Đề Xuất 1/2023 # Kiến Thức Chi Tiết: Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du) # Top 9 Like | Athena4me.com

Đề Xuất 1/2023 # Kiến Thức Chi Tiết: Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du) # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kiến Thức Chi Tiết: Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du) mới nhất trên website Athena4me.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kiến thức chi tiết: Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)

I. Tìm hiểu chung:

1. Tác giả: (Xem SGK)

2. Tác phẩm:

– Vị trí của đoạn trích: Văn bản từ câu 2213 đến câu 2230 trong Truyện Kiều.

– Nội dung: Thúy Kiều bị bán vào lầu xanh lần thứ hai, được Từ Hải chuộc về làm vợ, sống với nhau rất hạnh phúc nhưng Từ Hải muốn có sự nghiệp lớn nên chàng đã từ biệt Kiều ra đi lập công danh.

II. Đọc – hiểu văn bản:

1. Khát vọng lên đường của nhân vật Từ Hải (Bốn câu thơ đầu)

Nửa năm hương lửa đương nồng,  Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương Trông vời trời bể mênh mang,  Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong

– Những hình ảnh chỉ không gian to rộng, khoáng đạt “bốn phương”, “trời bể mênh mang” → gợi liên tưởng đến không gian vũ trụ, cho thấy khát khao được vẫy vùng, tung hoành bốn phương của Từ Hải.

– Khát vọng lên đường được thể hiện qua hành động nhanh chóng, quyết đoán, hiên ngang, tự tin và mạnh mẽ: “thoắt đã động lòng bốn phương”, “lên đường thẳng rong”, “dứt áo ra đi”

2. Lí tưởng anh hùng của Từ Hải (phần còn lại):

Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng  Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.  Từ rằng: “Tâm phúc tương tri  Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?  Bao giờ mười vạn tinh binh,  Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.  Làm cho rõ mặt phi thường Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia Bằng nay bốn bể không nhà,  Theo càng thêm bận biết là đi đâu?  Đành lòng chờ đó ít lâu,  Chầy chăng là một năm sau vội gì!”.

Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

– Không quyến luyến, bịn rịn, không vì tình yêu mà quên đi lí tưởng cao cả: Thúy Kiều mong muốn cùng Từ hải vào sinh ra tử nơi chiến địa, ngỏ lời xin theo. Từ Hải dứt khoát không nghe.  Chí khí anh hùng thể hiện rõ qua lời nói với Thúy Kiều. Chàng không quyến luyến, bịn rịn theo kiểu “nữ nhi thường tình”. Từ Hải không vì tình yêu mà quên đi lí tưởng cao cả.

– Trách Kiều là người tri kỉ mà không hiểu mình, khuyên Kiều vượt lên trên tình cảm thông thường để sánh với anh hùng. Từ Hải trách Thúy Kiều là tri kỉ mà không hiểu mình:

Từ rằng: “tâm phúc tương tri” Sao chưa dứt khoát khỏi nữ nhi thương tình”

– Từ Hải động viên Thúy Kiều hãy vượt qua thói “nữ nhi thương tình” để xứng đáng là vợ của một đấng anh hùng.

– Từ Hải hứa hẹn với Thúy Kiều về một sự nghiệp vẻ vang, một tương lai thành công rực rỡ. Từ khẳng định quyết tâm, tự tin vào thành công. . Ngôn ngữ tráng lệ: “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường”, “rõ mặt phi thường”, “bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia” .

– Đó là lời ước hẹn ngắn gọn, dứt khoát, chắc nịch, chất chứa ước mơ về sự nghiệp vẻ vang của người anh hùng. Từ cũng khẳng định quyết tâm, tự tin vào thành công tất yếu qua thời gian ngắn “chầy chăng là một năm sau vội gì!”.

– Hành động Từ Hải vô cùng dứt khoát, không nấn ná, dây dưa. Quyết lời là làm ngay. Thoáng một cái đã ở ngoài xa trường. Đó không phải là một quyết định vội vàng mà là kết quả của những suy tư lâu dài. Người anh hùng hết sức tin tưởng vào khả năng tất thắng của bản thân.

Quyết lời dứt áo ra đi,  Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.

Nhận xét: Tác giả thể hiện sư tôn trọng, kính trọng và cảm mến sâu sắc đối với nhân vật Từ Hải qua lớp từ ngữ có sắc thái tôn xưng “trượng phu”, “lòng bốn phương”, “mặt phi thường”. Cách dùng hình tượng “chim bằng” để nói về Từ Hải.

→ Từ Hải là một hình tượng nhân vật lí tưởng, thể hiện ước mơ đầy lãng mạn của Nguyễn Du về một người anh hùng có những phẩm chất phi thường.

3. Nghệ thuật

– Nghệ thuật miêu tả đặc sắc; ngôn từ tráng lệ – Hình tượng có tính ước lệ – Cảm hứng vũ trụ kì vĩ, phi thường→ người anh hùng Từ Hải mang tầm vóc vũ trụ.

⇒ Khuynh hướng lí tưởng hóa người anh hùng bằng bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ; trong đó, hai phương diện ước lệ và cảm hứng vũ trụ gắn bó chặt chẽ với nhau.

– Người anh hùng Từ Hải là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du về phương diện cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật miêu tả.

 4. Ý nghĩa văn bản

Lí tưởng của người anh hùng Từ Hải và ước mơ công lí của Nguyễn Du.

III. Luyện tập:

– Hãy nêu vị trí của văn bản “chí khí anh hùng”. – Hãy cho biết thái độ, tình cảm của Nguyễn Du đối với nhân vật Từ Hải. – Từ Hải bộc lộ lí tưởng anh hùng của mình qua lời nói với Thúy Kiều như thế nào? – Hãy cho biết khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản “chí khí anh hùng”. – Cảm nhận của em về lí tưởng anh hùng của Từ Hải qua đoạn thơ sau:

Từ rằng: “Tâm phúc tương tri  Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?  Bao giờ mười vạn tinh binh,  Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.  Làm cho rõ mặt phi thường Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia Bằng nay bốn bể không nhà,  Theo càng thêm bận biết là đi đâu?  Đành lòng chờ đó ít lâu,  Chầy chăng là một năm sau vội gì!”.

Văn Mẫu Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Văn mẫu Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Phân tích đoạn trích “Chí khí anh hùng” trích Truyện Kiều của Nguyễn Du. Bài làm Truyện Kiều không chỉ xuất sắc về ngôn ngữ nghệ thuật mà còn về nội dung ý nghĩa độc đáo,sâu sắc.Nguyễn Du đã phản ánh một hiện thực xã hội bất công ,tàn bạo chà đạp nên quyền sống của con người biệt là những người phụ nữ.Điều ấy khiến Truyện Kiều thấm đượm tinh thần nhân đạo.Và khi đưa Tù Hải-người anh hùng đầu đội trời,chân đạp đất vào như một nét sáng tạo trong cốt truyện Nguyễn Du đac thể hiện giấc mơ về một xã hội công bằng tự do.Vẻ đẹp, phẩm chất anh hùng hiên ngang của Từ Hải được thể hiện rõ qua đoạn trích “Chí khí anh hùng”. Sau khi bị rơi vào lầu xanh lần hai,cuộc đời Thúy Kiều tưởng như bế tắc hoàn toàn .Giữa lúc nỗi buồn đang dâng nên cao trào thì Từ Hải đột nhiên xuất hiện .Từ Hải tìm đến với Thúy Kiều như tìm đến với tri âm ,tri kỉ.Trong vũng lầy nhơ nhớp của chốn lầu xanh ,Từ Hải đã tinh tương nhận ra phẩm chất cao quý của Thúy Kiều với con mắt tinh đời.Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên Kiều đã thầm khẳng định Từ Hải là người duy nhất có thể tát cạn bể oan tình cho mình.Sau cuộc gặp gỡ đặc biệt ,Kiều và Hải đã tìm thây sự hòa hợp về tâm hồn của nhau .Hai khoảng trống về tâm hồn đã được lấp đầy, san sẻ cho nhau bằng tình yêu.Sự tương xứng ấy đã tạo nên một kết thúc có hậu: Trai anh hùng gái thuyền quyên Phi nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng. Cuộc sống đôi lứa vừa mới chớm nở được “nửa năm” thì Từ Hải ra đi thực hiện nghiệp lớn: Nửa năm hương khói đương nồng Trượng phu thoát đã động lòng bốn phương Trông vời trời bể mênh mang Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong. Mặc dù trong thời gian sáu tháng ,tình yêu của họ luôn mặn nồng ,hạnh phúc “nửa năm hương khói đương nồng”nhưng tâm chí Từ Hải luôn suy nghĩ đến việc lớn lao,khát khao lập công danh nghiệp lớn .Vì thế Từ Hải “thoát đã động lòng bốn phương” là hợp lý. “Lòng bốn phương” ở đây là hình ảnh ước lệ tượng trưng cho chí nguyện lập công danh ,sự nghiệp của Từ Hải tạo nên tầm vóc lớn lao phi thường cho người chàng.Có thể nói tình yêu hay bất cứ một thứ gì khác cũng không ngăn nổi bước chân của chàng.Trong 3254 câu Kiều ,Nguyễn Du chỉ dành duy nhất một từ “trượng phu” cho Từ Hải để khẳng định sự trân trọng,kính phục của ông đối với Từ Hải.Nguyễn Du xây dựng hình ảnh Từ Hải song song,sánh ngang với hình ảnh trời đất.Nhắc đến Từ Hải là thấy hình ảnh cao rộng của trời đất vũ trụ .Những từ láy,từ biểu cảm chỉ độ rộng ,độ cao càng khắc họa rõ hơn tư thế của Từ Hải. Cái nhìn của chàng không phải là cái nhìn bình thường mà là “trông vời”-cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi thường.Hình ảnh “thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”diễn tả phong thái ung dung ,hiên ngang không vướng bận của người anh hùng trên đường ra đi gây dựng sự nghiệp. Đối với Thúy Kiều ,Từ Hải không chỉ như một người chồng mà còn như một vị ân nhân ,một tri âm tri kỉ .Vì vậy ,trước quyết tâm ra đi thực hiện nghiệp lớn của chồng mình ,Thúy Kiều đã xin đi theo để chăm sóc ,nâng khăn sửa túi cho chàng: Nàng rằng : Phận gái chữ tòng Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi. Kiều biết Từ Hải ra đi trong cảnh “bốn bể không nhà” nhưng vẫn nguyện đi theo.Chữ “tòng” không chỉ đơn giản như trong sách vở của Nho giáo rằng phận nữ nhi phải “xuất giá tòng phu” mà còn bao hàm ý thức chia sẻ nhiệm vụ ,đồng lòng tiếp sức cho Từ khi gặp khó khăn trong cuộc sống. Trước lời xin đi theo của Kiều , Từ Hải như khiển trách : Từ rằng : Tâm phúc tương tri Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình. Từ Hải nói rằng Kiều chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình vừa là lời khiển trách vừa mong Kiều cứng cỏi hơn vừa là lời dặn dò và niềm tin Từ Hải gửi gắm nơi Thúy Kiều.Đã là “tâm phúc tương tri” thì Kiều phải hiểu ,động viên ,chia sẻ ,là chỗ dựa tinh thần vững chắc , từ đó vượt qua sự bịn rịn của nữ nhi thường tình để Hải có thể yên tâm lên đường ra đi thực hiên nghiệp lớn .Để rồi một ngày nào đó Từ Hải trong sự nghiệp vẻ vang đón Kiều về nhà chồng trong danh dự: Bao giờ mười vạn tinh binh Tiếng chiêng dậy đất ,bóng râm rợp đường Làm cho rõ mặt phi thường Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia Qua lời hứa với Thúy Kiều , ta thấy được lý tưởng lớn lao của Từ Hải.Nguyễn Du đã sự dụng một loạt các từ ngũ thuộc phảm trù không gian như “mười vạn tinh binh”, “tiếng chiêng dậy đất “…gợi nên khát vọng lớn lao ,mang tầm vóc vũ trụ của người anh hùng.Khát vọng ” làm cho rõ mặt phi thường ” chính là khát vọng xây dựng một sự nghiệp ,công danh lẫy lừng ,xuất chúng,hơn người.Thành công ấy sx chính là sính lễ để Từ Hải rước người tri kỉ “nghi gia”.Những lời nói của Từ Hải vào khoảnh khắc tiễn biệt này càng làm rõ chí khí anh hùng của nhân vật này ,thay vì những lời nói thể hiện sự bịn rịn ,quyên luyến khi chia tay thì là những ước mơ ,sự khẳng định nhất định sẽ thành công của chàng. Từ Hải còn thể hiện chí khí anh hùng của mình ở việc cho rằng Thúy Kiều đi theo sẽ “càng thêm bận” nhưng sâu thẳm bên trong là sự lo lắng cho Kiều khi đi theo sẽ phải chịu khổ cực ,nay đây mai đó : Bằng nay bốn bể không nhà Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu Chầy chăng là một năm sau vội gì! Không chút vấn vương, bi lụy, không dùng dằng, quyến luyến như trong các cuộc chia tay bình thường khác, Từ Hải có cách chia tay mang đậm dấu ấn anh hùng của riêng mình. Lời chia tay mà cũng là lời hứa chắc như đinh đóng cột; là niềm tin sắt đá vào chiến thắng trong một tương lai rất gần. Hai câu thơ cuối đoạn đã khẳng định thêm quyết tâm ấy: Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi. Nguyễn Du mượn hình ảnh phim bằng (đại bàng) trong văn chương cổ điển, thường tượng trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, muốn làm nên sự nghiệp lớn lao để chỉ Từ Hải. Cuộc ra đi đột ngột, không báo trước, thái độ dứt khoát lúc chia tay, niềm tin vào thắng lợi… tất cả đều bộc lộ chí khí anh hùng của Từ Hải. Đã đến lúc chim bằng tung cánh bay lên cùng gió mây chín ngàn dặm trên cao.Hình ảnh: gió mây bằng đã đến kì dặm khai là mượn ý của Trang Tử tả chim bằng khi cất cánh lên thì như đám mây ngang trời và mỗi bay thì chín vạn dậm mới nghỉ, đối lập với những con chim nhỏ chỉ nhảy nhót trên cành cây đã diễn tả những giây phút ngáy ngất say men chiến thắng cùa con người phi thường lúc rời khỏi nơi tiễn biệt. Nguyễn Du đã thành công trong việc chọn lựa từ ngữ, hình ảnh và biện pháp miêu tả có khuynh hướng lí tưởng hóa để biến Từ Hải thành một hình tượng phi thường với những nét tính cách đẹp đẽ, sinh động.Từ Hải hiện nên như một vị anh hùng đầy phóng khoáng ,dứt khoát ,nhanh nhẹn và oai nghiêm,có lý tưởng công danh lớn,rạch ròi giữa lý tưởng và tình cảm. Đoạn trích tuy ngắn nhưng ý nghĩa lại rất lớn. Nó góp phần tô đậm tính cách của người anh hùng Từ Hải – nhân vật lí tưởng, mẫu người đẹp nhất trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào qua đó cho thấy giấc mơ về một xã hội tự do,công bằng của Nguyễn Du.

(Văn 10) Tiết 79, 80 Đoạn Trích: Chí Khí Anh Hùng (Trích: Truyện Kiều)

Nắm được đặc trưng nghệ thuật trong việc tả nhân vật anh hùng của Nguyễn Du.

– Từ câu 2213 đến câu 2230 trong “Truyện Kiều”(Đây là đoạn NguyễN Du sáng tạo ra)

-Đoạn trích thể hiện chí khí anh hùng của Từ Hải qua lí tưởng và lời chia tay với Thúy Kiều.

– Bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai, Kiều gặp Từ Hải , hai người tâm đầu ý hợp. Từ đã bỏ tiền chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh. “Nửa năm hương lửa đương nồng”, Từ Hải nghe theo tiếng gọi của sự nghiệp, chàng dứt áo ra đi

II- Đọc hiểu văn bản

* Bố cục : 3 phần

– 4 câu đầu: Hoàn cảnh chia tay

– 12 câu tiếp : Cuộc đối thoại giữa Kiều và Từ Hải

– 2 câu kết : Từ Hải dứt dứt áo ra đi

– Tính cách:

+ Chí khí

+ Hoài bảo

+ Mục đích sống cao cả

+ Không bằng lòng với cuộc sống bằng phẳng

+ Mơ ước được vẫy vùng

+ Không thích sống một cuộc sống tầm thường

Từ Hải không phải con người đam mê mà là con người sống có lí tưởng, lí tưởng của Từ Hải là được tự do, vẫy vùng giữa trời cao đất rộng không chịu một sự trói buộc nào. Từ Hải vố là con người.

Mặc dù Từ Hải cũng là con người đa tình khi gặp Kiều: “Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa”.

Một con người có chí khí phi thường

+ Không đắm chìm trong chốn bường khuê

+ Sông hạnh phúc ngọt ngào, phút chốc Từ Hải đã “động lòng bốn phương”

+ Tiếng gọi của sự nghiệp thức tỉnh bên trong, đối với chàng giờ đây sự nghiệp là trên hết.

+ Chàng không một chút bịn rịn trong lời tiễn biệt. Đặc biệt chàng còn trách Thúy Kiều: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”. Phải chăng chàng muốn khuyên người tri kỉ hãy vượt lên tình cảm thông thường để làm vợ một anh hùng.

Từ Hải còn là một con người rất tự tin

+ Mới ra đi, Từ đã khẳng định:

Chàng tự tin vào mình, không quá một năm sau sẽ thực hiện được cơ đồ to lớn. Đó là khát vọng. Chàng không hề giấu giếm: “Bao giờ …. nghi gia”

Trong “Truyện Kiều” . Từ Hải đã làm được điều đó.

– Tư thế ra đi mạnh mẽ, dứt khoát

– Diễn tả bằng hình ảnh ước lệ tượng trưng: như con chim bằng đã đến giờ tung cánh trở về với bể mênh mang.

Con chim bằng khi đã cất cánh thì như đám mây ngang trời.

Tất cả thể hiện cách miêu tả theo khuynh hướng lí tưởng hóa Từ Hải của Nguyễn Du

III.Ghi nhớ” SGK

* Từ Hải thể hiện mạnh mẽ ước mơ âm ỉ trong cảnh đời tù túng của xã hội cũ. Từ ra đi đe thỏa chí vẫy vùng song cũng là để đạp bằng mọi bất công

* Khuynh hướng lí tưởng hóa nhân vật

– Thể hiện qua từ ngữ.

+ Hai tiếng trượng phu không để chỉ người đàn ông bình thường mà chỉ những người có chí khí lớn.

+ Thoắt đã động lòng chỉ quyết định dứt khoắt, mạnh mẽ.

+ Động lòng bốn phương. Cu Hoài Thanh có lời bình rất hay: “Không phải là người một nhà, một xóm, một làng mà là người của trời đất, của bốn phương”.

– Thể hiện qua hình ảnh

+ “Trời bể mênh mang” thể hiện cái nhìn của chí khí lớn lao. Con người ấy hướng tới, vẫy vùng nơi trời cao đất rộng, không chịu trói mình trong cuộc sống tù túng chật hẹp.

– “Dứt áo ra đi” : không chút bịn rịn, chủ động lắm

+ “Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” : con chim bằng khi đã cất cánh thì như đám mây ngang trời.

Tất cả thể hiện cách miêu tả theo khuyng hướng lí tưởng hóa Từ Hải của Nguyễn Du

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du)

CHÍ KHÍ ANH HÙNG ( Trích “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du) Mục tiêu cần đạt: Giúp HS: Hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải. Thấy được nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích. Phương pháp: Đọc hiểu tích cực Phát vấn Đàm thoại gợi mở Phương tiện: SGK, SGV, giáo án Trọng tâm bài học: Lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du gửi gắm qua nhân vật Từ Hải Nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích nói riêng và thi pháp tả anh hùng trong văn học trung đại nói chung. Tiến trình lên lớp: Ổn định tổ chức. Bài mới. GV dẫn: Trong ®êi KiÒu cã nhiÒu cuéc chia tay, chia tay ®ét ngét víi Kim Träng khi mèi t×nh ®Çu chím hÐ; chia tay Thóc Sinh trong t©m tr¹ng c« ®¬n, ®Çy dù c¶m kh«ng lµnh. Trong ®o¹n trÝch nµy t¸c gi¶ t¸i hiÖn c¶nh KiÒu chia tay Tõ H¶i ®Ó chµng ra ®i thùc hiÖn nghiÖp lín. Nh­ng t¹i sao ta l¹i ®Æt tªn cho ®o¹n trÝch nµy lµ “ChÝ khÝ anh hïng” mµ kh«ng ph¶i “Tõ H¶i chia tay Thuý KiÒu”? §ã lµ v× ®o¹n trÝch nµy kh«ng tËp trung kh¾c ho¹ c¶nh chia tay mµ muèn kh¾c ho¹ Tõ H¶i ë vÎ ®Ñp, tÇm vãc vµ quyÕt t©m ®¹t ®Õn kh¸t väng. Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt HĐ1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu chung về đoạn trích. – GV hỏi: Em hãy tóm tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn? – HS suy nghĩ, trả lời – GV nhận xét, chốt HĐ2: Hướng dẫn đọc hiểu khái quát – GV gọi 1 HS đọc diễn cảm VB, 1 HS khác nhận xét cách đọc. – HS đọc, nhận xét – GV nhận xét cách đọc, hướng HS đến cách đọc đúng cho đoạn trích: giọng đọc chậm rãi, hào hùng thể hiện sự khâm phục, ngợi ca. – GV lưu ý HS phần chú giải từ khó chân trang113. – Hỏi: Em hãy cho biết trong đoạn trích trên có lời của những ai? GV hỏi: Theo em nên chia đoạn trích này thành mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần? HS trả lời GV gọi HS bổ sung GV chốt HĐ3. Hướng dẫn đọc hiểu chi tiết GV yêu cầu 1 HS đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu. Gv hỏi: Em hãy cho biết Từ Hải ra đi trong hoàn cảnh nào? HS suy nghĩ, trả lời GV bình: Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng chính là lúc cuộc sống lứa đôi với Thúy Kiều mới đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc. Đó là cuộc sống của “Trai anh hùng, gái thuyền quyên Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”. Thúy Kiều là tri kỉ của anh hùng, Từ Hải là tri kỉ của giai nhân, họ đã nhận ra nhau ngay từ buổi đầu gặp gỡ “ Cười rằng “ Tri kỉ trước sau mấy người”. Thế nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm nhưng chật hẹp, tù túng mà luôn khao khát giấc mộng anh hùng nên đã dứt áo ra đi. – GV hỏi: Hình ảnh Từ Hải được hiện lên qua những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nào trong 4 câu thơ trên? – HS phát hiện chi tiết – GV nhận xét và yêu cầu HS trình bày cách hiểu về các chi tiết, hình ảnh đã tìm ra. GV bình cụm “lòng bốn phương”:Bốn phương ở đây là đông, tây, nam, bắc có nghĩa là thiên hạ thế giới. Theo Kinh lễ, xưa sinh con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng gọi tắt là tang bồng, bắn ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghiệp lớn. Nên khi nói đến lòng bốn phương là nói đến chí tang bồng, chí làm trai của nam tử thời xưa.Ngày xưa chí làm trai là phải “xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên”. Chính Nguyễn Công Trứ cũng từng khẳng định “ Chí làm trai nam bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể. Vốn là một bậc anh hùng cái thế “ đội trời đạp đất” với “ gươm đàn nửa gánh non sông một chèo, Từ Hải làm sao có thể say sưa trong hạnh phúc lứa đôi khi mà chí lớn chưa thành? Chính vì vậy chàng đã quyết chí “lên đường thẳng rong”dứt khoát và mau lẹ chứ hề không bịn rịn, quyến luyến gia đình. GV: Em có nhận xét gì về tâm thế ra đi của Từ Hải? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV bình:Từ Hải ra đi một cách mau lẹ, dứt khoát trong không gian mênh mang cao rộng của trời đất: “Trông vời trời bể mênh mang”Câu thơ miêu tả hành động nhìn ra xa, đồng thời khắc hoạ dáng vẻ phóng khoáng của Từ Hải. Nguyễn Du đã xây dựng hình ảnh Từ Hải song song, sánh ngang với hình ảnh trời đất. Nhắc đến Từ Hải là thấy hình ảnh cao rộng của trời đất, vũ trụ. Những từ láy, từ biểu cảm chỉ độ rộng, độ cao càng khắc hoạ rõ hơn tư thế của Từ Hải. Cái nhìn của chàng không phải là trông hay nhìn bình thường mà là “trông vời” – cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi thường. Từ Hải một mình ra đi thực hiện ý nguyện của mình. Việc xây dựng Từ Hải độc lập một mình không làm chân dung chàng đơn độc mà càng cho thấy sự dũng mãnh của chàng. Hành động được miêu tả đầy sự dứt khoát, nhanh nhẹn. Đã nghĩ là làm, Từ Hải không bao giờ chần chừ, do dự, suy tính lâu. “Thoắt đã động lòng bốn phương” là “lên đường thẳng rong” ngay. GV: Nguyễn Du đã xuất phát từ cảm hứng gì khi miêu tả khi miêu tả người anh hùng? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV: Tóm lại qua bốn câu thơ đầu tác giả cho chúng ta thấy được điều gì ở nhân vật Từ Hải? HS trả lời GV chốt GV gọi HS đọc, cho HS xác định lời của Thúy Kiều và Từ Hải. GV: Trước quyết định ra đi của Từ Hải, Thúy Kiều có thái độ ntn? Thái độ ấy được thể hiện qua những hình ảnh, chi tiết nào? HS trả lời GV nhận xét, chốt ý (GV có bình thêm về chữ “tòng” trong quan niệm của Nho giáo) GV: Qua câu nói này em thấy Kiều là một người vợ ntn? HS trả lời GV chốt ý GV yêu cầu HS đọc toàn bộ những câu lời của TH GV: Trước thái độ của TK như vậy, TH đã trả lời ra sao? HS phát hiện, trả lời. GV nhận xét, chốt GV giải thích cụm “ tâm phúc tương tri”: hai người đã hiểu biết lòng dạ nhau, tức là đã hiểu nhau sâu sắc. GV bình: Trong lời đáp của mình Từ Hải đã từ chối mong muốn của Kiều và khẳng định tình cảm chân thành đối với K, coi nàng là người tri ân, tri kỉ vì trong cuộc hội ngộ ở lầu xanh chính K đã nhìn ra TH bằng con mắt tinh đời của mình: “Khen cho con mắt tinh đời Anh hùng đoán giữa trần ai mới già”. TH khuyên K nên vượt lên thói tầm thường nhi nữ. Lời trách khéo của Từ với Kiều đồng thời cũng là lời khẳng định và nâng vị thế của nàng ( một kĩ nữ lầu xanh” lên ngang tầm với mình ( một vị anh hùng). Đằng sau lời trách ấy là ý chí dứt khoát, kiên quyết,ko bị níu kéo bởi thê nhi của TH. GV: Sau khi từ chối TK, Từ Hải muốn nói gì với nàng qua bốn câu thơ tiếp theo? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV bình: Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian như “ mười vạn tinh binh” với bóng cờ, tiếng chiêng gợi nên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng TH. Khát vọng “ làm cho rõ mặt phi thường” chính là khát vọng xây dựng một sự nghiệp, công danh lừng lẫy, xuất chúng, hơn người. Thành công ấy sẽ là sính lễ để TH rước người tri kỉ. “ Nghi gia” là nghi thức đón người con gái về làm vợ, làm dâu, một nghi thức có nhiều bước chu đáo và trang trọng. Thế là so với lần chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh trước đây thì lời hứa thực hiện những nghi thức trang trọng này chính là món quà và là hành động rửa sạch vết nhơ của đời kĩ nữ cho Kiều. GV: Em có nhận xét gì về TH qua lời hứa với TK? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV : Ngoài lời hứa trở về đón TK, TH còn nói những gì với TK qua 4 câu thơ tiếp. HS trả lời (GV bình qua về lời khẳng định của TH) GV nhận xét, chốt GV bình: Người ta học nghề mất vài ba năm, phải mất hàng chục năm nghề nghiệp mới tinh thông vững vàng. Sự nghiệp lớn muốn hoàn thành có khi phải hiến dâng trọn đời người. TH quyết việc lớn ấy sẽ được thực hiện trong một năm. Phải là một người quyết đoán, tự tin, đầy tài năng mới dám đặt ra một thời hạn như thế cho một sự nghiệp long trời lở đất. GV: Tóm lại, em có nhận xét gì về TH qua đoạn đối thoại với TK? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV: Hai câu thơ cuối cho ta thấy hành động gì của TH? HS trả lời GV nhận xét, chốt ý GV bình: Theo sách xưa kể rằng chim bằng là một giống chim rất lớn, đập cánh làm động nước trong ba ngàn dặm, cưỡi gió mà bay lên chín ngàn dặm. Chim bằng trong thơ văn thường tượng trưng cho khát vọng của người anh hùng có bản lĩnh phi thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn. Đem hình ảnh chim bằng để ẩn dụ cho tư thế ra đi của TH, Nguyễn Du muốn khẳng định TH chính là bậc anh hùng cái thế có tầm vóc phi thường, sánh ngang đất trời, vũ trụ. GV: Theo em Nguyễn Du đã gửi gắm điều gì qua nhân vật TH? HS trả lời GV chốt GV bình: Trong KVK truyện, TH chỉ đơn thuần là một tên tướng cướp từng thi hỏng và đi buôn… Nhưng trong TK, ND đã nhận thức lại nhân vật TH, nhất quán miêu tả nhân vật với một sự cảm phục không che giấu, trao cho nhân vật TH lí tưởng anh hùng của ông. Đó là lí tưởng về một con người có phẩm chất, chí khí phi thường, một khát vọng làm nên sự nghiệp lớn. HĐ4: Hướng dẫn tổng kết bài GV: Em hãy nhận xét giá trị nghệ thuật và nội dung của đoạn trích “ Chí khí anh hùng”? Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên là CKAH? GV chốt lại những ý chính. Tìm hiểu chung Tóm tắt cuộc gặp gỡ giữa Từ Hải và Thúy Kiều Vị trí đoạn trích Câu 2213 – 2230 II. Đọc hiểu khái quát 1.Đọc, chú giải từ khó Lời tác giả Lời Thúy Kiều Lời Từ Hải 2.Bố cục: 3 phần P1: 4 câu thơ đầu→ Cuộc chia tay giữa Từ Hải và Thúy Kiều sau nửa năm chung sống P2: 12 câu thơ tiếp→ Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải – tính cách anh hùng của Từ P3: 2 câu cuối: Hình ảnh Từ Hải dứt áo ra đi. III. Đọc hiểu chi tiết. 4 câu đầu: “Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.” Thúy Kiều và Từ Hải đang có cuộc sống vô cùng hạnh phúc “hương lửa đương nồng” Trượng phu: chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng → Thái độ trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải. Thoắt: dứt khoát, mau lẹ,nhanh chóng. Động lòng bốn phương: trong lòng náo nức chí tung hoành ở bốn phương Lên đường thẳng rong: đi liền một mạch → Một tư thế đẹp, hiên ngang không vướng bận, không lệ bộ của người quân tử sẵn sàng lên đường. → Cảm hứng vũ trụ, con người vũ trụ với kích thước phi thường, không gian bát ngát, ngợi ca, khâm phục. 2. 12 câu tiếp: a. Lời Thúy Kiều: – Xưng hô: Chàng – thiếp: tình cảm vợ chồng mặn nồng, tha thiết. – Phận gái chữ tòng: bổn phận của người vợ phải theo chồng. – Một lòng xin đi: quyết tâm theo Từ Hải → Muốn ra đi để tiếp sức, chia sẻ, gánh vác công việc với chồng b. Lời Từ Hải * Lời đáp: “Từ rằng: “Tâm phúc tương tri Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình” Từ chối mong muốn của Kiều Khuyên Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng làm vợ một người anh hùng. Coi Kiều là người tri kỉ, hiểu mình → Tính cách anh hùng của Từ Hải. * Lời hứa: “Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rỡ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.” – Rõ mặt phi thường: tạo nên sự nghiệp xuất chúng, phi thường→ niềm tin sắt đá vào bản thân, sự nghiệp của mình. – Rước nàng nghi gia: hứa trở về đón Kiều → Người anh hùng có chí khí, sự thống nhất giữa khát vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ. * 4 câu thơ tiếp: “Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu Chầy chăng là một năm sau vội gì!” Bốn bể không nhà: khẳng định thực tế gian nan, vất vả, khó khăn của buổi đầu lập nghiệp. Lời hẹn: “ một năm” : mốc thời gian cụ thể, nhanh chóng → Khẳng định ý chí, bản lĩnh, sự tự tin → Lời hẹn ước ngắn gọn, dứt khoát, tự tin 3. Hai câu cuối “Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi” Hành động : + quyết lời + dứt áo ra đi →thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề do dự, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc và cản bước ý chí người anh hùng Hình ảnh chim bằng : → ẩn dụ tượng trưng về người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ. Thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng của Nguyễn Du ( chân dung kì vĩ, chí khí, tài năng, bản lĩnh phi thường, thực hiện giấc mơ công lí). IV. Tổng kết 1.Nghệ thuật * Bút pháp lí tưởng hóa : – Từ ngữ : trượng phu, thoắt… – Hình ảnh kì vĩ, ước lệ: lòng bốn phương, trời bể… 2.Nội dung Qua hình tượng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du thể hiện quan niệm về người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước mơ công lý. Dặn dò: HS học thuộc lòng đoạn trích, nắm được các nét chính về ND và NT

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kiến Thức Chi Tiết: Phân Tích Đoạn Trích Chí Khí Anh Hùng (Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du) trên website Athena4me.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!