Đề Xuất 11/2022 # Một Số Đánh Giá Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 – Nq/Tw Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Một Số Đánh Giá Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 – Nq/Tw Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Đánh Giá Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 – Nq/Tw Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Một số đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 48 – NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

TS. Dương Thị Thanh Mai, ThS. Nguyễn Văn Hiển

Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

Song hành với những cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính, cải cách tư pháp, những cải cách trong lĩnh vực xây dựng và thi hành pháp luật ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, góp phần không nhỏ vào kết quả thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đặc biệt, với việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (sau đây gọi là Nghị quyết số 48-NQ/TW), lần đầu tiên Việt Nam có một chiến lược dài hạn với những bước đi và giải pháp tương đối cơ bản cho việc xây dựng và thực thi pháp luật. Mặc dù chưa có những tổng kết chính thức về kết quả triển khai Nghị quyết số 48-NQ/TW, nhưng sau bốn năm đi vào cuộc sống, Nghị quyết này đã khẳng định được vị trí, tầm quan trọng cũng như sự tác động tích cực mang tính cải cách và chiến lược của mình, tạo nên những chuyển biến thực sự mạnh mẽ đối với hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.   

 

    

Trước tiên, phải nói đến sự đổi mới trong tư duy và cách làm chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật của Quốc hội và Chính phủ

   Trong bốn năm qua (từ tháng 5/2005 đến tháng 6/2009), Quốc hội Việt Nam đã ban hành Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII nhiệm kỳ (2007-2011), 04 Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh hàng năm của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ cũng ban hành các Kế hoạch hàng năm về công tác xây dựng pháp luật. Theo đó, gần một trăm văn bản luật, pháp lệnh, hàng trăm Nghị định hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh trên đã được ban hành

[1]

. Nếu so với tổng số 7 Bộ luật, 133 luật, 151 Pháp lệnh được ban hành trong 20 năm đổi mới trước đó (1986-2005) thì đây là một con số rất ấn tượng về số lượng và tốc độ làm luật. Nhưng điều quan trọng hơn là sự đổi mới khá căn bản cách thức lựa chọn các văn bản cần soạn thảo để đưa vào chương trình xây dựng pháp luật 5 năm và hàng năm của Quốc hội và Chính phủ. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Luật BHVBQPPL) 2008 đã tạo cơ sở cho bước đổi mới có tính đột phá  nhằm khắc phục tính hành chính, hình thức của hoạt động đề xuất, “ghi danh” vào chương trình làm luật, biến quá trình xây dựng chương trình, kế hoạch lập pháp, lập quy trở thành một quá trình mang tính khoa học – thực tiễn cao. Các đề xuất xây dựng pháp luật phải được luận giải, thuyết minh rõ ràng về mặt chính sách, các nhu cầu và giải pháp về pháp luật phải được xem xét trên cơ sở dự báo sơ bộ tác động kinh tế – xã hội để đảm bảo tính khả thi của đề xuất nếu được chấp nhận đưa vào chưong trình, kế hoạch. Mặt khác, Luật cũng tạo cơ chế cho việc điều chỉnh chương trình một cách hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả thực chất của hoạt động lập pháp, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Chính vì vậy, mặc dù vẫn còn những bất cập, hạn chế trong các đề xuất xây dựng pháp luật nhưng tỉ lệ hoàn thành chương trình cả nhiệm kỳ và chương trình hàng năm tiếp tục được nâng cao.

Việc đơn giản hoá hình thức và đổi mới quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một kết quả quan trọng tiếp theo của việc đổi mới tư duy lập pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW. Theo Luật BHVBQPPL 2008, thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản quy phạm pháp luật đã được cải cách theo hướng đơn giản hoá, mỗi cơ quan thuộc hệ thống hành pháp và tư pháp ở trung ương chỉ có thẩm quyền ban hành một (thay vì trước đây là từ 2 đến 3) hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã có những cải cách khá cơ bản như: việc đánh giá dự báo tác động kinh tế – xã hội của văn bản được thực hiện ở cả giai đoạn đề nghị xây dựng văn bản (luật, pháp lệnh, nghị định) và giai đoạn soạn thảo văn bản; tăng cường tính dân chủ, công khai, minh bạch của hoạt động lập pháp bằng việc thu hút sự tham gia của nhân dân vào các giai đoạn soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời quy định trách nhiệm giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu ý kiến đóng góp, phản biện của của cơ quan, tổ chức, cá nhân; áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản” để nâng cao tính hiệu quả, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật… Trên thực tế, công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được chuẩn hoá về quy trình, thủ tục; việc thành lập Ban soạn thảo, quy trình soạn thảo đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu dân chủ, huy động được trí tuệ của các chuyên gia, doanh nghiệp và nhân dân trong công tác xây dựng và ban hành văn bản, thủ tục xem xét và thông qua được cải tiến và rút gọn khá nhiều, chất lượng và tiến độ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên rõ rệt.

 

Tuy nhiên, quy trình xây dựng pháp luật hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, việc triển khai Luật BHVBQPPL 2008 đòi hỏi sự đổi mới cách nghĩ, cách làm của cả đội ngũ đông đảo – kể cả những người không chuyên – đang tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật ở các ngành, các cấp, do vậy, không thể là việc của một sớm, một chiều. Chính vì vậy, trên cơ sở sơ kết thực tiễn thực hiện các luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương, chúng ta cần khẩn trương nghiên cứu để thực hiện một định hướng đã được nêu trong Nghị quyết số 48/NQ-TW cho giai đoạn sau 2010, đó là việc hợp nhất Luật BHVBQPPL 2008 và Luật BHVBQPPL của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2005 thành một luật duy nhất nhằm tạo ra những chuẩn mực chung trong quy trình xây dựng văn bản, bảo đảm tính hiệu quả trong công tác xây dựng pháp luật và sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật quốc gia.

Về nội dung, các văn bản pháp luật đã tập trung vào sáu định hướng được xác định trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật thể hiện tư duy lập pháp mới nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa thể chế về kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, bảo vệ quyền con người phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua và quá trình thực thi pháp luật đã tác động tích cực đến sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội đất nước, phục vụ kịp thời yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể đơn cử một vài lĩnh vực chính:

+ Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Trong năm 2006, Việt Nam đã được kết nạp là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới WTO và gần đây đã được các nước ASEAN công nhận là nền kinh tế thị trường. Có được những thành quả trên, thời gian qua Việt Nam đã phải nỗ lực rất lớn trong việc ban hành mới một loại các văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lý an toàn cho phát triển kinh tế thị trường phù hợp với yêu cầu quốc tế. Cùng với các văn bản pháp luật đã được ban hành trong giai đoạn trước (như Luật Hợp tác xã 2003, Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, Luật Xây dựng 2003, Luật Đất đai 2003, Luật Phá sản 2004, Luật Cạnh tranh 2004, Pháp lệnh về chống bán phá giá năm 2004, Pháp lệnh chống trợ cấp 2004…) trong 4 năm qua, Quốc hội đã ban hành một loạt các văn bản quan trọng như: Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, Luật Chất lượng sản phẩn, hàng hoá 2007, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) 2008, Luật Thuế giá trị gia tăng (sửa đổi) 2008, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi) 2008… và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra khung khổ pháp lý quan trọng cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường: từng bước xác định rõ chế độ và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh, cơ chế cạnh tranh lành mạnh chống độc quyền, cơ chế khuyến khích và bảo đảm đầu tư, giảm mạnh sự can thiệp của Nhà nước bằng các biện pháp hành chính và các quan hệ kinh tế, thương mại dân sự, góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển lành mạnh thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, lao động…

Để tiếp tục tạo dựng sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế, trong thời gian tới Việt Nam sẽ dành sự ưu tiên đặc biệt cho việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đặc biệt là việc tạo cơ chế pháp lý thực sự bình đẳng cho sự phát triển của các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh, xây dựng và thực thi chuẩn mực trong cạnh tranh thương mại, yêu cầu phát triển bền vững…

.+ Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người, xây dựng nhà nước pháp quyền, Việt Nam đặc biệt chú ý đến các chuẩn mực chung của Nhà nước pháp quyền và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Sau khi Luật Báo chí 1999, Luật Xuất bản 2004 được ban hành, các cơ quan báo chí, xuất bản đã có những phát triển vượt bậc cả về số lượng ấn phẩm lẫn số lượng các cơ quan báo chí, xuất bản, những thông tin hai chiều từ phía người dân đến với cơ quan công quyền và từ phía Nhà nước đến với người dân đã được cải thiện, nhiều vấn đề bức xúc của xã hội đã được phản ánh kịp thời và được xử lý, giải quyết nhanh chóng hơn. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử Quốc hội 2001, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân 2003, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn 2007… đã quy định rõ hơn quyền chính trị của công dân, bảo đảm quyền tự do dân chủ của người dân trong bầu cử, ứng cử và tham gia vào các công việc của Nhà nước, của xã hội theo hướng xác định rõ vai trò của Nhà nước, vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, vai trò của cộng đồng dân cư cơ sở, việc gì các hiệp hội xã hội, cộng đồng dân cư làm tốt hơn thì để cho xã hội, hiệp hội làm, Nhà nước chỉ đứng ra tổ chức, hỗ trợ kinh phí, nhân lực, kinh nghiệm… Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo 2004, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng 2007… đã thể hiện rất rõ chính sách xã hội, tôn giáo, gia đình của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; thúc đẩy phong trào toàn xã hội chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ và đạo đức; chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa, các gia đình chính sách, các nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, lang thang; tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡi, tôn giáo của người dân, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc…

Việt Nam cũng đã dành những ưu tiên cụ thể trong xây dựng thể chế pháp lý hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước, từng bước xác lập một cơ chế quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả hơn, tôn trọng quyền con người, cải cách mạnh mẽ nền hành chính, thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, với tư duy quản lý của một Nhà nước phục vụ dân, Nhà nước của dân, do dân, vì dân nhằm thay đổi căn bản cách nghĩ, cách làm của một bộ phận quan chức, công chức theo tư duy hành dân, nhũng nhiễu, ban phát lợi ích cho dân. Việc ban hành và thực thi các Luật tổ chức Quốc hội 2002 (sửa đổi năm 2007) và các Luật tổ chức Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002, Luật tổ chức HDND và UBND 2003, Luật Cán bộ công chức 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2007… và các văn bản hướng dẫn thi hành đã góp phần hoàn thiện đáng kể bộ máy nhà nước theo tinh thần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN được đề cập trong Chương trình cải cách hành chính, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp.

Mục tiêu của giai đoạn tiếp theo là phải ban hành cho được các đạo luật tạo dựng một hình ảnh mới của một Nhà nước pháp quyền, nền hành chính và tư pháp hiện đại, như: nghiên cứu sửa đổi, bổ sung đồng bộ các luật về tổ chức bộ máy nhà nước (từ các quy định về bộ máy nhà nước trong Hiến pháp đến các luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Luật về Chính quyền địa phương (trên cơ sở tổng kết Đề án thí điểm mô hình không thành lập Hội đồng nhân dân ở một số cấp chính quyền), Luật Xử lý vi phạm hành chính, các luật về chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước, các luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Luật về Hội, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Biểu tình, Luật về Thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở…) theo đúng các định hướng của Nghị quyết số 48/NQ-TW.

 + Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, thực hiện công bằng xã hội… Việt Nam cũng đã ban hành được nhiều đạo luật quan trọng. Thông qua việc ban hành Luật Giáo dục 2005, Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động 2007, Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006, Luật Dạy nghề 2006… đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới; thực hiện xã hội hoá giáo dục; huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục, khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề… Việc ban hành Luật Công nghệ cao 2008, Luật Đa dạng sinh học 2008, Luật Chuyển giao công nghệ 2006, Luật Công nghệ thông tin 2006, Luật Sở hữu trí tuệ 2005… nhằm thực hiện tốt chủ trương phát triển khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ, tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh, đồng thời tạo chính sách hấp dẫn để các công ty xuyên quốc gia đầu tư và chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp Việt Nam; chú trọng nhập khẩu công nghệ hiện đại; từng bước phát triển mạnh công nghệ trong nước, phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ. Nhà nước khuyến khích các hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng dụng công nghệ mới, thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Ngoài ra, các chính sách về tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân… cũng từng bước được hoàn thiện thông qua việc ban hành Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Bảo hiểm xã hội 2006…

+ Trong các lĩnh vực quốc phòng an ninh, đối ngoại… Việt Nam cũng đã ban hành nhiều đạo luật thể hiện rõ độc lập chủ quyền và quyết tâm hội nhập quốc tế sâu rộng. Các Luật Biên giới quốc gia 2003, Luật An ninh quốc gia 2004… đã quy chuẩn hoá các yêu cầu về bảo vệ biên giới lãnh thổ, an ninh quốc gia. Các Luật Tương trợ tư pháp 2007, Luật Ký kết gia nhập và thực hiện các điều ước quốc tế 2005… đang góp phần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực.

  Những chuyển biến tích cực bước đầu trong tổ chức thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW cũng là kết quả cần được ghi nhận. Theo Kế hoạch số 900/2007/UBTVQH11 thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-TW, Quốc hội, Chính phủ đã đề ra các nhiệm vụ và lộ trình thực hiện cụ thể cho từng cơ quan hữu quan trong việc tăng cường năng lực của các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật.

Năng lực hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và bộ máy giúp việc cho Quốc hội ngày càng được chủ trọng. Trung tâm Bồi dưỡng đại biểu dân cử phối hợp với các cơ quan chức năng của Quốc hội xây dựng và thực hiện nhiều chương trình bồi dưỡng thiết thực theo chuyên đề về các kỹ năng và nội dung chính sách, pháp luật cho đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Viện Nghiên cứu lập pháp trực thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được thành lập năm 2008 là một thiết chế có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiện các định hướng chiến lược về phát triển hệ thống pháp luật và tạo môi trường dân chủ nhằm huy động hiệu quả trí tuệ và sự quan tâm của xã hội vào hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Nội dung và lộ trình tăng cường năng lực của các thiết chế  tổ chức thi hành pháp luật thuộc nhánh hành pháp và tư pháp, được thực hiện theo yêu cầu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2 (2006-2010) và Chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn đến 2020. Sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 do Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp tổ chức, đã khẳng định sự chuyển biến tích cực, rõ rệt trong nhận thức của xã hội và của chính các cấp uỷ Đảng, các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước về vị trí, vai trò của các cơ quan tư pháp trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phòng chống vi phạm pháp luật, tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý. Để thực hiện tốt hơn chức năng tổ chức thi hành pháp luật trên phạm vi cả nước, Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chức năng giúp Chính phủ quản lý nhà nước về thi hành pháp luật với nhiệm vụ theo dõi chung về thi hành pháp luật và đôn đốc các bộ, ngành, địa phương theo dõi việc thi hành pháp luật để định kỳ báo cáo Chính phủ về tình hình thi hành pháp luật thuộc phạm vi quản lý của mình, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Đề án về theo dõi thi hành pháp luật làm cơ sở cho việc triển khai một cách hiệu quả công tác này trong năm 2010 và những năm tiếp theo.

Phát triển hệ thống thông tin và phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường khả năng tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật được coi là nhiệm vụ thường xuyên và liên tục của Chính phủ. Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp đã và đang phối hợp cùng với các bộ, ngành, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội tích cực triển khai nhiều hoạt động thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn theo các Chương trình 5 năm và Kế hoạch hàng năm của Chính phủ phù hợp với nội dung, kế hoạch và lộ trình triển khai Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW. Công tác này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân. Đội ngũ luật sư đã có những bước phát triển mạnh mẽ với hơn 5.000 luật sư sinh hoạt tại 62 Đoàn luật sư trong toàn quốc. Đại hội đại biểu Luật sư toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức thành công với sự ra đời của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong năm 2009 là dấu mốc lịch sử trên bước đường phát triển và hội nhập quốc tế của luật sư Việt Nam. Cùng với việc Quy hoạch hệ thống tổ chức Trợ giúp pháp lý đã được Chính phủ phê duyệt, các luật sư và trợ giúp viên pháp lý là chỗ dựa tin cậy của Nhà nước và nhân dân trong việc tăng cường khả năng tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và Nhà nước.

 Phát triển hệ thống đào tạo nguồn nhân lực làm công tác pháp luật, là một trong những công tác trọng tâm của các chiến lược trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp. Các đề án về xây dựng Trường đại học Luật Hà Nội thành trường trọng điểm về đào tạo cán bộ pháp luật và Đề án xây dựng Học viện Tư pháp thành trung tâm lớn đào tạo các chức danh tư pháp đã được hoàn thiện và trình Chính phủ xem xét phê duyệt. Ngoài đào tạo chuyên môn, các cơ sở đào tạo trên phải chú ý đặc biệt đến việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho các sinh viên và học viên đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của công tác pháp luật và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN. Bộ Tư pháp cũng đã trình Chính phủ xem xét phê duyệt Đề án về tổ chức hệ thống các trường trung cấp luật trong toàn quốc nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn cán bộ pháp luật ở cấp cơ sở theo hướng ngày càng chuyên nghiệp, chuyên trách hơn.

 Như trên đã trình bày, Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng đầy đủ hơn vào sân chơi quốc tế như WTO, APEC, ASEAN… theo đó, các yêu cầu về hội nhập không cho phép Việt Nam chậm trễ và trì hoãn trong việc xây dựng ban hành các thể chế pháp lý hài hoà với luật chơi quốc tế. Chính vì vậy, nhiệm vụ khẩn trương nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác ký kết, thẩm định và thực hiện các điều ước quốc tế, tư vấn pháp luật quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế là mối quan tâm không chỉ của Nhà nước mà còn của chính cộng đồng các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, luật sư… Chính phủ đã và đang huy động có hiệu quả mọi nguồn lực hỗ trợ về tài chính, kinh nghiệm, kỹ năng của các tổ chức nghề nghiệp trong nước và quốc tế trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp để mở rộng hợp tác trong lĩnh vực đào tạo luật và các chức danh tư pháp. Chương trình đào tạo luật sư hội nhập quốc tế cho Việt Nam tại một số nước có nền kinh tế thị trường và truyền thống pháp luật phát triển đã bắt đầu được triển khai. Việc nghiên cứu các chính sách phù hợp để thu hút các chuyên gia pháp luật và tư pháp ở nước ngoài tham gia vào quá trình đào tạo luật và các chức danh tư pháp cũng đã được dặt ra.

 *     *

*

Bên cạnh những kết quả kể trên, qua hơn bốn năm triển khai Nghị quyết số 48-NQ/TW, thực tiễn cũng đã cho thấy hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật còn rất nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước. Mặt khác, các định hướng và giải pháp của Nghị quyết số 48-NQ/TW chủ yếu tập trung vào giai đoạn 2005-2010, còn thiếu những định hướng “có tầm nhìn” và các giải pháp cụ thể cho giai đoạn 2011-2020, nhất là khi Việt Nam bước vào triển khai các nhiệm vụ kinh tế, xã hội sẽ được đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020. Chính vì vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Ban chỉ đạo sơ kết Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW nhằm đánh giá toàn diện, khách quan, đúng đắn về việc thực hiện Nghị quyết trong 5 năm qua, đồng thời đánh giá nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thập kỷ tới. Trên cơ sở đó, đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm xác định và cụ thể hoá các định hướng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong Nghị quyết số 48/NQ-TW, đảm bảo lồng ghép các mục tiêu, nội dung chiến lược về hoàn thiện pháp luật và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vào Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011- 2020, đồng thời phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ trước mắt là xây dựng Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XIII (2011-2016)./.

    

[1] Thống kê từ Website Luatvietnam.vn.

Xây Dựng Và Hoàn Thiện Pháp Luật Về Dân Sự, Kinh Tế Theo Nghị Quyết Số 48 / 2023

    Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế là một trong 06 định hướng quan trọng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam (theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị), với trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, hệ thống pháp luật về dân sự, kinh tế đã cơ bản hoàn thiện, được bổ sung nhiều về số lượng, chất lượng, điều chỉnh khá toàn diện các quan hệ dân sự, kinh tế, tạo ra khung pháp lý quan trọng cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường, cơ bản đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

    1. Một số kết quả đạt được

    Trong 10 năm qua, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành mới, sửa đổi, bổ sung khoảng 80 luật, pháp lệnh trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, chiếm khoảng 30% tổng số luật, pháp lệnh được ban hành trong giai đoạn này. Trong đó, nổi lên ở những điểm sau:

    Thứ nhất, pháp luật về sở hữu, về quyền tự do kinh doanh Pháp luật đã dần xác định rõ các loại hình thức sở hữu(1) và không phân biệt đối xử giữa các chế độ và hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Hiến pháp năm 2013 và hàng loạt các luật được ban hành nhằm cụ thể hóa Hiến pháp trong lĩnh vực này đã thể hiện tư tưởng chủ đạo: Bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân, hạn chế sự can thiệp hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế; xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp; bảo đảm quyền tự do hoạt động đầu tư, thương mại, quyền thỏa thuận, ký kết, giao dịch và thực thi hợp đồng; cơ chế cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, khuyến khích và bảo đảm đầu tư, xóa dần ranh giới giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài; giảm dần sự can thiệp bằng biện pháp hành chính của Nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế; dần tháo gỡ các vướng mắc, rào cản trong sản xuất, kinh doanh, phát triển lành mạnh thị trường.

    Pháp luật về hợp đồng đã được hoàn thiện theo hướng tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không trái với đạo đức xã hội, không xâm phạm trật tự công cộng, phù hợp với tập quán, thông lệ thương mại quốc tế. Bộ luật dân sự năm 2005 được coi là luật gốc quy định các vấn đề chung về hợp đồng, các loại hợp đồng, về hình thức giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, chấm dứt hợp đồng…, đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của quan hệ thị trường thông qua việc ghi nhận nguyên tắc tự do hợp đồng, hạn chế sự can thiệp của các cơ quan công quyền vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Pháp luật về đầu tư đã quy định thống nhất áp dụng đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính và làm tăng tính minh bạch môi trường đầu tư của Việt Nam. Luật đầu tư năm 2014 thay thế Luật đầu tư năm 2005 đã tạo lập môi trường kinh doanh cởi mở hơn, phạm vi điều chỉnh rõ ràng hơn theo hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân trên cơ sở những ngành nghề mà Luật không cấm.

    Pháp luật về doanh nghiệp với việc ban hành Luật doanh nghiệp năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng, như đổi mới đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh, mô hình quản trị công ty cổ phần, đổi mới trong quản lý doanh nghiệp nhà nước…

    Pháp luật về đấu thầu đã đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đấu thầu; bổ sung phương pháp đánh giá mới nhằm đa dạng hóa phương pháp đánh giá để phù hợp với từng loại hình và quy mô của gói thầu, đồng thời khắc phục tình trạng bỏ thầu giá thấp nhưng không đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu…

    Pháp luật về hải quan đã có những đột phá trong việc thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử; đẩy mạnh thực thi các giải pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan. Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức hải quan; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan; tăng cường phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại…

    Pháp luật về cạnh tranh được ban hành hoặc sửa đổi trong giai đoạn này cũng đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cho hoạt động cạnh tranh lành mạnh, kiểm soát loại bỏ những hành vi độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh,… góp phần tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng. Pháp luật phá sản với việc ban hành Luật phá sản năm 2014 thay thế Luật phá sản năm 2004 đã đưa ra những cơ hội thực tiễn cho việc duy trì hoặc tổ chức lại doanh nghiệp, phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp; đưa ra các quy trình, thủ tục giải quyết việc phá sản doanh nghiệp đơn giản, nhanh gọn hơn; góp phần hạn chế đến thấp nhất những hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kinh tế trước các rủi ro xảy ra.

    Thứ hai, xây dựng pháp luật cho việc tạo lập đồng bộ các loại thị trường

    Pháp luật về các yếu tố thị trường và các loại thị trường được xây dựng ngày càng đồng bộ hơn, phù hợp với các quan hệ cung – cầu, cạnh tranh lành mạnh, sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các công cụ chính sách vĩ mô theo các nguyên tắc của thị trường. Đối với thị trường hàng hóa dịch vụ, hàng loạt đạo luật đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung để bảo đảm môi trường pháp lý thông thoáng, tự do kinh doanh, phát triển lành mạnh, bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà đầu tư cũng như quyền lợi người tiêu dùng(2). Đối với thị trường bất động sản, thể chế cho việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản, đã góp phần cải cách thủ tục hành chính về quy hoạch, quản lý sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất; đưa công tác quản lý, sử dụng đất đai vào nền nếp; thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư ở Việt Nam từng bước được mở rộng. Đối với thị trường lao động, Bộ luật lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm (2002, 2006, 2007, 2012); Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Luật việc làm năm 2013 đã tạo hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh theo hướng đa dạng hóa các hình thức tạo việc làm, cơ hội tìm việc làm, khuyến khích mở rộng thị trường lao động có hàm lượng chất xám cao; quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động được bảo đảm tốt hơn; hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm, thời gian làm việc, kỷ luật lao động…, đồng thời, nội luật hóa các quy định trong các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Đối với thị trường khoa học – công nghệ, Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cùng với pháp luật về khoa học và công nghệ góp phần hình thành và phát triển thị trường khoa học – công nghệ. Phạm vi các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được mở rộng phù hợp với Hiệp định TRIPS của WTO về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đối với thị trường tài chính, khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – tín dụng cơ bản được hoàn thiện(3), tạo môi trường lành mạnh, bình đẳng cho hoạt động ngân hàng, chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm; khuyến khích cạnh tranh trong các hoạt động này trên nguyên tắc an toàn hệ thống.

    Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về tài chính công

    Pháp luật trong lĩnh vực tài chính công đã đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý ngân sách, cải cách hành chính; bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách, vốn và tài sản nhà nước; quản lý, sử dụng tài nguyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh; định hướng huy động, sử dụng vốn vay; tổ chức huy động, phân bổ sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả, bảo đảm an toàn nợ công, an ninh tài chính; bảo đảm cơ chế đồng bộ cho quản lý, sử dụng nguồn lực dự trữ quốc gia hiệu quả. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý về quyền tự chủ đối với cơ quan nhà nước; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập cũng đã được xác lập đầy đủ, đồng bộ; khắc phục tình trạng ỷ lại vào ngân sách nhà nước, thúc đẩy cải cách hành chính.

    Luật quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động đầu tư và quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, phát huy vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, thực hiện công khai, minh bạch và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động trong đầu tư và quản lý vốn đã đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp.

    Luật đầu tư công năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý hoạt động đầu tư và sử dụng vốn đầu tư công; chống thất thoát, lãng phí; bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý đầu tư công.

    Pháp luật về thuế, phí, lệ phí và quản lý thuế(4) đã được ban hành theo đúng lộ trình, vừa bảo đảm yêu cầu về hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, vừa đáp ứng yêu cầu cải cách hệ thống thuế theo hướng mở rộng các đối tượng chịu thuế, bao quát các nguồn thu ngân sách nhà nước, đơn giản hóa thủ tục hành chính. 

    Thứ tư, hình thành đồng bộ pháp luật về các chuyên ngành kinh tế – kỹ thuật .

    Pháp luật trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải, điện lực cũng đã được hình thành khá đồng bộ(5); thể hiện phân cấp mạnh mẽ giữa Trung ương và địa phương và làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành và các chủ thể tham gia, tạo động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư, phát triển thị trường xây dựng và thị trường bất động sản với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng; có các chính sách thông thoáng, đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ giao thông công cộng; linh hoạt trong thu hút nguồn vốn đầu tư từ mọi nguồn lực xã hội, tạo lập hệ thống giao thông, kết cấu hạ tầng giao thông khá đồng bộ, có những đổi thay rõ rệt so với những năm trước đây; chính sách phát triển điện lực của Nhà nước đã thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động phát, phân phối điện, xây dựng thị trường điện cạnh tranh; hoạt động điện lực và nhiệm vụ quản lý sản xuất kinh doanh điện được phân định, quản lý và chịu sự điều tiết của Nhà nước.

    Pháp luật về nông nghiệp – nông thôn đã tập trung chủ yếu hướng tới điều chỉnh các lĩnh vực về đất đai, đầu tư, sản xuất nông nghiệp, thủy lợi, đê điều và phòng chống lụt bão; bảo vệ và phát triển rừng, thủy sản, thương mại nông lâm thủy sản, bảo vệ môi trường nông nghiệp, nông thôn; nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; khuyến nông, khuyến ngư và phát triển ngành nghề nông thôn(6) góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp – nông thôn; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản; cải thiện đời sống, vật chất, tinh thần của người dân ở hầu hết các vùng nông thôn phù hợp với các tiêu chí của mô hình Nông thôn mới.

    Thứ năm, hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường Pháp luật về tài nguyên và môi trường(7) đã kịp thời điều chỉnh nhiều vấn đề mới phát sinh như ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường, sinh thái với các giải pháp đồng bộ, đủ mạnh, có tính đột phá; chấn chỉnh các hoạt động khai thác khoáng sản, tài nguyên nước không phù hợp với quy định của pháp luật; quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư từ nhiều thành phần kinh tế khác nhau đầu tư vốn, kỹ thuật công nghệ, thiết bị vào lĩnh vực hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản; gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh tài nguyên, khoáng sản với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế – xã hội của đất nước, địa phương.

    2. Hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân

    Nhìn chung, pháp luật trong lĩnh vực dân sự, kinh tế đã cơ bản hoàn thiện, tạo lập khuôn khổ pháp lý quan trọng cho vận hành của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đối phó linh hoạt với các thách thức, phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới và phát triển của đất nước. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về dân sự, kinh tế vẫn chưa thực sự đồng bộ, chất lượng chưa cao, thiếu ổn định và tính dự báo thấp; trong lĩnh vực này vẫn còn tình trạng luật ban hành phải đợi Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành làm cho luật chậm đi vào cuộc sống, giảm hiệu lực của hệ thống pháp luật; vẫn còn có sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản luật cùng điều chỉnh một vấn đề làm cho việc thi hành gặp nhiều khó khăn(8), đáng lưu ý là:

    - Về chế độ sở hữu, sở hữu toàn dân còn nhiều điểm chưa rõ về mặt pháp lý, đặc biệt là đối với các tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn nhà nước; chưa minh định rõ sở hữu hỗn hợp với nhiều thành phần trong nền kinh tế.

    - Chưa phân định rõ ràng, rành mạch giữa quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh (nhất là cấp bộ, ngành); thể chế chưa đầy đủ các quyền tự do kinh doanh; môi trường kinh doanh chưa thật sự bảo đảm cạnh tranh công bằng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; doanh nghiệp gia nhập, hoạt động và rút lui khỏi thị trường còn gặp nhiều vướng mắc; giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu chưa tuân theo quy luật kinh tế thị trường; quản trị doanh nghiệp còn yếu kém, chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế…

    - Tình trạng luật khung còn nhiều; văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành trong lĩnh vực này còn chậm được ban hành hoặc không đầy đủ, có không ít quy định thiếu tính thực tế. Những vướng mắc về thủ tục hành chính – cả trong thể chế lẫn trong thực tiễn thi hành, đang là rào cản lớn đối với quá trình gia nhập thị trường, vận hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể, làm giảm đáng kể sức cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam.

    - Chưa ưu tiên xây dựng thể chế về sử dụng vốn nhà nước vào đầu tư kinh doanh, về đầu tư công, đặc biệt là thể chế về kiểm tra, giám sát hiệu quả sử dụng vốn nhà nước; chưa xóa bỏ triệt để cơ chế xin cho trong quản lý, phân bổ vốn nhà nước và độc quyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.

    - Pháp luật về tài nguyên môi trường còn phức tạp, nhiều tầng nấc, thậm chí mâu thuẫn; chưa đồng bộ, các chế tài xử lý chưa nghiêm, thiếu thiết chế thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường quốc gia và thực hiện các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế về môi trường.

    - Pháp luật về hình thành và hoạt động của các thị trường chưa đồng bộ. Việt Nam chưa tạo ra được thị trường theo đúng nghĩa, nhất là thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ…

    3. Một số đề xuất, giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế trong những năm tới

    Trên cơ sở kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, để khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn, đồng thời căn cứ vào Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 và các phương hướng, nhiệm vụ về phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2016-2020 trong các văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng để đề ra các định hướng, nhiệm vụ xây dựng pháp luật cho giai đoạn 20162020, trong đó cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế như sau:

    - Tiếp tục cụ thể hóa các quy định về các quyền tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong Hiến pháp năm 2013 vào các luật chuyên ngành. Bảo đảm minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt. Nâng cao năng lực các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế trong bảo vệ quyền tài sản.

    - Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về định giá, chuyển nhượng các loại tài sản đặc thù (đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản) và tài sản vô hình, tài sản trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu.

    - Hoàn thiện pháp luật về gia nhập thị trường và rút khỏi thị trường theo hướng bảo đảm quyền tự do kinh doanh với nguyên tắc công dân được kinh doanh các ngành nghề mà pháp luật không cấm; bảo đảm sự quản lý của Nhà nước đối với các chủ thể thị trường; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, thủ tục đầu tư; tạo cơ chế pháp lý thuận lợi, đơn giản cho việc tuyên bố phá sản, tổ chức lại doanh nghiệp.

    - Nghiên cứu xây dựng Luật về cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị, công ích; xóa bỏ cơ chế phân tán chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước cho các bộ, UBND đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.

    - Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về các thị trường, bao gồm: Thực hiện đa dạng hóa thị trường hàng hóa, dịch vụ theo hướng hiện đại, tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về thị trường bất động sản, phù hợp với quy luật cung – cầu nhằm khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực từ đất đai và tài sản, kết cấu hạ tầng trên đất; tạo môi trường pháp lý cho sự hình thành, phát triển lành mạnh thị trường lao động theo hướng đa dạng hóa các hình thức tìm việc làm, giới thiệu việc làm và tuyển chọn lao động; khuyến khích mở rộng thị trường lao động sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; hình thành và phát triển thị trường khoa học – công nghệ phù hợp với yêu cầu của WTO và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tiếp tục phát triển thị trường tài chính – tiền tệ theo hướng hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý cho việc áp dụng các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn pháp lý trong kinh doanh tiền tệ – tín dụng và phân bổ nguồn vốn; hoàn thiện pháp luật về thị trường chứng khoán để trở thành kênh huy động vốn và đầu tư gián tiếp an toàn, hiệu quả; hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bảo hiểm cho phù hợp với thực tiễn và các cam kết quốc tế; thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường, bảo đảm sự công khai, minh bạch đối với các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu; bảo đảm tối đa cạnh tranh lành mạnh, hạn chế hiệu quả những hành vi lũng đoạn thị trường.

    - Hoàn thiện pháp luật về các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô bao gồm thuế, quy hoạch, các tiêu chuẩn về chất lượng, quản lý giá và các công cụ hỗ trợ quản lý vĩ mô như thống kê, đăng ký giao dịch, đăng ký tài sản, các tiêu chuẩn và quy chuẩn hướng đến kết quả và hiệu quả kinh tế – xã hội, sự liên kết tổng thể, ổn định, đơn giản và minh bạch, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, chống thất thoát, lãng phí các nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và các cam kết quốc tế. 

    - Hoàn thiện pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, vệ sinh an toàn thực phẩm theo hướng Nhà nước can thiệp hiệu quả hơn nhằm giảm thiểu thông tin bất cân xứng, bảo vệ người yếu thế trong cạnh tranh (ví dụ người mua căn hộ, người tiêu dùng); hạn chế những yếu tố mặt trái của thị trường; tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên công cộng.

Hệ Thống Pháp Luật Tiếp Tục Được Hoàn Thiện Cả Về Số Lượng Và Chất Lượng / 2023

(Chinhphu.vn) – Trong giai đoạn 2016 – 2020, hệ thống pháp luật nước ta tiếp tục được hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng. Giai đoạn này, các cơ quan chức năng đã tập trung thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật, nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện để phù hợp với tình hình mới, nhất là để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

Dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Hội nghị toàn quốc của Chính phủ về công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật và thi hành pháp luật sẽ được tổ chức vào ngày 24/11.

Theo nội dung chương trình, Hội nghị sẽ tập trung rà soát, đánh giá tổng quan về công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật giai đoạn 2016 – 2020.

Theo thông tin từ Bộ Tư pháp, trong giai đoạn 2016 – 2020, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng hoàn thiện. Hệ thống pháp luật phát triển cơ bản cân đối trên mọi lĩnh vực. Hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội đều có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, cơ bản thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn đường lối, chủ trương của Đảng, không chỉ góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, mà còn đảm bảo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, chủ động hội nhập quốc tế của đất nước.

Chất lượng của hệ thống pháp luật có nhiều chuyển biến tích cực, cơ bản đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ. Các văn bản đều được đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ trước khi ban hành. Tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật từng bước được nâng lên. Công tác xây dựng pháp luật đã được đổi mới.

Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất cho cả Trung ương và địa phương, từng bước nâng cao tính công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, pháp luật; vai trò tham gia của xã hội vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước được quy định cụ thể; pháp luật về hợp nhất, pháp điển văn bản quy phạm pháp luật góp phần bảo đảm cho hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ tra cứu, tiếp cận, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

Theo thống kê, trong giai đoạn này, Chính phủ đã trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 112 văn bản (71 luật, 2 pháp lệnh, 22 nghị quyết của Quốc hội, 17 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội), giảm 8 văn bản so với giai đoạn 2011 – 2015. Đồng thời, Chính phủ ban hành 745 nghị định, tăng 24 nghị định so với giai đoạn 2011 – 2015 (721 văn bản), Thủ tướng Chính phủ ban hành 232 quyết định, giảm 129 quyết định so với giai đoạn 2011 – 2015 (361 văn bản). Các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành 2.422 thông tư, 110 thông tư liên tịch, giảm 201 văn bản so với giai đoạn 2011 – 2015 (2.733 văn bản). Ở địa phương ban hành tổng số 92.799 văn bản gồm: 16.341 văn bản cấp tỉnh, tăng 2.552 văn bản so với giai đoạn 2011 – 2015 (13.789 văn bản), 12.427 văn bản cấp huyện, giảm 18.320 văn bản so với giai đoạn 2011 – 2015 (30.747 văn bản), 64.031 văn bản cấp xã giảm 131.083 văn bản so với giai đoạn 2011-2015 (195.114 văn bản).

Kết quả nêu trên trong công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật giai đoạn 2016 – 2020 cho thấy, số lượng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giảm so với giai đoạn 2011 – 2015, điều đó thể hiện việc chuyển dần theo hướng tinh giản hơn trong hoàn thiện và nâng cao chất lượng các luật, pháp lệnh, nghị định đáp ứng nhu cầu của đời sống kinh tế – xã hội.

Riêng văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tăng so với giai đoạn trước, cho thấy trách nhiệm, vai trò của các tư lệnh ngành được đề cao theo sự phân cấp trong quản lý chỉ đạo, điều hành đối với ngành, lĩnh vực. Văn bản của chính quyền địa phương giảm, đặc biệt cấp huyện, cấp xã đã giảm rõ rệt, các cấp này đã tập trung mạnh vào việc triển khai tổ chức thi hành pháp luật.

Kết quả đó cũng có sự đóng góp quan trọng của công tác thẩm định của Bộ Tư pháp, ngành Tư pháp. Báo cáo thẩm định là kênh thông tin quan trọng để Chính phủ, UBND xem xét, quyết định việc trình các dự án, dự thảo; đồng thời, là nguồn thông tin hữu ích để các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND, UBND tham khảo trong quá trình thẩm tra, cho ý kiến, thông qua các dự án, dự thảo.

Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan soạn thảo, ý kiến thẩm định là căn cứ để chỉnh lý, hoàn thiện các dự án, dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.

Bên cạnh đó, công tác thi hành pháp luật đã được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có nhiều đổi mới, tiến bộ hơn, bước đầu áp dụng khoa học công nghệ vào công tác truyền thông để đưa pháp luật đi vào cuộc sống nhanh hơn, hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn.

Vai trò của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước, trong quản lý xã hội ngày càng được đề cao. Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương tập trung hơn vào quản lý điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng; cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt được kết quả tích cực. Cuộc chiến chống tham nhũng thu được nhiều thành tựu nổi bật. Việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc về tham nhũng, kinh tế đồng bộ, hiệu quả, tạo bước đột phá trong phát hiện, xử lý nghiêm sai phạm, có sức cảnh báo, răn đe mạnh mẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước, khẳng định quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Công tác bổ trợ tư pháp (với tư cách là một trong những những thành tố góp phần bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả) có bước phát triển tốt, góp phần quan trọng giúp người dân, doanh nghiệp tăng cường tiếp cận và thực thi pháp luật. Tổ chức và hoạt động của các thiết chế bổ trợ tư pháp tiếp tục không ngừng được củng cố, kiện toàn.

Nhận thức rõ được vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác xây dựng pháp luật, trong cả nhiệm kỳ này, với chủ trương, phương châm xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo, phục vụ người dân và doanh nghiệp, công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế luôn được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.

Chính phủ luôn dành một dung lượng thời gian lớn, thậm trí là họp cả ngoài giờ ở mỗi phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng để xem xét, rà soát, bổ sung, hoàn thiện các dự án, đề án về luật, pháp lệnh, các văn bản quy phạm pháp luật. Cùng với đó, các phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật cũng được Chính phủ thường xuyên tổ chức với mong muốn xây dựng được hệ thống pháp luật, các cơ chế, chính sách ngày càng được hoàn thiện hơn, góp phần tích cực hơn cho thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, kiến thiết và tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, thuận lợi, thông thoáng, bình đẳng… cho người dân, doanh nghiệp phát triển kinh tế, sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Tại các phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nhấn mạnh, việc xây dựng thể chế pháp luật là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước pháp quyền XHCN. Thể chế, pháp luật cần thể hiện sâu sắc tinh thần đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, xử lý kịp thời, hiệu quả, có tính bền vững cao đối với các vấn đề thực tiễn phát triển của đất nước.

Trên tinh thần này, Thủ tướng luôn yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phải trực tiếp chỉ đạo, tập trung các nguồn lực, nâng cao chất lượng, bảo đảm tiến độ chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, cũng như các văn bản quy định chi tiết thi hành. Phải coi việc rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực được phân công là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên; phát hiện và xử lý các quy định trái pháp luật, không còn phù hợp với tình hình thực tiễn một cách kịp thời và phải xử lý dứt điểm tình trạng nợ đọng văn bản pháp luật bảo và đặc biệt coi trọng việc đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các văn bản pháp luật.

Nguyễn Hoàng

Xây Dựng Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 33 Về Chiến Lược Bảo Vệ Biên Giới Quốc Gia / 2023

Biên phòng – Sáng 7-5, Thiếu tướng Đỗ Danh Vượng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy BĐBP chủ trì buổi làm việc nghe Cục Chính trị BĐBP báo cáo dự thảo Kế hoạch của Đảng ủy BĐBP thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia.

Thiếu tướng Đỗ Danh Vượng chủ trì buổi làm việc. Ảnh: Bích Nguyên

Theo báo cáo của Cục Chính trị BĐBP, căn cứ vào Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 33), Chương trình hành động số 88-Ctr/QUTW ngày 30-1-2019 của Quân ủy Trung ương và đề xuất nội dung công việc của Bộ Tham mưu, các Cục, Học viện Biên phòng, Cục Chính trị BĐBP đã dự thảo Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 33 của Đảng ủy BĐBP.

Dự thảo đề ra 6 nội dung chính kèm theo nhiệm vụ, giải pháp thực hiện gồm: Công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 33, Chương trình hành động số 88; quán triệt nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững mạnh; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền “Biên phòng toàn dân” vững chắc trong sự nghiệp xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia.

Tổ chức quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia góp phần giữ vững ổn định biên giới, vùng biển, xây dựng biên giới hòa bình hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng; xây dựng BĐBP cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số thành phần tiến thẳng lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới; nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện phương thức, phương án, cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật về quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia.

Thiếu tướng Lê Như Đức báo cáo nội dung dự thảo Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 33. Ảnh: Bích Nguyên

Phát biểu tại buổi làm việc, Thiếu tướng Đỗ Danh Vượng nhấn mạnh, cần xác định những vấn đề mới cần lưu ý trong Nghị quyết số 33. Trước mắt, các đơn vị cần tích cực tham mưu để Quốc hội thông qua Luật Biên phòng Việt Nam. Trong tham mưu về vấn đề xây dựng khu vực biên giới, cần kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với quản lý bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, cần bổ sung nội dung tổ chức tốt phong trào toàn dân tham gia bảo vệ biên giới, đảm bảo mỗi người dân là một cột mốc.

Thiếu tướng Đỗ Danh Vượng đề nghị Cục Chính trị BĐBP tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý để hoàn chỉnh dự thảo kế hoạch, đảm bảo sát yêu cầu thực tế.

Bích Nguyên

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Đánh Giá Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Số 48 – Nq/Tw Về Chiến Lược Xây Dựng Và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!