Đề Xuất 11/2022 # Luật Hòa Giải Ở Cơ Sở / 2023 # Top 14 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 11/2022 # Luật Hòa Giải Ở Cơ Sở / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Luật Hòa Giải Ở Cơ Sở / 2023 mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Luật này quy định nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở, hòa giải viên, tổ hòa giải; hoạt động hòa giải ở cơ sở; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong hoạt động hòa giải ở cơ sở.

1. Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.

2. Cơ sở là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố).

3. Các bên là cá nhân, nhóm cá nhân, gia đình, nhóm gia đình, tổ chức có mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.

4. Hòa giải viên là người được công nhận theo quy định của Luật này để thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.

5. Tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở cơ sở để hoạt động hòa giải theo quy định của Luật này.

1. Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:

a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình, giao dịch dân sự mà theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự không được hòa giải;

c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính;

d) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật.

Người được bầu làm hòa giải viên phải là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải và có các tiêu chuẩn sau đây:

1. Có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín trong cộng đồng dân cư;

2. Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật.

1. Người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 của Luật này có quyền ứng cử hoặc được Ban công tác Mặt trận phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận giới thiệu vào danh sách bầu hòa giải viên.

2. Trưởng ban công tác Mặt trận chủ trì, phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố tổ chức bầu hòa giải viên ở thôn, tổ dân phố bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín tại cuộc họp đại diện các hộ gia đình;

b) Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

3. Kết quả bầu hòa giải viên:

a) Người được đề nghị công nhận là hòa giải viên phải đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý;

b) Trường hợp số người đạt trên 50% đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố đồng ý nhiều hơn số lượng hòa giải viên được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 12 của Luật này thì danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên lấy theo kết quả bỏ phiếu từ cao xuống thấp;

c) Trường hợp số người được bầu không đủ để thành lập tổ hòa giải thì tổ chức bầu bổ sung cho đủ số lượng;

d) Trưởng ban công tác Mặt trận lập danh sách người được đề nghị công nhận là hòa giải viên gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Quyết định công nhận hòa giải viên được gửi cho Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Trưởng ban công tác Mặt trận, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hòa giải viên và thông báo công khai ở thôn, tổ dân phố.

1. Thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở.

5. Hưởng thù lao theo vụ, việc khi thực hiện hòa giải.

6. Được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

7. Được hỗ trợ, tạo điều kiện để khắc phục hậu quả nếu gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải.

9. Chính phủ quy định chi tiết khoản 5 và khoản 7 Điều này.

1. Thực hiện hòa giải khi có căn cứ theo quy định tại Điều 16 của Luật này.

2. Tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 4 của Luật này.

4. Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có biện pháp phòng ngừa trong trường hợp thấy mâu thuẫn, tranh chấp nghiêm trọng có thể dẫn đến hành vi bạo lực gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng của các bên hoặc gây mất trật tự công cộng.

5. Thông báo kịp thời cho tổ trưởng tổ hòa giải để báo cáo cơ quan có thẩm quyền xử lý trong trường hợp phát hiện mâu thuẫn, tranh chấp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về hình sự.

Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các tổ hòa giải, tổ viên tổ hòa giải được thành lập, công nhận theo Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở được tiếp tục hoạt động mà không phải làm thủ tục công nhận lại theo quy định của Luật này.

1. Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014.

2. Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Địa chỉ: Số 43 ngõ 2 Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội

Điện thoại: 04.38.717.828; Fax: 04.38.717.828 Di động: 0904779997

Hòa Giải Ở Cơ Sở Là Gì Theo Quy Định Của Pháp Luật? / 2023

Hòa giải ở cơ sở là gì? Phạm vi hòa giải ở cơ sở. Những vấn đề cần lưu ý về hòa giải ở cơ sở theo quy định pháp luật hiện hành.

1. Hòa giải ở cơ sở là gì?

Theo khoản 1 Điều 2 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013, Hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.

Cơ sở ở đây được hiểu là thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và cộng đồng dân cư khác (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố).

Theo Điều 5 Nghị định 15/2014/ NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, phạm vi hòa giải cơ sở như sau:

2.1. Các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật được tiến hành hòa giải tại cơ sở

Hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật sau đây:

a) Mâu thuẫn giữa các bên (do khác nhau về quan niệm sống, lối sống, tính tình không hợp hoặc mâu thuẫn trong việc sử dụng lối đi qua nhà, lối đi chung, sử dụng điện, nước sinh hoạt, công trình phụ, giờ giấc sinh hoạt, gây mất vệ sinh chung hoặc các lý do khác);

b) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất;

c) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân và gia đình như tranh chấp phát sinh từ quan hệ giữa vợ, chồng; quan hệ giữa cha mẹ và con; quan hệ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; ly hôn;

d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định của pháp luật những việc vi phạm đó chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính;

đ) Vi phạm pháp luật hình sự trong các trường hợp sau đây:

+ Không bị khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 107 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

+ Pháp luật quy định chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố theo quy định tại khoản 1 Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

+ Vụ án đã được khởi tố, nhưng sau đó có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng về đình chỉ điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 169 của Bộ luật tố tụng hình sự và không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;

e) Vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Nghị định số 111/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc có đủ điều kiện để áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Chương II Phần thứ năm của Luật xử lý vi phạm hành chính;

g) Những vụ, việc khác mà pháp luật không cấm.

2. Các trường hợp không hòa giải cơ sở

a) Mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

b) Vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình mà theo quy định của pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết, giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội;

c) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ các trường hợp quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều này;

d) Vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị xử lý vi phạm hành chính, trừ các trường hợp quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều này;

đ) Mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 3 của Luật hòa giải ở cơ sở, bao gồm:

+ Hòa giải tranh chấp về thương mại được thực hiện theo quy định của Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành;

+ Hòa giải tranh chấp về lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành.

3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở

Theo Điều 4 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013, Nguyên tắc tổ chức, hoạt động hòa giải ở cơ sở bao gồm các nguyên tắc sau:

– Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên trong hòa giải ở cơ sở.

– Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư; quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi.

– Khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 10 của Luật này.

– Tôn trọng ý chí, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.

– Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Huyện Cẩm Thủy Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Hòa Giải Ở Cơ Sở / 2023

Xác định tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở, những năm qua huyện Cẩm Thủy đã có nhiều giải pháp tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này, góp phần giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong cộng đồng dân cư, gắn kết tình làng nghĩa xóm, giữ vững ổn định an ninh trật tự ở địa phương.

Đồng chí Vũ Thị Lợi, Trưởng Phòng Tư pháp huyện Cẩm Thủy, cho biết: Hiện nay, trên địa bàn huyện Cẩm Thủy có 119 tổ hòa giải, với 859 hòa giải viên. Các hòa giải viên là những người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư, hiểu biết về pháp luật và kinh nghiệm trong công tác hòa giải nên có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân. Để nâng cao chất lượng công tác hòa giải, huyện đặc biệt quan tâm tới công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Hòa giải ở cơ sở. Đối với đội ngũ hòa giải viên, hàng năm phòng tư pháp phối hợp với các ngành chức năng tổ chức tập huấn tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL). Năm 2019, huyện đã tổ chức được 383 hội nghị, 42.329 lượt người tham gia tiếp thu các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình, thú y, lâm nghiệp, thủy lợi, tố cáo, giao thông đường bộ; phòng, chống lao động xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc… Đặc biệt, đối với những xã miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, thì công tác tuyên truyền được chú trọng hơn, không chỉ tuyên truyền ở các hội nghị tập huấn mà các hòa giải viên còn xuống tận thôn, bản, hộ gia đình để chủ động nắm bắt tình hình, vụ việc, kịp thời hòa giải các tranh chấp nhỏ ngay tại thôn, bản. Bên cạnh đó, Phòng Tư pháp còn phối hợp với UBND các xã, thị trấn cung cấp tài liệu, tờ rơi, tờ gấp, phát các bản tin tuyên truyền pháp luật trên hệ thống loa truyền thanh của địa phương, lồng ghép hoạt động hòa giải với các phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Xây dựng làng, xã văn hóa”… phòng tư pháp huyện, UBND các xã, thị trấn còn thường xuyên tổ chức các buổi trao đổi nghiệp vụ giữa các tổ hòa giải của địa phương và các xã lân cận để các hòa giải viên có cơ hội trao đổi nghiệp vụ, nâng cao khả năng thuyết trình, kỹ năng xử lý tình huống. Hàng năm, phòng tư pháp tham mưu cho UBND huyện tổ chức Hội thi “Hòa giải viên giỏi”, thông qua hội thi, các đội đã mang đến lượng kiến thức khá lớn trong các lĩnh vực pháp luật về dân sự, hình sự, đất đai… nhiều tiểu phẩm dự thi có nội dung sâu sắc, gắn với các vụ việc mâu thuẫn, xích mích phát sinh trong đời sống của hộ gia đình, cộng đồng dân cư, thu hút sự quan tâm, theo dõi của người dân, góp phần tuyên truyền pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân địa phương.

Từ khi thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, trung bình mỗi năm các tổ hòa giải trên địa bàn huyện đã tiến hành hòa giải thành công trên 60% số vụ tranh chấp trong dân cư, chủ yếu là về hôn nhân và gia đình. Việc mở sổ theo dõi hoạt động hòa giải theo hướng dẫn, hàng tháng có báo cáo về công tác hòa giải và thực hiện giao ban ở tổ theo định kỳ được làm tốt. Năm 2019, các tổ hòa giải trên địa bàn huyện đã tiếp nhận 76 vụ việc, chủ yếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình. Các tổ hòa giải đã hòa giải thành công 59 vụ (đạt 80%).

Điển hình ở xã Cẩm Long, công tác hòa giải luôn được cấp ủy, chính quyền xã quan tâm, các vụ tranh chấp, mâu thuẫn xảy ra được các tổ hòa giải kịp thời giải quyết tại các thôn, không để kéo dài, không gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Chị Trịnh Thị Liễu, công chức tư pháp xã Cẩm Long, cho biết: Xã hiện có 6 tổ hòa giải tại 6 thôn, với 44 hòa giải viên. Các thành viên trong tổ hòa giải của thôn đều là người có uy tín, hiểu biết về pháp luật, gồm: Bí thư chi bộ, trưởng thôn, đại diện ban công tác mặt trận và các chi hội, đoàn thể, người có uy tín của thôn. Các thành viên trong tổ chủ động tìm hiểu, tiếp thu kiến thức về pháp luật, nhất là các lĩnh vực thường gặp ở địa phương, như: Hôn nhân và gia đình, đất đai và các bộ luật khác. Khi có vụ việc xảy ra, tổ hòa giải tập hợp các hòa giải viên đến tìm hiểu rõ nguyên nhân, tổ chức gặp gỡ động viên, thuyết phục, lắng nghe ý kiến của các bên rồi họp bàn và đưa ra giải pháp xử lý hiệu quả, hướng dẫn để các bên hiểu và tự thỏa thuận giải quyết với nhau trước sự chứng kiến của tổ hòa giải. Do đó, năm 2019, các tổ hòa giải trên địa bàn xã đã tiếp nhận hòa giải 16 vụ việc, trong đó hòa giải thành công 9 vụ việc, 7 vụ chuyển lên xã giải quyết theo thẩm quyền. Tiêu biểu nhất là tổ hòa giải thôn Long Tiến đã hòa giải thành 9/7 vụ việc.

Để nâng cao chất lượng công tác hòa giải ở cơ sở, thời gian tới, huyện Cẩm Thủy tiếp tục tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng nghiệp vụ và phổ biến các văn bản luật mới ban hành, giúp hòa giải viên cập nhật thông tin kịp thời, đầy đủ, bảo đảm cơ sở vật chất thiết yếu, tài liệu pháp luật phục vụ hoạt động của các tổ hòa giải. Chú trọng đến công tác thi đua khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể điển hình có cách làm hay, sáng tạo trong thực hiện công tác hòa giải. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền PBGDPL nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ và nhân dân.

Tiến Đông

Hòa Hợp, Hòa Giải Dân Tộc / 2023

Hòa hợp, hòa giải dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện ý nghĩa nhân văn cao cả, sâu sắc trong truyền thống văn hóa hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam. Điều này, bác bỏ mọi xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng, Nhà nước ta bắt nguồn từ những giá trị nhân văn trong chiều sâu văn hóa, truyền thống của dân tộc. Đó là truyền thống đoàn kết, đùm bọc, nương tựa nhau của những người có chung cội nguồn con Lạc, cháu Hồng: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”, v.v. Đó còn là truyền thống nhân ái, vị tha, hòa hiếu của dân tộc đối với những người lầm đường lạc lối, “Đánh kẻ chạy đi, chứ không ai đánh người chạy lại”. Tiếp nối truyền thống nhân văn ấy, Đảng ta luôn nhất quán, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; trong đó, lấy những giá trị nhân văn tốt đẹp của dân tộc làm điểm tựa để hòa hợp, hòa giải và được cụ thể hóa thành những nội dung phù hợp trong từng giai đoạn cách mạng.

Những năm kháng chiến, Đảng ta chủ trương lấy mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ để đoàn kết, tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ thù xâm lược. Sau khi Tổ quốc thống nhất, chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đã khơi dậy tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tình thân gia đình, dòng họ để xóa đi mặc cảm, hận thù, định kiến; dần khỏa lấp những khác biệt trong suy nghĩ và hành động hướng đến đoàn kết dân tộc, phát triển đất nước. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, bám sát thực tiễn, Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời có các chủ trương, chính sách mới về hòa hợp, hòa giải dân tộc. Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX), Đảng ta đã ban hành Nghị quyết 23-NQ/TW “Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Nghị quyết 24-NQ/TW “Về công tác dân tộc”, Nghị quyết 25-NQ/TW “Về công tác tôn giáo”. Đây là những nghị quyết quan trọng, thể hiện tư duy mới, cách nhìn đúng đắn và quyết định các nội dung cơ bản tạo điều kiện cho những bước đột phá trong công tác hòa hợp, hòa giải. Đặc biệt, Nghị quyết 36-NQ/TW, ngày 26-3-2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài” đã chỉ rõ: cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc. Mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội XII của Đảng một lần nữa khẳng định chủ trương nhất quán đó và nhấn mạnh: “tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước” 1. Đó là những định hướng chiến lược thể hiện truyền thống nhân văn sâu sắc; làm cơ sở thống nhất về nhận thức, tư tưởng, tổ chức, chính sách để tạo nên những bước đột phá mới trong đoàn kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc. Điều ấy cũng bác bỏ ý kiến cho rằng, Đảng, Nhà nước ta không có tư tưởng hòa hợp, hòa giải dân tộc mà luôn chia rẽ đoàn kết dân tộc.

Chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đã lan tỏa tình nhân ái, yêu thương con người, xóa bỏ hận thù. Hậu quả của hơn 30 năm chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thật khó có thể nói hết về những vết thương vẫn âm ỉ đau bởi những xung đột, mâu thuẫn trong chính mỗi con người, mỗi gia đình Việt. Hơn 20 năm đấu tranh để xóa bỏ hoàn toàn sự chia cắt lãnh thổ đất nước, nhưng đã sau hơn 40 năm việc nỗ lực hàn gắn lòng người vẫn rất gian truân. Vẫn còn hàng triệu người, hàng ngàn gia đình trong nước và nước ngoài mang trong mình nỗi đau ly tán do hậu quả của chiến tranh; nhiều người còn mang nặng tâm lý của kẻ thất bại, hằn học, định kiến với đất nước, v.v. Với lòng chân thành và trách nhiệm lịch sử, Đảng, Nhà nước ta đã nỗ lực, từng bước làm lành vết thương của dân tộc do hậu quả chiến tranh để lại. Chúng ta không phủ nhận, do điều kiện khách quan lịch sử, có lúc hòa hợp và hòa giải tiến triển chậm và gặp nhiều khó khăn, ở đâu đó vẫn còn tiếng hờn giận, oán sầu, v.v. Tuy nhiên, từ giữa những năm 80 (thế kỷ XX) đến nay, bằng nhiều chính sách, việc làm thiết thực, thể hiện lòng chân thành, khoan dung, nhân ái của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, như: những người tham gia học tập, cải tạo được trở về đoàn tụ với gia đình; thực hiện Chương trình “Ra đi có trật tự” cho khoảng 25 vạn người sum họp gia đình, 09 vạn con lai đi định cư ở nước ngoài, v.v. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã chủ động mở rộng tiếp xúc với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả những người còn định kiến với Nhà nước và chế độ; qua đó, khơi dậy tinh thần dân tộc và tạo điều kiện để họ được trở về quê hương. Đặc biệt, đã có bước đột phá trong tiếp xúc, thuyết phục các đối tượng chống đối và tổ chức cho một số đối tượng về nước để họ trực tiếp chứng kiến, nhìn nhận khách quan về sự đổi thay của đất nước mình. Nhiều hoạt động thiết thực, như: trợ giúp bà con tìm kiếm, cải táng hài cốt người thân chết trong thời gian cải tạo; dân sự hóa nghĩa trang Bình An (tỉnh Bình Dương),… đã dần xóa đi đau thương, sự mặc cảm của một thời quá khứ chiến tranh. Nhà nước ta đã chủ động đàm phán, ký kết nhiều điều ước quốc tế, hiệp định lãnh sự, hỗ trợ tư pháp với nhiều nước, để bảo vệ lợi ích chính đáng của kiều bào, tạo điều kiện thuận lợi cho bà con về địa vị pháp lý và việc làm, ổn định cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng. Nhờ đó, nhiều kiều bào ta đã hiểu rõ hơn về đất nước, dần xóa bỏ mặc cảm, định kiến, hận thù, đoàn kết, gắn bó cùng nhau trên con đường hòa hợp, đoàn kết bền vững.

Từ chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới lợi ích của người dân về đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa. Lòng nhân ái, thương xót con người thôi chưa đủ, mà tình thương ấy phải trở thành khát vọng và hiện thực về cuộc sống tự do và hạnh phúc hơn cho nhân dân. Thực tiễn cho thấy, thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa cũng chính là cầu nối quan trọng để hòa hợp, hòa giải đi vào thực chất. Hơn 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử; đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng nước nghèo kém phát triển, đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Nền kinh tế đã đạt được những thành tựu rất quan trọng cả về thể chế, quy mô, tốc độ và chất lượng tăng trưởng; gắn kết hài hòa phát triển văn hóa với xây dựng con người mới, tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ tài nguyên, môi trường ngay trong từng bước phát triển. Trong xã hội, những tư tưởng phân biệt đối xử đã dần được thay thế bởi tư tưởng hội nhập, dân chủ, cởi mở. Đảng, Nhà nước ta đã thường xuyên tổ chức lấy ý kiến đóng góp của kiều bào đối với những văn kiện quan trọng, như: dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng, Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, Hiến pháp năm 2013, v.v. Nhiều kiều bào trở thành đại biểu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc các địa phương. Tại nhiều địa phương cũng đã thành lập các hội liên lạc, Hội Thân nhân kiều bào; triển khai nhiều biện pháp, hình thức xã hội hóa trong vận động, huy động nhiều thành phần tham gia, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết các thủ tục hành chính cho kiều bào, v.v. Đồng thời, thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật để nâng cao đời sống văn hóa, gắn kết đồng bào xa quê hương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng kiều bào. Những loại hình, tác phẩm nghệ thuật có giá trị đích thực đã được công nhận, nhiều nghệ sĩ hải ngoại trở về quê hương sinh sống và hoạt động nghệ thuật, được công chúng đón nhận.

Công tác gìn giữ tiếng Việt trong cộng đồng kiều bào được tăng cường với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực. Đáng chú ý là việc triển khai đồng bộ, hiệu quả Đề án “Hỗ trợ việc dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài” của Bộ Giáo dục và Đào tạo và thí điểm Đề án “Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài đến năm 2020”, nhằm đa dạng hóa các hình thức tổ chức, nội dung và loại hình hoạt động giữ gìn, truyền bá tiếng Việt trong cộng đồng kiều bào. Nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của kiều bào cũng được quan tâm hơn với nhiều hoạt động phong phú, như: hỗ trợ, giúp đỡ Giáo hội Phật giáo Việt Nam đi hoằng pháp tại nhiều nước châu Âu, cử các vị chức sắc chủ trì, làm công tác Phật sự tại một số chùa ở châu Âu, Đông Nam Á, v.v. Công tác thông tin, tuyên truyền đối với cộng đồng kiều bào được đẩy mạnh; các cơ quan báo chí và truyền thông luôn coi trọng công tác tuyên truyền đối với kiều bào thông qua nhiều kênh thông tin, như: VTV4, VTC10, Truyền hình Thông tấn xã, các trang mạng thông tin điện tử của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các bộ, ngành và địa phương, v.v. Qua đó, chuyển tải những thông tin chính xác, kịp thời về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta và tình hình đất nước để bà con kiều bào hiểu và nhìn nhận sát thực, khách quan, góp phần xóa bỏ những hoài nghi, băn khoăn, tạo sự yên tâm, phấn khởi và tin tưởng vào sự phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của người Việt Nam ở nước ngoài, hướng về cội nguồn quê hương, thu hút ngày càng nhiều sự đóng góp đối với sự phát triển của đất nước và địa phương trong nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, từ thiện xã hội, giáo dục, y tế, v.v.

Hòa hợp, hòa giải là ước vọng chính đáng của đại đa số người Việt Nam trong nước và sinh sống ở nước ngoài. Đây là điều kiện cần thiết cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước. Trên thực tế, chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã đạt những kết quả quan trọng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, như Bác Hồ đã từng nói: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang” 2. Vì thế, tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp, làm lan tỏa giá trị nhân văn trong chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để cảm hóa, đoàn kết mọi người dân Việt Nam cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước giàu mạnh.

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 158, 159.

2 – Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 280, 281.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Luật Hòa Giải Ở Cơ Sở / 2023 trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!