Đề Xuất 1/2023 # Kỹ Năng Cốt Lõi Trong Đọc Hiểu # Top 6 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Kỹ Năng Cốt Lõi Trong Đọc Hiểu # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kỹ Năng Cốt Lõi Trong Đọc Hiểu mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tìm ý chính là gì?

Đó là quá trình người đọc giải mã nghĩa của các từ trong phạm vi câu, nghĩa các câu trong phạm vi đoạn văn và cứ tiếp tục như thế. Khi bắt đầu nắm bắt được các ý chính của văn bản, người đọc hiểu rõ hơn mục đích của các chi tiết trong văn bản và từ đó củng cố thêm nhận thức về những ý chính đã tìm ra.

Chủ đề (topic) của một văn bản là chủ thể – thứ mà văn bản đó đề cập đến.

– Tái chế có mức chi phí tốn kém về ngắn hạn nhưng lại giúp tiết kiệm nhiều tiền về dài hạn.

– Mọi động vật có vú đều giống nhau theo một số cách nhất định.

– Cây cối ở New England là những loài đẹp nhất thế giới.

– Chẳng vui chút nào khi ai đó chế nhạo tên của bạn.

Chủ điểm (theme) là một ý tưởng được lặp đi lặp lại xuyên suốt một văn bản hoặc tập hợp các văn bản.

Ví dụ, “tầm quan trọng của gia đình trong việc định hình cá tính” là một chủ điểm có thể tìm thấy trong văn học.

Ví dụ: “Tất cả động vật có vú đều giống nhau theo một số cách nhất định nào đó. Chúng đều có phổi, tóc hoặc lông và khả năng nuôi dưỡng con non”.

Hai câu này rõ ràng thể hiện mối quan hệ quan trọng: câu đầu tiên chứa ý chính, còn câu thứ hai cung cấp chi tiết để làm rõ ý chính.

Mục đích (purpose) được định nghĩa “là những gì mà tác giả đang cố gắng truyền tải” như thể tác giả không bao giờ đủ khả năng diễn tả những điều mà họ định bày tỏ.

Đọc hiểu được hiểu tốt nhất là việc kết hợp giữa tác giả và người đọc. Tác giả không thể tự mình giao tiếp một cách thích hợp. Họ cần người đọc thấu hiểu họ.

Mục đích của tác giả – hay thậm chí ý chính – không phải lúc nào cũng rõ ràng hay dễ dàng làm sáng tỏ. Một tác giả được kỳ vọng sẽ nỗ lực hết sức để xây dựng văn bản theo cách mà độc giả sẽ hiểu, trừ trường hợp một số thể loại tiểu thuyết kỳ bí nhất định, chúng ta tin tưởng rằng, tác giả sẽ không cố để “chơi xỏ” chúng ta.

Trong thể loại phi hư cấu, một tác giả thông thường sẽ cố gắng trình bày ý tưởng của mình một cách rõ ràng, chính xác. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tiến hành “lọc” ngay cả những thông điệp trực tiếp nhất qua trải nghiệm, tri thức, niềm tin và hiểu biết mang tính cá nhân về nghĩa của một số từ nhất định.

Đọc văn bản hư cấu mang tính chủ quan hơn bởi ý chính hiếm khi được nhấn mạnh một cách rõ ràng và thường được giấu đi một cách có chủ đích.

Tìm ý chính và xác định mối quan hệ giữa ý chính với các ý bổ trợ giúp làm rõ ý chính thực sự là bản chất của việc đọc hiểu. Nếu không thể hiểu tác giả đang cố gắng nói điều gì hoặc tại sao tác giả lại chọn cung cấp cho chúng ta một số chi tiết nhất định, chúng ta chẳng thể hiểu văn bản.

Tìm ý chính và xác định điều gì là quan trọng là những kỹ năng trước hết phải có khi thực hiện tóm tắt văn bản. Tóm tắt đòi hỏi người đọc phải xác định những chi tiết quan trọng và loại bỏ những chi tiết không quan trọng để diễn tả lại ý chính bằng ngôn từ của mình. Tóm tắt đã được chứng minh là phương pháp quan trọng giúp người đọc cải thiện khả năng thấu hiểu ý nghĩa văn bản (Rinehart, Stahl và Erickson, 1986).

Tìm ý chính dạy trẻ phân biệt thông tin quan trọng với những chi tiết kém quan trọng hơn trong văn bản. Khả năng xác định những ý chủ chốt và thông tin nổi bật đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình phát triển hiểu biết sâu sắc (Harvey, 2000).

Làm thế nào để giúp trẻ thực hành Tìm ý chính?

Quá trình tìm ra mối quan hệ giữa ý chính và ý bổ trợ không phải việc bạn có thể dễ dàng dạy cho trẻ trong một buổi sáng. Thay vào đó, việc truy tìm ý nghĩa văn bản nên được chú trọng mỗi ngày, nên được nhắc đến mỗi ngày và thực hành trong mọi văn bản kể từ lúc trẻ có thể bắt đầu hiểu “ý chính” là gì (vào một thời điểm nào đó từ lớp 1) cho tới cấp 3 và hơn thế.

Nói cách khác, trong khi bạn có thể và phải hướng dẫn trẻ phương pháp tìm ý chính trong văn bản (chính là tìm ý được lặp lại nhiều lần) một cách rõ ràng, mạch lạc, những cuộc trò chuyện về ý nghĩa văn bản, những câu hỏi thử thách hơn hướng đến mục đích của tác giả nên là một phần trong toàn bộ quá trình chỉ dẫn của bạn dành cho con.

Thứ hai, quan trọng là phải làm mẫu quá trình xác định tầm quan trọng và chọn ý chính của văn bản. Sử dụng phương pháp nói to ra suy nghĩ của mình để hướng dẫn trẻ khi bạn tìm ý chính, đồng thời chỉ ra các ý bổ trợ giúp làm rõ kết luận của bạn. Trẻ nên hiểu rằng, việc tìm kiếm ý nghĩa văn bản thường là công việc khó khăn, đòi hỏi những nỗ lực trí tuệ đáng kể. Hãy trao cho trẻ các công cụ cần thiết, như các dạng hình ảnh hoá thông tin Graphic Organizers để phân tích văn bản và ghi chép quá trình phân tích đó.

Thứ ba, đôi khi có nhiều hơn 1 câu trả lời chính xác. Suy nghĩ và nhận biết của một đứa trẻ về ý chính của tác giả có thể khác biệt một cách hợp lý và hoàn toàn có thể chấp nhận được như suy nghĩ và nhận biết của những trẻ khác.

Cuối cùng, cũng là quan trọng nhất, bạn hãy làm sao để trẻ sẽ đưa ra được “những tranh luận dựa trên nội dung văn bản” cho những gì trẻ cảm nhận về văn bản đó. Nếu con muốn khẳng định rằng Huck Finn là một nạn nhân bất hạnh, trẻ cần phải chỉ ra được những phần nào trong văn bản giúp trẻ chứng minh điều này.

“Of all the inventions that had an impact on the Chinese culture during Medieval times, the most important was printing. Before there was printing, all books were copied by hand. Books were therefore rare and expensive. The Chinese began printing in the A.D. 500s. They carved characters from an entire page on blocks of wood. They then brushed ink over a wooden page and then laid a piece of paper over the block to make a print. In 1045, a Chinese printer invented printing using moveable type; the books that were made using this process helped spread knowledge throughout China, to a degree that had not been possible before”.

Sau đó, đề nghị trẻ xác định các ý bổ trợ cho ý chính.

Nâng cao kỹ năng Tìm ý chính

Mạng lưới từ (word web/sprider map) là một cách vô cùng hữu hiệu để phân tích ý nghĩa văn bản. Ví dụ, mạng lưới từ các từ khoá trong đoạn văn trên sẽ có dạng như sau:

(Ảnh: Pinterest)

(Ảnh: Pinterest)

(Ảnh: K12Reader)

(Ảnh: Pinterest)

(Ảnh: Recess)

Một số mẫu Graphic Organizer dùng trong thực hành Tìm ý chính (Ảnh: The Friendly Teacher)

Sử dụng Tìm ý chính khi nào?

Đọc

Viết

Toán

Đề nghị trẻ chọn một phần/chương trong cuốn sách giáo khoa toán và đọc đoạn hướng dẫn cho phần/chương đó, ghi lại ý chính và ý bổ trợ trong một sơ đồ thông tin (Graphic Organizer). Nếu bạn có một nhóm trẻ, đề nghị trẻ sử dụng các Graphic Organizer vừa tạo để giới thiệu phần/chương đó cho những trẻ còn lại.

Nghiên cứu xã hội học

Khoa học

Giao cho trẻ một đoạn văn trong cuốn sách về khoa học. Đề nghị trẻ xác định ý chính và ý bổ trợ của đoạn văn sau đó ghi ý bổ trợ dưới dạng mạng lưới từ, để trống phần ý chính. Tạo cặp cho trẻ rồi yêu cầu trẻ trao đổi phần mình vừa tạo ra. Mỗi trẻ sẽ có nhiệm vụ điền ý chính vào ô còn trống cho bạn mình, dựa trên các ý bổ trợ.

Kỹ Năng Đọc Hiểu Được Sử Dụng Thường Xuyên

Kỹ năng tóm tắt là gì?

Các văn bản hư cấu và phi hư cấu, phương tiện truyền thông, các cuộc đối thoại, cuộc họp và sự kiện đều có thể được tóm tắt.

Ví dụ: Để tóm tắt bộ phim “Memento”, bạn có thể khẳng định: Bộ phim là dòng hồi ức ngược thì gian của một người đàn ông đang cố gắng truy tìm kẻ đã giết hại vợ mình nhưng lại bị mất trí nhớ ngắn hạn. Ông theo dấu sự việc bằng cách chụp ảnh và tự xăm các thông tin quan trọng lên người.

Tóm tắt cho phép cả trẻ và cha mẹ (học sinh và giáo viên) giám sát việc đọc hiểu tài liệu.

Tóm tắt giúp trẻ hiểu cấu trúc tổ chức của bài học hoặc văn bản.

Kỹ năng tóm tắt là kỹ năng đọc hiểu mà phần lớn người trưởng thành đều thành thạo nếu muốn thành công.

Tóm tắt và xem xét hợp nhất và củng cố việc học những ý chính. Những thành tố cấu trúc này không chỉ hỗ trợ việc ghi nhớ thông tin mà còn cho phép lĩnh hội thông tin dưới dạng một thể thống nhất dựa trên mối quan hệ giữa các phần. (J.E. Brophy và T. L. Good, 1986).

Tổng hợp các nghiên cứu về kỹ năng Tóm tắt, Rosenshine và đồng nghiệp phát hiện ra rằng, các phương pháp nhấn mạnh khía cạnh phân tích của Tóm tắt có tác động mạnh mẽ tới việc học sinh có khả năng tóm tắt tốt đến đâu (1996).

Làm thế nào để thực hành kỹ năng Tóm tắt?

Giới thiệu kỹ năng Tóm tắt cho trẻ bằng cách chỉ ra rằng, trên thực tế, trẻ vẫn tóm tắt bằng miệng mỗi ngày.

Làm mẫu một phần tóm tắt bằng miệng khi tóm tắt thứ gì đó bạn đã xem trên tivi hoặc một cuộc đối thoại giữa bạn với người khác. Chỉ ra rằng, tóm tắt không bao gồm các ý kiến cá nhân. Ví dụ:

Tối hôm qua, Việt Nam đã giành chiến thắng trước Thái Lan trong trận chung kết Tiger Cup diễn ra trên sân vận động Mỹ Đình. Đội tuyển Việt Nam thắng với tỷ số 2-0. Công Phượng là người ghi cả 2 bàn thắng cho tuyển Việt Nam.

Giải thích cho trẻ cách bạn quyết định sẽ nhớ và kể lại điều gì trong phần tóm tắt này.

Để giới thiệu các cách khác nhau trong tóm tắt văn bản hư cấu và phi hư cấu, xem xét lại các khác nhau cơ bản giữa hai thể loại này.

Để giúp trẻ tóm tắt văn bản hư cấu, giới thiệu với trẻ bản đồ câu chuyện (story map) hoặc công cụ hình ảnh hoá văn bản (Graphic Organizer).

Đề nghị trẻ điền các thông tin về một văn bản hư cấu mà trẻ vừa đọc hoặc tóm tắt một chương trong cuốn sách mà trẻ yêu thích.

Trẻ cũng có thể tóm tắt phần lời trong một bài hát/bài thơ yêu thích.

Với trẻ nhỏ hơn, đọc to một câu chuyện rồi đề nghị cả nhóm trẻ cùng điền vào bản đồ câu chuyện.

Khi trẻ đã hoàn tất bản đồ câu chuyện, đề nghị trẻ dùng bản đồ đó để tóm tắt bằng miệng văn bản hư cấu.

Sau đó, để trẻ sử dụng bản đồ câu chuyện, viết một đoạn tóm tắt văn bản. Đảm bảo rằng phần tóm tắt của trẻ có đề cập tới các nhân vật chính mâu thuẫn và cách giải quyết mâu thuẫn.

Trẻ cần thực hiện các bước sau:

Loại bỏ những tư liệu thừa hoặc không cần thiết

Tìm ý chính trong văn bản

Sử dụng thay thế những thuật ngữ chung khi thích hợp (ví dụ, “cây” thay cho cây phong, cây thông…)

Minh hoạ cách sử dụng những bước trên để tóm tắt một bài báo chứa thông tin hoặc một văn bản phi hư cấu.

Để trẻ sử dụng các bước tóm tắt thứ gì đó trẻ đọc được trên một tờ báo địa phương hoặc một cuốn tạp chí, một phần của cuốn sách hướng dẫn quy định trong trường, một đoạn ngắn trong sách giáo khoa.

Với trẻ nhỏ, đề nghị trẻ làm việc theo nhóm để tóm tắt một bản tiểu sử hoặc bất cứ tài liệu thực tế nào mà bạn có.

Bắt đầu bằng việc đọc lướt văn bản để nắm được ý chính của văn bản (văn bản nói về điều gì?).

Khoanh những câu không cần thiết hoặc câu thừa để giúp trẻ nhận ra thông tin nào có ý nghĩa then chốt trong việc truyền tải thông điệp của văn bản.

Đánh dấu các từ và cụm từ khoá, vạch ra các ghi chú về ý chính của văn bản. Hướng dẫn trẻ tìm kiếm các từ tín hiệu như Do đó (Therefore), Tóm lại (In conclusion/ In summary).

Để trẻ tóm tắt bằng miệng văn bản phi hư cấu cho một trẻ khác.

Sau đó, để trẻ đọc lại văn bản và viết một đoạn tóm tắt. Trong bản toám tắt này, trẻ phải chỉ ra được ý chính của văn bản ngay trong câu đầu tiên và bổ sung thông tin quan trọng nhất. Đảm bảo rằng trẻ không đưa ra bất cứ ý kiến nào của mình hoặc câu chuyển thẳng từ văn bản gốc sang.

(Ảnh: Wiki How)

Làm thế nào để gợi mở suy nghĩ của trẻ?

Chuyện gì đã xảy ra?

Kết quả là gì?

Thông tin quan trọng nào nên có mặt trong phần tóm tắt?

Ai đó đọc được phần tóm tắt này của mình có thực sự hiểu các ý chính trong văn bản không?

Một số trẻ có thể nhầm lẫn giữa tóm tắt và diễn giải lại văn bản. Giải thích cho trẻ rằng:

Tóm tắt giống với diễn giải lại văn bản bởi cả hai phương pháp này đều yêu cầu trẻ phải tìm ra được ý chính của câu chuyện hoặc bài báo và diễn đạt ý chính đó bằng ngôn từ của mình.

Tuy nhiên, khác biệt chủ yếu giữa tóm tắt với diễn giải văn bản nằm ở chỗ: Tóm tắt thường kể lại một bài báo hoặc câu chuyện trọn vẹn. Còn diễn giải lại văn bản tập trung vào các thông tin cụ thể nằm trong một bài báo hoặc câu chuyện.

Ví dụ: bạn có thể đề nghị trẻ diễn giải lại một đoạn trong một chương của sách giáo khoa và tóm tắt lại toàn bộ chương đó.

(Ảnh: RILINK Schools)

Sử dụng kỹ năng Tóm tắt khi nào?

Đọc/Học tiếng Anh

Đề nghị trẻ tóm tắt các câu chuyện, 1 chương trong cuốn tiểu thuyết, 1 hồi trong vở kịch, 1 bài thơ hoặc 1 câu chuyện ngắn.

Đề nghị trẻ tóm tắt cuộc đời của tác giả hoặc một văn bản khoa học giả tưởng hoặc giả tưởng mang tính lịch sử.

Viết

Đề nghị trẻ dùng bản đồ câu chuyện (story map) để tóm tắt một tác phẩm hư cấu hoặc phi hưu cấu trong một đoạn ngắn.

Đề nghị trẻ viết một đoạn tóm tắt phong cách viết mà tác giả trẻ yêu thích đã sử dụng.

Toán học

Đề nghị trẻ tóm tắt một định lý quan trọng trong môn hình học như định lý Pitago, công thức phương trình bậc hai…

Đề nghị trẻ tóm tắt cuộc đời của một nhà toán học nổi tiếng như Pitago.

Các môn nghiên cứu xã hội

Tóm tắt các sự kiện dẫn tới một sự kiện lịch sử như cuộc Nội chiến.

Đề nghị trẻ tóm tắt cuộc đời của một nhân vật lịch sử quan trọng như Martin Luther King hay Abigail Adams.

Khoa học

Đề nghị trẻ tóm tắt quá trình quang hợp, một thí nghiệm khoa học mới đây hay cuộc đời của một nhà khoa học quan trọng như Marie Curie, Thomas Edison…

Kỹ Năng Đọc Hiểu Văn Bản Trong Bài Thi Môn Văn, Phổ Thông Trung Học

Trong cấu trúc đề thi môn Ngữ văn, tốt nghiệp Phổ thông trung học (PTTH), theo quy định, câu hỏi gồm 2 phần. Phần I, Đọc hiểu văn bản (3 điểm). Phần II, Làm văn, gồm 2 câu: viết bài nghị luận xã hội (2 điểm), và viết bài bài nghị luận văn học (5 điểm). Bài viết này chỉ xin phép được tập trung phân tích kĩ năng làm bài thi Đọc hiểu văn bản (ĐHVB).

1. Thế nào là “văn bản” và “Đọc hiểu văn bản”?

2. Nhận diện những yếu tố quan trọng của một văn bản đọc hiểu

Tuy nhiên, cũng có những nhan đề, nội dung chính của văn bản có thể ẩn phía sau câu chữ, ví dụ như Rừng xà nu, là viết về thế hệ những người cách mạng của làng Xô Man, Tây Nguyên; Chiếc thuyền ngoài xa, nhưng ngay cạnh đó lại là Chiếc thuyền ở gần, tức là vấn đề nhận thức của tác giả khi tiếp cận với hai tình huống đặc biệt đó. Trong trường hợp này, để hiểu chính xác, đầy đủ hơn một văn bản, ngoài nhan đề, người đọc cần phải vận dụng một số tiêu chí khác nữa, như từ khóa, câu mở đầu, kết thúc và đặc biệt là phần thân đoạn của văn bản. Nhưng trước hết và trên tất cả, người đọc phải có được sự nhanh nhẹn, quyết đoán, phải hiểu được những quy tắc cấu tạo của một văn bản nói chung, văn bản văn chương nói riêng. Đó chính là một phần quan trọng đánh giá năng lực ĐHVB của người viết.

Cụ thể, về từ khóa, thông thường trong một văn bản dù dài ngắn thế nào, cũng có thể chứa đựng một (hoặc một số) từ khóa. Có thể hiểu từ khóa là từ trọng tâm, chứa đựng nội dung chính, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong đoạn văn bản. Hiện nay trong các văn bản được in trên báo điện tử, chúng ta thường bắt gặp, tác giả (hoặc người biên tập) thống kê các từ khóa tiêu biểu ở phía cuối, giúp người đọc lĩnh hội bao quát nội dung bài viết. Nắm được từ khóa, người đọc sẽ dễ dàng hiểu được nội dung cơ bản của đoạn văn/thơ mà tác giả muốn đề cập. Nhận diện từ khóa trong một văn bản văn xuôi thường dễ hơn văn bản thơ. Ví dụ: một văn bản rất ngắn như câu tục ngữ: “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, đoạn văn bản chỉ gồm 6 từ, nhưng có tới 3 từ khóa gồm chớp đông, gà gáy, mưa. Từ khóa của đoạn văn bản Thú vui của việc đọc sách, chính là thú vui, đi bộ, đọc sách. Xác định đầy đủ, chính xác từ khóa trong một văn bản bao giờ cũng giúp ta lĩnh hội dễ dàng và nhanh chóng đầy đủ nội dung và nghệ thuật của đoạn văn bản đó.

3. Các công cụ cơ bản cần biết để trả lời câu hỏi Đọc hiểu văn bản

Cuối cùng để trả lời các câu hỏi nội dung đề thi đọc hiểu văn bản, học sinh cần phải nắm được những kiến thức gì? Công cụ nào cần được trang bị để đi vào khám phá, giải mã tốt nhất câu hỏi ĐHVB? Xin được giải đáp một cách ngắn gọn như sau:

Thứ hai, để phân biệt văn bản theo chức năng ngôn ngữ, có thể thống kê được 6 loại phong cách ngôn ngữ như sau: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ báo chí, phong cách ngôn ngữ chính luận và phong cách ngon ngữ khoa học. Nhận diện các loại phong cách ngôn ngữ này, học sinh cần hết sức tinh ý. Chẳng hạn, một đoạn văn bản viết về Thơ mới Việt Nam của nhà phê bình Hoài Thanh (trong Ngữ văn lớp 11), là khoa học, chứ không phải nghệ thuật. Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc phong cách chính luận, trong ít đó chứa đựng ít nhiều mang phong cách nghệ thuật. Một truyện ngắn in trên báo chí, thì đích thị mang phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, chứ không phải báo chí. Một vài đoạn ngắn trong Vợ nhặt của Kim Lân, hay Chí Phèo của Nam Cao, cũng có đôi chút phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, nhưng chủ chủ yếu vẫn là nghệ thuật. Phong cách của một văn bản thường có sự trùng hợp với giọng điệu, nên để trả lời chính xác loại câu hỏi này, học sinh phải nắm chắc kiến thức trên.

Để rèn luyện kĩ năng tốt nhất làm một bài thi ĐHVB, còn cần những phân tích, lý giải, dẫn chứng đầy đủ và chi tiết hơn. Tuy nhiên, trong phạm vi một bài viết ngắn gọn này, có thể tạm coi những công cụ trên là cơ bản. Chỉ cần hiểu rõ và có khả năng vận dụng, các em hoàn toàn có thể đạt được kết quả kì thi tốt nghiệp trung học tới đây, với riêng môn Ngữ văn.

Nguồn Văn nghệ số 23/2020

Bài 2: Nội Dung Cốt Lõi Của Luật An Ninh Mạng

Nâng cao nhận thức về Luật An ninh mạng

Luật An ninh mạng gồm 7 chương, 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng; triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã dành 1 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật như: Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.

Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong chương này.

Hiện nay, dữ liệu của nước ta trên không gian mạng đã và đang bị sử dụng tràn lan với mục đích lợi nhuận mà Nhà nước chưa có đủ hành lang pháp lý để quản lý, thậm chí là bị sử dụng vào các âm mưu chính trị hoặc vi phạm pháp luật. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định doanh nghiệp trong nước và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ có giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ. Chương V của Luật An ninh mạng quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng…

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đồng bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kỹ Năng Cốt Lõi Trong Đọc Hiểu trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!