghệ thông tin giai đoạn 2014 – 2019

3. Số liệu nhân lực công nghệ thông tin giai đoạn 2014 – 2019

4. Các nhiệm vụ, đề án, chương trình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 2014 – 2019

BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY CẦN THƠ

Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 18 / 2023

Một số nhiệm vụ, giải pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII):

– Tiếp tục triển khai, quán triệt, sâu rộng các chủ trương, nghị quyết của Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Kế hoạch số 07-KH/TW của Bộ Chính trị và Chương trình số 27-CTr/TU, Chương trình số 28-CTr/TU của Thành ủy, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị.

– Thực hiện sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đúng quy định, lộ trình theo Kế hoạch của Bộ Chính trị, Chương trình của Thành ủy, phù hợp với đặc điểm tình hình của thành phố, cụ thể:

+ Triển khai và thực hiện có hiệu quả 2 Đề án sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan hành chính (giai đoạn đến năm 2020) và Đề án tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập (giai đoạn đến năm 2020). Tập trung làm tốt công tác chính trị, tư tưởng, bố trí sắp xếp và giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ, công chức, viên chức kịp thời, đúng quy định.

+ Hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy và bố trí kiêm nhiệm người đứng đầu theo mô hình mới.

+ Xây dựng đề án về khung số lượng chức danh cán bộ, công chức cấp xã, xác định vị trí việc làm, tiêu chuẩn của từng chức danh; quy định số lượng cán bộ không chuyên trách xã, phường, thị trấn, ấp, khu vực và thực hiện thống nhất khoán kinh phí chi phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ấp, khu vực.

+ Xây dựng Đề án thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn và ấp, khu vực chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định.

+ Rà soát, đẩy mạnh việc thực hiện tự chủ về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Tổ chức thành lập trường phổ thông có nhiều cấp học, thí điểm mô hình trường chất lượng cao nhằm đẩy mạnh tự chủ về tài chính.

– Triển khai thực hiện chủ trương thí điểm về tổ chức bộ máy và kiêm nhiệm người đứng đầu.

+ Thực hiện thí điểm hợp nhất văn phòng cấp ủy với Văn phòng HĐND, UBND quận, huyện.

+ Lãnh đạo thực hiện thí điểm việc kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu một số cơ quan của cấp ủy và cơ quan chuyên môn của chính quyền, cơ quan của cấp ủy có chức năng, nhiệm vụ tương đồng.

– Thực hiện sắp xếp các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố và UBND, huyện sau khi có Nghị định thay thế Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, trình Ban Thường vụ Thành ủy xem xét, có ý kiến trước khi tham mưu UBND thành phố trình HĐND thành phố thông qua.

– Thực hiện nghiêm Nghị quyết số 39-NQ/TW; Thông báo Kết luận số 30-TB/TW ngày 23-5-2017 của Bộ Chính trị về kết quả kiểm tra thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị; Kết luận số 17-K /TW ngày 11-9-2017 của Ban Chấp hành Trung ương kết luận của Bộ Chính trị về tình hình thực hiện biên chế, tinh giản biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015-2016; mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2017-2021 và các Kế hoạch thực hiện của UBND thành phố.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và sơ, tổng kết việc thực hiện. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị…

Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 43 / 2023

Cải cách hành chính (CCHC) có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện quan hệ giữa các cơ quan hành chính Nhà nước với người dân, doanh nghiệp, bảo đảm tính công khai minh bạch trong giải quyết công việc của nhân dân, góp phần thực hiện hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cải cách hành chính, ngày 14/3/2016 Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành Nghị quyết số 43-NQ/HU về đẩy mạnh CCHC giai đoạn 2016-2020; qua lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết đến nay đạt được nhiều kết quả tích cực.  

Tập huấn CNTT cho cán bộ các cơ quan, các xã, thị trấn

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt thực hiện CCHC được cấp ủy đảng, chính quyền, ngành, đoàn thể từ huyện đến xã quan tâm, chỉ đạo, tổ chức thực hiện với quyết tâm cao. UBND huyện, UBND các xã, thị trấn đã ban hành các kế hoạch CCHC phù hợp với yêu cầu thực tiễn và xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm của từng năm nhằm thực hiện có hiệu quả Chương trình CCHC giai đoạn 2016-2020. Các văn bản chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác CCHC được thực hiện nghiêm túc, kịp thời.

Công tác kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện được quan tâm. Hàng tháng, quý, 6 tháng, Huyện ủy, UBND huyện tổ chức giao ban tình hình KT-XH gắn với kiểm điểm việc triển khai thực hiện công tác CCHC, tiến độ thực hiện nhiệm vụ trọng tâm và công tác CCHC của các cơ quan, đơn vị. HĐND huyện đã tổ chức giám sát chuyên đề về việc thực hiện công tác CCHC. Các Đoàn kiểm tra, Tổ Kiểm tra đã kiểm tra định kỳ, đột xuất việc thực hiện nhiệm vụ CCHC và kiểm tra công vụ, kết quả: Đã kiểm tra 607 lượt tại các xã, thị trấn và cơ quan, đơn vị. Lãnh đạo UBND huyện, Thường trực Ban chỉ đạo CCHC (Phòng Nội vụ) thường xuyên nắm bắt, theo dõi, giám sát qua hệ thống camera việc giải quyết TTHC tại bộ phận TN&TKQ. Qua kiểm tra, giám sát, nắm bắt tình hình đã kịp thời chấn chỉnh việc thực hiện nhiệm vụ CCHC, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; từng bước cải thiện, nâng cao chỉ số CCHC cấp huyện.

Việc rà soát thủ tục hành chính được thực hiện thường xuyên. Đã tổ chức rà soát, kiểm soát, đề xuất cắt giảm từ 25-30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính có thời hạn từ 15 ngày trở lên. Cơ sở vật chất, trang thiết bị Bộ phận TN&TKQ cấp huyện, cấp xã được bổ sung cơ bản đảm bảo theo quy định và đáp ứng yêu cầu; đa số công chức Bộ phận TN&TKQ có trình độ đạt chuẩn và năng lực công tác tốt. Việc áp dụng phần mềm dùng chung vào giải quyết TTHC đã đáp ứng yêu cầu người dân và doanh nghiệp. Việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết phản ánh, kiến nghị của công dân và tổ chức được quan tâm; kết quả khảo sát lấy ý kiến của người dân, doanh nghiệp về việc giải quyết các thủ tục hành chính cho thấy đa số nhận xét tốt về việc giải quyết TTHC; hài lòng với thái độ ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. 

Việc rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị bảo đảm hợp lý, tinh gọn, hiệu quả gắn với thực hiện đề án vị trí việc làm được quan tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ với lộ trình cụ thể. Các nhiệm vụ chính trị trọng tâm về sắp xếp tổ chức bộ máy đều hoàn thành đúng kế hoạch như: Nhập 4 đơn vị hành chính cấp xã (giảm 02 đơn vị hành chính so với 2016); sáp nhập và giải thể 06 đơn vị sự nghiệp (giảm 07 đơn vị so với năm 2016); bố trí công an chính quy tại 19/19 xã, thị trấn; sắp xếp, tinh giản người hoạt động không chuyên trách cấp xã và các thôn, tổ dân phố… Đến nay số cán bộ không chuyên trách cấp xã 157/165 người, bằng 95,2% so với quy định; số cán bộ không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố 629/636 người, bằng 98,9 so với quy định.

Công tác tổ chức cán bộ được quan tâm với nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực công tác, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được tăng cường, nhất là bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, kỹ năng làm việc.. đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa theo ngạch công chức. Từ 2016 đến nay đã chuyển đổi 59 công chức, viên chức. Đến nay việc chuyển đổi vị trí công tác trên địa bàn huyện đã đi vào nề nếp, trở thành việc làm thường xuyên tại các cơ quan, đơn vị, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Thông qua chuyển đổi ý thức, lề lối làm việc, chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu trong triển khai và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, dần đi vào thực chất. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 95%, không hoàn thành nhiệm vụ dưới 0,5%.  

UBND huyện đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để thực hiện việc ứng dụng CNTT phục vụ hiện đại hóa nền hành chính như: Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành, giải quyết TTHC; trang bị máy tính, kết mối mạng LAN, Internet, mạng chuyên dùng; lắp đặt, triển khai, hệ thống Hội nghị trực tuyến tại UBND huyện và 100% xã, thị trấn; triển khai và nhân rộng phần mềm Quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp qua mạng, triển khai phần mềm “Một cửa điện tử” dùng chung tại bộ phận TN& TKQ cấp huyện và 19/19 xã, thị trấn; thực hiện thư điện tử và chữ ký số tại 100% cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn; áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001: 2015 tại 13/13 phòng chuyên môn, 12/19 xã, thị trấn và phấn đấu hoàn thành áp dụng 19/19 xã, thị trấn trong năm 2020. Các quy trình Hệ thống QLCL huyện Yên Thế đã đạt 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết cấp huyện…

Với quyết tâm chính trị cao, Huyện ủy, HĐND, UBND huyện tập trung chỉ đạo, giám sát, tổ chức thực hiện các giải pháp để hoàn thành các mục tiêu của Nghị quyết số 43-NQ/HU ngay từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ huyện, cụ thể như: Việc xây dựng và tổ chức hoạt động bộ máy hành chính từ huyện đến xã đã thể hiện rõ tính chất phục vụ nhân dân, giảm tối đa tình trạng phiền hà, sách nhiễu, tạo niềm tin của nhân dân đối với bộ máy chính quyền. Hoàn thành thực hiện Bộ phận TN& TKQ hiện đại tại cấp huyện, một cửa liên thông 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) tại 19/19 xã, thị trấn, đạt 100 %; tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn tại Bộ phận TN& TKQ được nâng lên rõ rệt (đạt trên 97%).

Đội ngũ công chức, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực quản lý và kỹ năng thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. 100% công chức cấp huyện, 90,1% công chức cấp xã đạt chuẩn về trình độ đào tạo, sử dụng thành thạo tin học văn phòng; Hiện đại hóa nền hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin đạt mục tiêu và đáp ứng được yêu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động, từng bước hoàn thiện chính quyền điện tử; 100 % cơ quan, đơn vị cấp huyện và UBND các xã, thị trấn sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc, 100 % công chức, viên chức sử dụng thư điện tử công vụ trong trao đổi văn bản; trên 90% văn bản chính thức được trao đổi trên môi trường mạng và ứng dụng chữ ký số; tỷ lệ văn bản điện tử được gửi/nhận qua hệ thống cấp huyện đạt 98%, cấp xã 90%; 100% công chức cấp huyện và 92% cấp xã được trang bị máy tính. Năm 2016 đã hoàn thành xây dựng họp trực tuyến từ huyện đến xã với 20 điểm cầu, 50% các cuộc họp được tổ chức trực tuyến giữa UBND huyện với UBND các xã, thị trấn.

Mục tiêu trên 80% chính quyền cơ sở được xếp loại khá, tốt cơ bản hoàn thành (năm 2016: 18/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 85,7%; năm 2017: 16/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 76,2%; năm 2018: 21/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 100%; năm 2019: 19/21 xã được đánh giá mức tốt, khá, đạt 90,5%); 13/13 phòng chuyên môn áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO  9001: 2015, được công nhận trong tháng 12/2019, đạt 100% kế hoạch.

Nhìn chung, các mục tiêu trong Nghị quyết số 43-NQ/HU cơ bản hoàn thành, công tác CCHC đã có nhiều chuyển biến tích cực; bộ máy chính quyền từ huyện đến xã được sắp xếp hợp lý, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đa số cán bộ, công chức, viên chức chấp hành tốt kỷ luật, kỷ cương hành chính, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân được nâng lên rõ rệt…. Song một số nội dung, nhiệm vụ chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra; cụ thể: Nhận thức và sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và một bộ phận cán bộ, công chức về CCHC còn chưa đầy đủ. Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác CCHC, chưa gương mẫu thực hiện trách nhiệm người đứng đầu, không sát sao, nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức; chỉ đạo việc cải cách, rà soát thủ tục hành chính thực hiện chưa thường xuyên, thiếu hiệu quả; một số thủ tục hành chính giải quyết còn chậm so với thời gian quy định, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên môi trường, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… Chất lượng, hiệu quả cải cách thế chế, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính chưa cao, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều hành và thực hiện nhiệm vụ chưa mang lại hiệu qủa tích cực; chất lượng xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật tuy có được nâng lên nhưng còn chưa đáp ứng yêu cầu. Hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn còn thấp; năng lực quản lý, kỹ năng thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chất lượng một số cán bộ, công chức, viên chức chưa cao. Việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức tại một số cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn còn hình thức; việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính, quy định về văn hóa công sở tại một số các cơ quan, đơn vị và các xã, thị trấn còn hạn chế; một bộ phận công chức, viên chức còn hạn chế về trình độ chuyên môn, năng lực công tác, trong thực thi nhiệm vụ còn né tránh, đùn đẩy trách nhiệm khi giải quyết công việc, kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa cao, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao;, một số công chức, viên chức đảm bảo tiêu chuẩn về tin học nhưng kỹ năng, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế… làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chung của cơ quan, đơn vị, địa phương. Chỉ số đánh giá, xếp loại công tác cải cách hành chính trên địa bàn huyện tuy có cải thiện nhưng thiếu ổn định (năm 2016 đứng thứ 10, năm 2017 đứng thứ 8, năm 2018 đứng thứ 5, năm 2019 đứng thứ 6/10 huyện, thành phố).

Phát huy những kết quả đạt được đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/HU; trong thời gian tới, cần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, phát huy vai trò cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, quản lý điều hành và thực hiện nhiệm vụ CCHC, tập trung triển khai đồng bộ các nội dung của chương trình CCHC, đặc biệt quan tâm thực hiện các hoạt động xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, bảo đảm bộ máy công vụ hoạt động thông suốt, hiệu quả đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân. Gắn trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương với kết quả thực hiện nhiệm vụ CCHC, đưa nội dung CCHC là một nội dung quan trọng đánh giá cán bộ công chức, viên chức hàng năm; gắn việc thực hiện CCHC với đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng và việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Hai là, tổ chức thực hiện đồng bộ, hệ thống, hiệu quả các nội dung CCHC; trong tâm là: Tập trung thực hiện công tác cải cách thể chế, thẩm định, kiểm tra rà soát văn bản, công bố văn bản hết hiệu lực; Tiếp tục rà soát các thủ tục hành chính, cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ đặc biệt trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo hiểm, tài nguyên môi trường, cải thiện mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong các giao dịch hành chính và dịch vụ hành chính công. Thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả trong đó tập trung thực hiện Kế hoạch số 47-KH/TU ngày 30/5/2018 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết TW6 (khóa XII) “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”; rà soát, sắp xếp, sáp nhập các trường học có số lớp, số học sinh thấp để hình thành các trường liên cấp theo địa bàn xã; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, đổi mới lề lối, phong cách làm việc, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức.

Ba là, gắn CCHC với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại từng cơ quan, đơn vị, địa phương; phát huy sức mạnh tập thể, tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện, giám sát, kiểm tra, đấu tranh với các biểu hiện và hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, đẩy mạnh đối thoại và công khai, minh bạch kế hoạch, chương trình, nội dung hoạt động cải cách hành chính nhà nước ở địa phương.

Năm là, tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của đường dây nóng, công tác tiếp dân và giải quyết kiến nghị người dân. Đa dạng các kênh thông tin tiếp nhận ý kiến góp ý phản ánh của người dân, doanh nghiệp; mở rộng kênh lắng nghe, tiếp nhận các thông tin về cải cách hành chính. Xác định hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính là hành động thiết thực, là nhiệm vụ đột phá trong thực hiện Chỉ thị 05-CT/BCT của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng chính quyền thực sự của dân, do dân và vì dân./.

Trần Thị Ánh Tuyết

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!