Đề Xuất 1/2023 # Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Áp Dụng Trong Giai Đoạn Nào Của Vụ Án? # Top 3 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Áp Dụng Trong Giai Đoạn Nào Của Vụ Án? # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Áp Dụng Trong Giai Đoạn Nào Của Vụ Án? mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Chào bạn.

Dựa trên thông tin mà bạn đưa ra, tôi xin có một vài góp ý, trao đổi như sau:

Bạn đang thắc mắc về cách hiểu của cụm từ “khi tiến hành điều tra” quy định tại Điều 29 Bộ Luật hình sự 2015. Bạn cũng đã đề ra 2 cách hiểu của cụm từ này là điều tra trước khi khởi tố và điều tra sau khi khởi tố và chỉ ra một số điểm bất hợp lý

Theo quan điểm của cá nhân tôi, phải hiểu cụm từ “khi tiến hành điều tra” này là giai đoạn điều tra sau khi tiến hành khởi tố. N ói đến điều tra trong BLTTHS tức là nói điều giai đoạn điều tra hình sự, giai đoạn này chỉ có sau khi đã khởi tố vụ án. Không có khái niệm điều tra trước khởi tố, cái đó gọi là xác minh tin báo, tố giác tội phạm, không phải điều tra.

Các giai đoạn tố tụng theo bộ luật tố tụng hình sự như sau:

1. Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự

2. Giai đoạn điều tra

3. Giai đoạn truy tố

4. Giai đoạn xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm)

Phải sau khi bị khởi tố, một người (hoặc nhiều người) mới trở thành bị can của một vụ án hình sự. Bị can này chưa phải là tội phạm mà chỉ là bị tình nghi phạm tội đó và có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu xét xử người đó có tội.

Sau giai đoạn khởi tố là giai đoạn điều tra, ở giai đoạn này nếu có sự thay đổi của chính sách, luật pháp làm cho tội phạm mà bị cáo đang bị tình nghi phạm phải không còn coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội nữa thì sẽ là hành vi không cấu thành tội phạm và coi như là căn cứ để không khởi tố theo Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

“Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

1. Không có sự việc phạm tội;

2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

[…]”

Bạn có thắc mắc rằng tại sao kéo dài đến các giai đoạn tố tụng tiếp theo thì cá nhân tôi không cho là như vậy, một khi hành vi không cấu thành tội phạm thì nếu đã khởi tố rồi có thể hủy quyết định khởi tố theo Điều 158 BLTTHS 2015:

“Điều 158. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự

1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

[…]”

Hoặc nếu đang ở giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát có thể ra quyết định đình chỉ vụ án quy định tại Điều 248 BLTTHS 2015

“Điều 248. Đình chỉ vụ án

1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự.

[…]”

Nếu trong trường hợp các chính sách, pháp luật thay đổi trước thời điểm ra quyết định khởi tố thì chúng sẽ trở thành căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, và sẽ áp dụng các căn cứ đó để không khởi tố, chứ không đợi sau khi khởi tố mới áp dụng miễn trách nhiệm hình sự

Còn về lệnh đại xá theo Khoản 2 Điều 29 bên trên về miễn trách nhiệm hình sự, hiện chưa có văn bản pháp luật chính xác nào quy định cụ thể về đại xá,

Về khái niệm: đại xá là Sự khoan hồng của Nhà nước do Quốc hội quyết định nhằm tha tội hoàn toàn và triệt để cho một số loại tội phạm nhất định đối với hàng loạt người phạm tội nhân sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước (chỉ xảy ra 2 lần vào năm 1946 và năm 1976).

Về bản chất: đại xá là tha, miễn hình phạt hoặc giảm nhẹ hình phạt cho một số loại tội phạm hoặc một loạt người phạm pháp nhất định đã hoặc chưa bị truy tố, xét xử, thi hành án.

Qua đây có thể hiểu ý đồ của nhà làm luật khi nói đến ” khi tiến hành điều tra ” trong Điều 29 BLTTHS 2015 về miễn trách nhiệm hình sự chính là giai đoạn sau khi đã khởi tố.

M: (+84-4) 3.2899.888 – E: luatvietkim@gmail.com

Ad: CS1- Tầng 5, Tòa nhà SHB, 34 Giang Văn Minh, Ba Đình, HN

CS2 – Tầng 5, Nhà C, 236 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, HN.

Luật Sư Được Tham Gia Từ Giai Đoạn Nào Của Vụ Án Hình Sự?

Trong tố tụng hình sự, luật sư có thể tham gia vào nhiều giai đoạn với tư cách khác nhau. Cụ thể, luật sư được tham gia từ giai đoạn nào của vụ án?

Luật sư có thể tham gia với tư cách người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, của bị hại, đương sự . Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này xin phép chỉ đề cập tới khía cạnh luật sư bào chữa.

Luật sư bào chữa tham gia từ giai đoạn điều tra

Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời điểm luật sư bào chữa tham gia tố tụng là từ khi khởi tố bị can.

Trừ trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.

Trong đó, khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, bắt người gồm:

Còn đối với trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Như vậy, sớm nhất, luật sư có thể tham gia tố tụng ngay từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở cơ quan điều tra nếu được mời/lựa chọn bào chữa và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa .

Trong giai đoạn này, người bào chữa sẽ do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ mời/lựa chọn.

Các trường hợp bắt buộc phải có luật sư

Luật sư bào chữa tham gia vào vụ án hình sự khi được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền chỉ định (khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13).

Theo đó, sẽ có luật sư được mời hoặc luật sư chỉ định. Và trong các trường hợp sau đây, nếu không mời được người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền phải chỉ định người bào chữa:

– Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;

– Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.

Theo đó, trong 2 trường hợp nêu trên bắt buộc phải có người bào chữa nếu không mời được thì phải chỉ định người bào chữa. Sự tham gia của người bào chữa vào những vụ án này không phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo.

Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Viện kiểm sát và kiểm sát viên có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói riêng.

Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát có trách nhiệm khởi tố vụ án, cụ thể trong trường hợp Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố và trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Viện kiểm sát chủ yếu thực hiện chức năng kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự.

Thứ nhất, Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự

Khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau: ” 3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp: ( a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; ( b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết , c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện tin báo về tội phạm , kiến nghị khởi tố ; ( dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.”

Như vậy, Viện kiểm sát có thể trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trực tiếp phát hiện dấu hiệu phạm tội; có yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

Thứ hai, Viện kiểm sát giám sát việc khởi tố

Tuy không quy định có quyền phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án hình sự nhưng với việc cho phép Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc tự ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền và trách nhiệm rất lớn trong việc đảm bảo tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự. Một trường hợp khác thường gặp trong thực tiễn, đó là khi các tài liệu, chứng cứ đủ để khởi tố vụ án nhưng không có căn cứ để khởi tố về tội phạm được khởi tố mà là một tội phạm khác hoặc cần bớt đi một tội phạm khác vì không đủ căn cứ để khởi tố đối với tội phạm đó hoặc cần khởi tố bổ sung với một tội phạm khác, Viện kiểm sát sẽ yêu cầu Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

Đặc biệt, với trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự – một quyết định rất có thể ẩn chứa những yếu tố tiêu cực, pháp luật tố tụng hình sự đã cho phép Viện kiểm sát hủy bỏ nếu không thấy có căn cứ và sau đó, tự mình ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển lại cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Đặc Điểm, Qui Trình Áp Dụng Pháp Luật Trong Ksđt Các Vụ Án Hình Sự Của Vksnd

Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung. Áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự thuộc trường hợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia bằng hình thức giám sát hoạt động của các chủ thể tham gia trong các quan hệ điều tra, KSĐT các vụ án hình sự. Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụng pháp luật của VKSND đó là các quyết định của cơ quan điều tra, các hành vi của những người tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS. Các quyết định và các hành vi đó có thể được ban hành, thực hiện theo đúng hoặc không đúng quy định của pháp luật. Khi đó Nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, nhằm phát hiện những sai phạm, kịp thời đề ra các yêu cầu, kiến nghị các chủ thể trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, khắc phục, sửa chữa; đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án hình sự được tuân thủ theo các quy định của pháp luật.

Dưới góc độ lý luận chung về áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những vi phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể đối với những cá nhân, đơn vị, tổ chức cụ thể. Áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự có thể coi là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật TTHS nói riêng đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.

Trong nội dung bài viết này tác giả muốn đề cập về mặt lý luận một số đặc điểm và quy trình áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự của VKSND để bạn đọc tham khảo góp ý kiến.

1. Hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự của VKSND có một số đặc điểm cơ bản sau:

Theo quy định của pháp luật thì VKSND các cấp là cơ quan có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Thông qua việc thực hiện chức năng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp thực hiện quyền tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Bảo đảm mọi hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Hoạt động thực hành quyền công tố và KSĐT các vụ án hình sự được quy định tại Điều 12, 13, 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002.

– Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can.

– Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.

– Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự.

– Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật.

– Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra; tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Với những quy định của pháp luật như trên thì VKSND có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong hoạt động kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra các vụ án hình sự được tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật. Đảm bảo cho việc khởi tố điều tra các vụ án hình sự được tuân theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng chính sách pháp luật.

Hoạt động điều tra các vụ án hình sự của cơ quan điều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND, đây là một quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan: Công an – VKS, là những hoạt động rất quan trọng có tính quyết định trong quá trình giải quyết những vụ án hình sự. Chính hoạt động KSĐT có vai trò quan trọng như vậy nên pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hiện hành nói riêng đã quy định rất chặt chẽ việc áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự. Pháp luật TTHS quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục của các hoạt động điều tra, hoạt động giám sát như: khởi tố vụ án; khởi tố bị can; các biện pháp điều tra; các biện pháp ngăn chặn; nhập, tách vụ án hình sự; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; thời hạn điều tra. Tóm lại, tất cả các bước trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND đều được quy định chặt chẽ theo các trình tự thủ tục do pháp luật TTHS hiện hành quy định.

Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật đã ban hành là giai đoạn cuối của quá trình áp dụng pháp luật, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng. Khi một quyết định áp dụng pháp luật sau khi ban hành mà không được thi hành trên thực tế thì cũng đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa pháp luật, vô hiệu hóa cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật, gây tổn hại nghiêm trọng đến pháp chế XHCN. Các quyết định áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự đã được Bộ luật hình sựnăm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chặt chẽ và đầy đủ. Việc thực hiện các quyết định áp dụng pháp luật của VKSND sẽ đảm bảo cho quá trình giải quyết những vụ án hình sự được đúng theo quy định của pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.

Tại Điều 23, khoản 2 BLTTHS năm 2003 quy định: Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này

2. Quy trình áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

Việc áp dụng pháp luật luôn phải tiến hành theo những quy trình chặt chẽ, chính xác mà pháp luật đã quy định. Do tồn tại nhiều quy phạm pháp luật khác nhau thuộc các lĩnh vực, các ngành luật khác nhau, nên việc áp dụng chúng cũng có những trình tự, thủ tục khác nhau. Có những quy phạm được áp dụng với quy trình đơn giản, nhưng có những quy phạm việc áp dụng chúng là cả một quá trình phức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thông thường để áp dụng một cách chính xác và đạt hiệu quả cao trong kiểm sát điều tra các vụ án hình sự cần tuân thủ những giai đoạn sau:

Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự. Việc VKS xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng do cơ quan điều tra tiến hành trong các vụ án hình sự, nhằm xác định tính có căn cứ, qua đó xác định tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng đã gây ra: có hay không có hành vi phạm tội? Hành vi đó ở mức độ nào? Xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là người thực hiện? Công cụ phương tiện phạm tội? Nhân thân? Năng lực trách nhiệm hình sự? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ?

Theo quy định của pháp luật TTHS thì VKSND tự mình thông qua các nguồn tin báo hoặc từ các tài liệu chứng cứ của cơ quan điều tra gửi tới để xem xét đánh giá sự kiện pháp lý đã xảy ra: Việc thu thập tài liệu chứng cứ có hợp pháp hay không? hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đến lúc phải xử lý bằng hình sự hay chỉ cần xử lý bằng biện pháp hành chính? người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là ai? năng lực chịu trách nhiệm hình sự? đối tượng phạm tội có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn?. Tức là phải xem xét đánh giá các yếu tố cấu thành tội phạm của đối tượng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong quá trình xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ ban đầu của vụ án hình sự, VKSND cần phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể rõ ràng cho cán bộ, Kiểm sát viên, có sự phối kết hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra. Có thể nói rằng, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo cho việc ra quyết định áp dụng pháp luật của VKS có chất lượng, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được tuân thủ theo quy định của pháp luật.

– Xem xét các quy phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết kiến thức pháp luật của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND. Người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án hình sự cần phải xem xét, đánh giá đầy đủ sự kiện pháp lý đã xảy ra, những công việc đã xử lý của cơ quan điều tra, yêu cầu và đề nghị của cơ quan điều tra đối với việc giải quyết vụ án. Để từ đó xác định nội dung quy phạm được áp dụng, phạm vi vi phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động KSĐT của VKSND. Muốn làm được điều đó, đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải tiến hành giải thích quy phạm pháp luật; phải làm sáng tỏ tư tưởng; nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn. Việc lựa chọn quy phạm pháp luật đúng thì việc ra quyết định áp dụng pháp luật sẽ rất chính xác. Tóm lại, giai đoạn áp dụng pháp luật này cần đòi hỏi: lựa chọn đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; quy phạm pháp luật áp dụng phải là quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật khác; xác định tính chân chính của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm này; nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật.

– Ban hành văn bản áp dụng pháp luật

Ban hành văn bản áp dụng pháp luật là việc VKSND ra các quyết định; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Đây là giai đoạn trọng tâm, quan trọng nhất của cả quá trình KSĐT các vụ án hình sự. Quyết định, quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn của VKS trong lĩnh vực này được ban hành sau khi đã xem xét, đối chiếu một cách thận trọng, khách quan với toàn bộ những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì quyết định của VKSND đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, đến trật tự trị an trên địa bàn và đến quyền tự do thân thể của công dân, nên đòi hỏi người có thẩm quyền ra văn bản áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật tố tụng hiện hành. Đặc biệt văn bản áp dụng pháp luật của VKSND phải có tính khả thi và hiện thực. Tóm lại, để ban hành văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án hình sự, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND phải hiểu biết về mặt pháp luật, biết tổng hợp, đánh giá các tình tiết vụ án, đồng thời phải có kỹ năng soạn thảo văn bản, đảm bảo chất lượng kỹ thuật văn bản.

– Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật

Việc tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật. Khác với các văn bản áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác, văn bản áp dụng pháp luật của VKS trong KSĐT các vụ án hình sự nó là lệnh, quyết định, quyết định không phê chuẩn, quyết định phê chuẩn buộc cơ quan điều tra phải thi hành và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh. Giám sát việc thực hiện các văn bản áp dụng pháp luật của VKS đối với toàn bộ hoạt động điều tra vừa là chức năng, vừa là nhiệm vụ của ngành kiểm sát đã được pháp luật quy định chặt chẽ và đầy đủ. Đó là một trong những đảm bảo quan trọng để quyết định của VKSND được thực hiện một cách nghiêm chỉnh.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Áp Dụng Trong Giai Đoạn Nào Của Vụ Án? trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!