Đề Xuất 5/2022 # Luận Văn: Điều Kiện Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống Theo Pháp Luật # Top Like

Xem 17,919

Cập nhật nội dung chi tiết về Luận Văn: Điều Kiện Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống Theo Pháp Luật mới nhất ngày 24/05/2022 trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 17,919 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Đăng Ký Mã Ngành Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống
  • Điều Kiện Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống
  • Tư Vấn Điều Kiện Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống
  • Thành Lập Công Ty Kinh Doanh Dịch Vụ Lưu Trú Và Ăn Uống
  • Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống Trên Nhà Bè Nổi
  • Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật kinh tế với đề tài: Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống theo pháp luật Việt nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG THỊ NHẬT MINH ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ HÀ NỘI, năm 2022
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG THỊ NHẬT MINH ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Ngành: Luật Kinh tế Mã số: 8380107 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. PHẠM KIM ANH HÀ NỘI, năm 2022
    3. 3. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………… 01 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG ………………………………………………………………………………… 10 1.1. Một số vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống……….. 10 1.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống…………………………………………………………………………………………… 18 1.3. Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh……………………………………………………………………………………….. 24 1.4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với cơ sở không đăng ký kinh doanh ……………………………………………………………………………………………… 31 Tiểu kết chương………………………………………………………………………………… 32 Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ………………………………………………………… 35 2.1.Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống………… 35 2.2. Thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh …………………………………………………………….. 36 2.3. Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống và tình hình kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh49 2.4. Quản lý an toàn thực phẩm ………………………………………………………….. 57 2.5. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật…………………………….. 61 Tiểu kết chương………………………………………………………………………………… 65 KẾT LUẬN…………………………………………………………………………………….. 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
    4. 4. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT AT: An toàn AU: Ăn uống CS: Cơ sở DN: Doanh nghiệp DV: Dịch vụ ĐK: Điều kiện KD: Kinh doanh NC: Nghiên cứu PL: Pháp luật QL: Quản lý SX: Sản xuất TP: Thực phẩm chúng tôi Thành phố Hồ Chí Minh VN: Việt Nam VS: Vệ sinh
    5. 5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết số 08-NQ/TU của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ngày 6/12/2017 về lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết 54 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Một trong những nhiệm vụ mà Nghị quyết đề ra là trên tinh thần khẩn trương, thiết thực động viên tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần chủ động sáng tạo, phát huy tối đa mọi nguồn lực của từng ngành, từng đơn vị, địa phương, toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố một cách bền vững… ,… Những vấn đề này đang
    6. 10. 6 công bố, Luận văn này sẽ nghiên cứu vấn đề điều kiện kinh doanh cụ thể cho ngành kinh doanh dịch vụ ăn uống từ thực tiễn trên Thành phố Hồ Chí Minh. Từ cơ sở đó, luận văn đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống từ thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, đánh giá được thực trạng áp dụng pháp luật từ góc nhìn ở một địa phương cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn cho thấy được những đóng góp to lớn của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống vào sự phát triển kinh tế của nước nhà, cũng như những vướng mắc, hạn chế của pháp luật, trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị có tính cung cấp thông tin, luận cứ khoa học phục vụ các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạch định và hoàn thiện chính sách pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống phù hợp với thực tiễn, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế…, Ngoài ra, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong đào tạo pháp luật chuyên ngành luật kinh tế. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây: – Về mặt lý luận: luận văn tổng hợp, hệ thống hóa và phân tích làm sâu sắc thêm nhận thức, lý luận về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống và pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống với những nhân tố cấu thành của các phạm trù này như: khái niệm, đặc điểm điều kiện kinh doanh; khái
    7. 11. 7 niệm điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống; khái niệm, đặc điểm của cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống; phân loại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. – Sau khi tổng quan về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn phân tích đánh giá và khẳng định những tác động tích cực cũng như chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống. Nhiệm vụ chính của luận văn là đánh giá các chế định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống qua thực tiễn tại chúng tôi trên các phương diện như: mức độ tương thích, phù hợp giữa pháp luật với thực tiễn; về sự phân biệt đối xử giữa các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống…Từ đó, nhận diện những vướng mắc, khó khăn trong công tác thi hành, thực hiện pháp luật, cũng như những tác động chưa tích cực của pháp luật với nền kinh tế và rút ra một số kinh nghiệm về thực hiện pháp luật điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống qua thực tiễn của địa phương… – Sau khi nhận diện những vướng mắc, khó khăn trong công tác thi hành, thực hiện pháp luật,…Từ đó, đề xuất các giải pháp phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm để đưa pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống theo pháp luật Việt Nam đi vào cuộc sống, nhằm nâng cao chất lượng sống, chất lượng giống nòi, giảm thiểu những bệnh do thực phẩm không an toàn gây ra; thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển, nâng cao vị thế cạnh tranh du lịch ẩm thực của Việt Nam với các nước… 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận Việc nghiên cứu, biên soạn luận văn được thực hiện trên nền tảng tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như quan điểm
    8. 12. 8 đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới và chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 4.2 Phương pháp nghiên cứu Việc nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích; phương pháp hệ thống hóa và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê… – Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu được sử dụng để làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống, như phân tích khái niệm về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống, phân tích khái niệm cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống,… – Phương pháp tổng hợp, thống kê, đánh giá để làm sáng tỏ những ưu điểm, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm thực tiễn trong qua trình thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống tại chúng tôi Từ những hạn chế của các quy định pháp luật, luận văn kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống cụ thể. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, các văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống theo pháp luật Việt Nam; và thực tế áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật qua thực tiễn tại chúng tôi để từ đó soi rọi trở lại pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống để hoàn thiện nó. 5.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu những vấn đề sau: – Một số vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống. – Quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống.
    9. 14. 10 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ ĂN UỐNG 1.1. Một số vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống 1.1.1. Khái niệm và phân loại về điều kiện kinh doanh Khái niệm về điều kiện kinh doanh Điều kiện kinh doanh được xem như là một công cụ quản lý kinh tế, xã hội của nhà nước bởi vì trong thể chế kinh tế thị trường, lợi nhuận là cái đích cuối cùng mà các doanh nghiệp mong muốn đạt được. Để thu được nhiều lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường hướng tới việc thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng mà bất chấp những thủ đoạn tác động không tốt đối với xã hội và đôi khi tác động tiêu cực đến lợi ích của chính quốc gia mình… Vì vậy mà hoạt động của doanh nghiệp luôn cần có sự kiểm tra giám sát của nhà nước để vừa đảm bảo sản xuất ra sản phẩm một cách hiệu quả, vừa giảm bớt những rủi ro cho cộng đồng và nhà nước. Nhà nước sử dụng điều kiện kinh doanh như một công cụ để kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp nhằm để dung hòa lợi ích quốc gia và lợi ích của các doanh nghiệp. Điều kiện, có rất nhiều khái niệm khác nhau như điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra; điều kiện được nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó, đặt điều kiện, ra điều kiện; điều kiện những gì có thể tác động đến tính chất, sự tồn tại hoặc sự xảy ra của một cái gì đó, hoàn cảnh… ;
    10. 15. 11 Khái niệm về kinh doanh, có khái niệm cho rằng kinh doanh là gầy dựng, mở mang thêm, tổ chức việc sản xuất mua bán sao cho sinh lợi… ; Theo pháp luật, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi … , cụ thể như Thông tư 47/2014/TT-BYT ngày 11 tháng 12 năm 2014 có quy định rằng trước khi tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống của doanh nghiệp không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, và định kỳ 3 năm, chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống phải cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ quan quản lý tương ứng. 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống Khái niệm về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống Dịch vụ ăn uống là gì? một số quan niệm trước đây cho rằng dịch vụ là phục vụ những nhu cầu mà tự bản thân họ không tự phục vụ cho mình được ví dụ như dịch vụ mát sa, dịch vụ cắt tóc,…nhưng ngày nay với sự phát triển xã hội, thì dịch vụ là phục vụ những yêu cầu sinh hoạt của con người. Có từ điển định nghĩa dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông có tổ chức và được trả công…. Kinh doanh dịch vụ ăn uống là công việc phục vụ cho việc ăn uống thường ngày cho đông đảo quần chúng, có tổ chức và được trả công…. Như vậy, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là những cơ sở kinh doanh có địa điểm kinh doanh cố định, bày bán thức ăn đã chế biến, thức ăn chín, thức ăn để dùng ngay (ăn ngay), và không phải là những quầy hàng lưu động như xe đẩy, gánh hàng rong… Phân loại cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, theo quy định của pháp luật cũng có hai loại đó là: – Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh); – Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Từ những cơ sở lý luận trên, có thể hiểu cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là những cơ sở tổ chức chế biến, bày bán thức ăn đã chế biến, cung cấp thức ăn, đồ uống để ăn ngay, thực phẩm chín,… có địa điểm cố định và có đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh. 1.1.4. Đặc điểm của cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bao gồm: cơ sở chế biến suất ăn sẵn; căng tin kinh doanh ăn uống; bếp ăn tập thể; nhà hàng ăn uống của
    11. 21. 17 khách sạn, khu nghỉ dưỡng; nhà hàng ăn uống; cửa hàng ăn uống; cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín… : – Nhóm cơ sở chế biến suất ăn sẵn. – Nhóm căng tin kinh doanh dịch vụ ăn uống; bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng; nhà hàng ăn uống. – Nhóm cửa hàng ăn uống. – Nhóm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín. 1.1.6. Vị trí vai trò của cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với chúng tôi Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố có tốc độ phát triển rất nhanh rất mạnh, trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay với nhịp sống hối hả, mọi viêc đều phải chuyên môn hóa cao để tăng năng suất lao động. Do đó việc chuẩn bị bữa ăn cho bản thân và gia đình không còn là việc thường xuyên hàng ngày của các cá nhân, mà việc chuẩn bị bữa ăn cho cá nhân và gia đình trở thành việc của toàn xã hội (hầu hết các cá nhân chuẩn bị bữa ăn cho gia đình mình thường vào các ngày nghỉ, các dịp cuối tuần…), thay vào đó là sử dụng các loại hình dịch vụ ăn uống nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng hàng ngày của từng cá nhân đó là các bếp ăn tập thể, căng tin, quán ăn, nhà hàng, những quầy thức ăn đường phố…
    12. 23. 19 thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Công thương; kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế. Kinh doanh thực phẩm là bao gồm các hoạt động kinh doanh phục vụ nhu cầu ăn uống của con người. Vậy điều kiện kinh doanh thực phẩm là điều kiện chung như: điều kiện kinh doanh thực phẩm nhập khẩu, điều kiện kinh doanh thực phẩm xuất khẩu, điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống… Như vậy, điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống là một trong những điều kiện kinh doanh thực phẩm. Những quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống nhằm mục đích kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống. Đây chính là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống nhằm đảm bảo an toàn sức khỏe tính mạng của con người, duy trì phát triển nòi giống… bên cạnh đó pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng tạo ra hành lang pháp lý để các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cạnh tranh một cách công bằng, lành mạnh và góp phần phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống của Việt Nam ngày càng hoàn thiện như: ban đầu là pháp lệnh, chỉ thị, thông tư ví dụ như Pháp lệnh số 12 về vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, tiếp sau này là Luật An toàn thực phẩm năm 2010, đã được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII, ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Luật An toàn thực phẩm đã phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đó là Chính phủ; Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm . Trong phạm vi lĩnh vực được phân công, với tinh thần trách nhiệm của mình, Bộ Y tế đã tham mưu cho Chính phủ ban hành hai nghị định đó là: Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm, và Nghị định số 178/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm. Và ngày 02/02/2018 chính phủ đã ban hành nghị định số 15/2018/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 02 năm 2022, thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; bãi bỏ Chương II Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT- BYT-BNNPTNT-BCT ngày 09 tháng 4 năm 2014 của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương hướng dẫn việc phân công,
    13. 28. 24 kinh doanh thực phẩm của các doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế… Không chỉ có văn bản quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện, mà việc quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng có những bước tiến mới trong việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phụ trách từng lĩnh vực nhất định nhằm tránh sự đùn đẩy trách nhiệm cho nhau giữa các bộ các ngành các cơ quan chuyên môn với nhau… Hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm cũng được quy định một cách rõ ràng, cụ thể hơn, đã góp phần nâng cao chất lượng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống vào thời gian gần đây… Những văn bản nêu trên đã thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước cũng như sự quyết tâm của Chính phủ, của các bộ, các cơ quan ngang bộ cũng như của các cấp chính quyền địa phương trong việc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm với một mục đích đó là mang bữa ăn an toàn đến với mọi người, góp phần tạo dựng hành lang pháp lý ổn định, an toàn, rõ ràng, minh bạch để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư kinh doanh dịch vụ ăn uống, thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách bền vững trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế… Những cơ quan gánh vác trọng trách nặng nề này bao gồm Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, và Ủy ban Nhân dân các cấp. Chính phủ đã giao cơ quan chịu trách nhiệm chính về an toàn thực phẩm cho bữa ăn của mọi người đó chính là Bộ Y tế: “Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm” ; bước 3 là, xin cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật ; bước hai là, xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống có đăng ký kinh doanh ; – Bốn là, giấy xác nhận đủ sức khỏe của chủ cơ sở và người trực tiếp kinh doanh dịch vụ ăn uống do Sở Y tế cấp huyện trở lên cấp (danh sách kết
    14. 31. 27 quả khám sức khoẻ của chủ cơ sở và người trực tiếp chế biến, kinh doanh dịch vụ ăn uống ; – Năm là, giấy xác nhận đã được tập huấn kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm của chủ sở hữu và người trực tiếp kinh doanh dịch vụ ăn uống theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép doanh nghiệp tiến hành những hoạt động kinh doanh của mình. Giấy này được gọi là giấy phép kinh doanh, là công cụ quản lý nhà nước thông qua cơ chế xin phép – cho phép, để nhà nước quản lý đối với một số ngành nghề mà việc kinh doanh đòi hỏi những điều kiện nhất định như đảm bảo an toàn cho xã hội và nhà nước…Ở Việt Nam, giấy này có với nhiều tên gọi khác nhau như: giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy phép hoạt động, giấy phép kinh doanh, giấy xác nhận,… Nhưng thực chất, các giấy tờ trên đều được coi là giấy phép kinh doanh vì ngoài thủ tục đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp sẽ không tiến hành hoạt động kinh doanh nếu không có giấy phép này. Pháp luật hiện hành quy định: doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận kinh doanh đối với những ngành nghề thông thường, nhưng đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp được kinh doanh ngành, nghề đó từ khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh hoặc giấy có đầy đủ điều kiện kinh doanh theo quy định. Giấy phép kinh doanh thường được cấp sau giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và không phải là loại giấy phép có trong tất cả các trường hợp kinh doanh. Bởi vì, giấy phép kinh doanh (hay còn gọi là giấy chứng nhận đủ
    15. 32. 28 điều kiện kinh doanh…) là văn bản cho phép của cơ quan chuyên môn nhà nước có thẩm quyền cấp cho các chủ thể đăng ký kinh doanh những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, và cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho những cơ sở kinh doanh khi họ đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh. Như vậy, để xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, doanh nghiệp phải chuẩn bị ít nhất 5 loại giấy kể trên, đây là giai đoạn phức tạp nhất, và khó khăn nhất bởi vì tốn rất nhiều thời gian, công sức, và chi phí mặc dù pháp luật quy định khoảng 15 ngày, nhưng thực chất là bao nhiêu ngày thì khó mà đoán trước vì còn phụ thuộc vào hồ sơ do doanh nghiệp nộp đã đáp ứng yêu cầu chưa, nếu chưa thì lại phải làm lại đúng và đủ theo luật định…. 1.3.2. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm Giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm được cấp cho hai đối tượng khác nhau đó là tổ chức và cá nhân. – Đối với tổ chức: đơn đề nghị và bản danh sách các đối tượng đề nghị xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm theo mẫu số 06 ban hành kèm theo Thông tư 47 năm 2014 của Bộ Y tế; giấy tờ chứng minh đã nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. – Đối với cá nhân: đơn đề nghị xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm theo mẫu số 07 ban hành kèm theo Thông tư 47 năm 2014 của Bộ Y tế; giấy tờ chứng minh đã nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. – Kiểm tra kiến thức về an toàn thực phẩm bằng bộ câu hỏi đánh giá kiến thức về an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật . – Giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm có hiệu lực 03 năm, kể từ ngày cấp; cá nhân đã được cấp giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm sẽ được thừa nhận khi làm việc tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống , nghĩa là cơ sở sẽ không được tiến hành các hoạt động kinh doanh… 1.3.4. Phân cấp cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm Phân cấp cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật như sau: Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận cho các cơ sở sau đây: cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống do Bộ Kế hoạch Đầu tư và Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh . Ủy ban nhân dân (hoặc cơ quan có thẩm quyền) quận, huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận cho cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống do Ủy ban nhân dân (hoặc cơ quan có thẩm quyền) quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có quy mô kinh doanh dưới 200 suất ăn/lần phục . 1.3.5. Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm
    16. 35. 31 Thời hạn hiệu lực của giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm được quy định như sau: giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm có hiệu lực trong thời gian 3 năm; trước 6 tháng tính đến ngày giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hết hạn, tổ chức cá nhân kinh doanh dịch vụ ăn uống phải nộp hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận trong trường hợp tiếp tục kinh doanh dịch vụ ăn uống, hồ sơ trình tự, thủ tục cấp lại được thực hiện giống như xin cấp lần đầu. Khi hết thời hạn 3 năm kể từ ngày cấp phải thực hiện việc cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm với cơ quan có thẩm quyền theo . 1.4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với cơ sở không đăng ký kinh doanh Điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với cơ sở không đăng ký kinh doanh được quy định như sau: – Cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng theo quy định tại các Điều 1, 2, 3, 4 Thông tư số 15/TT-BYT ngày 12/9/2012 quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm, và các Khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 8 Điều 6 Thông tư số 30/2012/TT-BYT (khoản 1 Điều 7 Thông tư số 47/2014/TT-BYT). – Chủ cơ sở và người trực tiếp cung cấp dịch vụ ăn uống phải thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 4, Khoản 1 Điều 5, Khoản
    17. 36. 32 7 Điều 6 Thông tư số 30/2012/TT-BYT; có Giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm theo quy định pháp luật . Đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống không đăng ký kinh doanh thì không cần xin tiấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, nghĩa là không cần chuẩn bị bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Bộ Y tế), bao gồm: bản vẽ sơ đồ mặt bằng của cơ sở, sơ đồ quy trình chế biến, bảo quản, vận chuyển, bày bán thức ăn, đồ uống, bản kê về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở , như vậy những cơ sở này tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian và công sức cho khâu xin cấp giấy phép…và doanh nghiệp tốn nhiều nhất về chi phí, thời gian và công sức cho khâu xin giấy phép đó là những nhà đầu tư nước ngoài, những nhà đầu tư trong nước những doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh thì
    18. 38. 34 chi phí ban đầu cho việc tiếp cận thì trường thì nhiều hơn những cơ sở không đăng ký kinh doanh nhưng vẫn ít hơn những nhà đầu tư ngoài nước…
    19. 40. 36 từng bộ như: lĩnh vực quản lý thuộc Bộ Công thương; lĩnh vực quản lý thuộc Bộ Nông nghệp và Phát triển nông thôn; lĩnh vực quản lý thuộc Bộ Y tế , như vậy đối với nhà đầu tư nước ngoài thủ tục rườm rà hơn khó khăn hơn, chính vì vậy mà đôi khi nhà đầu tư nước ngoài nhờ người đứng tên hộ để đơn giản hóa thủ tục và hưởng những chế độ ưu đải hơn, nhưng đôi khi nhà đầu tư nước ngoài ngại đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống vì sợ gặp rủi ro (nhờ người đứng tên hộ). Đây cũng là một trong những yếu tố gây cản trở cho việc thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này. Ngoài ra, việc xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm được xem như là xin cấp giấy phép con, bởi vì để có thể cấp được giấy phép này thì các cơ sở phải đáp ứng những yêu cầu theo quy định của pháp luật như: – Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm có phần: bản mô tả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện an toàn thực phẩm, bao gồm: bản vẽ sơ đồ mặt bằng của cơ sở; sơ đồ quy trình chế biến, bảo quản, vận chuyển, bày bán thức ăn, đồ uống; bản kê về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ của cơ sở , quy định này chưa phù hợp, bởi vì trong quá trình thức tế đi vào sản xuất chế biến thì mới có thể đánh giá được cơ sở có gọn gàng sạch sẽ hay không, có đảm bảo đúng quy trình hay không, có vệ sinh an toàn không,…Thành phố Hồ Chí Minh, với diện tích đất nhỏ, mật độ dân số cao, chi phí đầu tư cho mặt bằng rất cao, nếu quy định về diện tích cơ sở phục vụ cho số suất ăn là không hợp lý vì nếu doanh nghiệp biết cách sắp xếp, gọn gàng ngăn nắp, biết cách tận dụng tối đa diện tích mặt bằng đang có một cách khoa học hợp lý thì cho dù cơ sở có nhỏ thì cũng có thể cung cấp được nhiều suất ăn vẫn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… Đôi khi, những cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống không trực tiếp làm ra sản phẩm từ A đến Z mà chỉ thực hiện một số công đoạn nhất định (trong điều kiện công nghiệp hóa hiện đại hóa) họ sẽ đặt hàng ở những cơ sở dịch vụ khác và sản phẩm sẽ đưa về cơ sở của mình để gia cố lại và phục vụ… Ví dụ như những cửa hàng “điểm sấm” (hay còn gọi là đem sum: thức ăn vặt của người Hoa trong khu vực quận 5 chúng tôi tất cả những sản phẩm bán ra đều được nhập dưới dạng thành phẩm và mang ra phục vụ khi thực khách yêu cầu,… cơ sở không có khâu nhập nguyên liệu, không có khâu sơ chế và chế biến cho nên cũng không có sơ đồ quy trình chế biến cũng như không có máy móc thiết bị… đối với những cơ sở này, các cơ quan có thẩm quyền sẽ dựa vào đâu để thẩm định cơ sở vật chất có đủ điều kiện an toàn thực phẩm hay không…Như vậy những quy định điều kiện về cơ sở vật chất là chưa hợp lý cần thay đổi, quản lý an toàn thực phẩm là quản lý ngay chính trên sản phẩm phục vụ, không quản lý cơ sở vật chất…Nếu
    20. 45. 41 quá trình thanh tra kiểm tra phát hiện vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm thì đây là quá trình quản lý an toàn thực phẩm chứ không phải là điệu kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống. Về việc hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống theo quy định tại Điều 36 Luật An toàn thực phẩm, trong đó có “danh sách kết quả cấy phân tìm vi khuẩn tả, lỵ trực khuẩn và thương hàn của người trực tiếp chế biến, kinh doanh dịch vụ ăn uống đối với những vùng có dịch bệnh tiêu chảy đang lưu hành theo công bố của Bộ Y tế” Nhưng thực tế thực hiện quá trình này cũng gặp khá nhiều khó khăn, ví dụ như trường hợp xảy ra tại Huyện Bình Chánh của quán caffe “Xin Chào” như sau:
    21. 47. 43 Ngày 8/8/2015 ông Nguyễn Văn Tấn khai trương quán caffe (bán nước giải khát, thức ăn sáng và thức ăn trưa); 19/8/2015 được cấp chứng nhận (GCN) đăng ký kinh doanh hộ cá thể. Ngày 4/9/2015, ông Tấn nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngày 10/9/2015, cơ quan chức năng kiểm tra, xác lập hành vi vi phạm kinh doanh không có giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngày 25/9/2015, công an huyện Bình Chánh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can với ông Tấn về hành vi kinh doanh trái phép… Ngày 29/09/2015 ông đến liên hệ cơ quan cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo giấy hẹn nhưng bị trả lại hồ sơ mà không biết vì sao (không một lời giải thích). – Theo Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh, ngày 04/9/2015, ông Tấn (chủ sơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống) nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc Văn phòng Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh; bộ phận tiếp nhận chuyển hồ sơ cho Phòng Y tế thẩm định; Ngày 10/9/2015, Phòng Y tế phối hợp cùng công an huyện Bình Chánh kiểm tra cơ sở và nhận xét cơ sở chưa đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm nên có vận động ông Tấn chủ cơ sở kinh doanh rút hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm để sửa chữa, hoàn thiện và khắc phục hạn chế, khi nào xong thì nộp lại; sau đó, bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Văn phòng Ủy ban Nhân dân huyện Bình Chánh đã trả hồ sơ lại cho chủ cơ sở kinh doanh; – Nhưng theo phản ảnh của chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, ông Nguyễn Văn Tấn là: Phòng Y tế huyện Bình Chánh thực hiện chưa đúng quy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đăng Ký Ngành Nghề Kinh Doanh Dược Phẩm, Dược Liệu Áp Mã Ngành Nghề Nào
  • Đăng Ký Kinh Doanh Dược Phẩm
  • Điều Kiện Kinh Doanh Dược Phẩm, Bán Buôn Bán Lẻ Thuốc ?
  • Thủ Tục Xin Cấp Giấy Phép Kinh Doanh Dịch Vụ Lữ Hành Quốc Tế
  • Điều Kiện Thành Lập Công Ty Kinh Doanh Dịch Vụ Lữ Hành Nội Địa
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Luận Văn: Điều Kiện Kinh Doanh Dịch Vụ Ăn Uống Theo Pháp Luật trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100